• Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HANG ĐỘNG NÚI LỬA LỚN NHẤT ĐÔNG NAM Á Ở VIỆT NAM

    Lần đầu tiên Việt Nam với sự hỗ trợ của các nhà khoa học Nhật Bản đã phát hiện được hệ thống hang động núi lửa lớn nhất Đông Nam Á với chiều dài 25 km ở tỉnh Đăk Nông. Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu di sản công viên địa chất thuộc tỉnh Đăk Nông từ năm 2007 của nhóm các nhà khoa học thuộc Bảo tàng địa chất Việt Nam (Tổng cục Địa chất và Khoáng sản) và các nhà khoa học Nhật Bản...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

  • Pic Mgmt

    KHOA BẢNG THĂNG LONG - HÀ NỘI...

    ...Đây là cuốn sách quý, môt công trình sưu tầm, chắt lọc và dịch rất công phu của cán bộ nhân viên Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia IV thuộc Cục Văn Thư Lưu Trữ Nhà Nước. Với 530 trang gồm các văn bản gốc chữ Hán kèm bản dịch sang tiếng Việt với 2 phần chính:...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG HANG ĐỘNG "MADE IN VIETNAM" KHÔNG KÉM HANG SƠN ĐOÒNG

    Động Hương Tích, Thạch Động... là những hang động mang trên mình vẻ đẹp kỳ vĩ, không kém hang Sơn Đoòng bao xa. Mới đây, New York Times đăng tải bài viết của tác giả David W.Lloyd ca ngợi vẻ đẹp của hang động Sơn Đoòng. Khi ghé thăm hang Sơn Đoòng, David W.Lloyd đã phải thốt lên rằng, những ngày khám phá Sơn Đoòng là chuỗi thời gian phiêu lưu thú vị nhất trong cuộc đời ông...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT CỔ CỦA NGƯỜI PÀ-THẺN

    ...Trước năm 1960, Giáo sư sử học Lê Trọng Khánh, nguyên giảng viên trường Đại học Tổng hợp đã dày công điền dã, sưu tầm tại một số huyện của hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, nơi có đông người Pà Thẻn sinh sống. Ông đã có những kết luận quan trọng về hệ thống chữ viết cổ của người Pà Thẻn...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần...

  • Pic Mgmt

    VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

    Sự kỳ vĩ của các hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng (Cinet) – Không chỉ là 1 trong số 7 di sản văn hóa và thiên nhiên được thế giới công nhận tại Việt nam. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống hang động tuyệt đẹp với con sông ngầm dài nhất thế giới. Cách thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình khoảng 50 km, Vườn quốc gia Phong Nhà – Kẻ Bàng là một quần thể rừng và núi đá vôi rộng lớn có diện tích khoảng 200.000 ha...

  • Pic Mgmt

    ĐÃ CÓ SÁCH TRUNG QUỐC KHẲNG ĐỊNH… HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM !!!

    ...Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909)...

  • Pic Mgmt

    CON NGƯỜI CÓ TỔ CÓ TÔNG

    Một trong những nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt Nam là tôn thờ, thành kính tổ tiên, từ thờ tổ tiên trong mỗi gia đình, thờ cúng tổ tiên của một dòng họ, thờ cúng ông tổ của một làng xã tại các đình làng, miếu làng,... tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ hàng ngàn đời nay là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”; rồi đến thờ cúng tổ tiên chung của cả dân tộc, đó là các Vua Hùng...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU LỊCH SỬ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM...

    ...Đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á cũng như hành trình và khát vọng vươn ra biển lớn, bộ phim tài liệu Bọt biển và sóng ngầm sẽ chuyển tới khán giả phần nào khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    CHÙA DÂU (BẮC NINH) - NGÔI CHÙA CỔ NHẤT VIỆT NAM

    ...Chùa Dâu còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân hay Cổ Châu, tọa lạc ngay trung tâm của khu di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây là thủ phủ của quận Giao Chỉ (Giao Châu), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta, bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và Lăng mộ Sỹ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, gốm cổ, phố chợ sầm uất của đô thị Luy lâu,...

  • Pic Mgmt

    "VỞ CHÈO" CAO BÁ QUÁT MỪNG ĐẠI LỄ 1000 NĂM THĂNG LONG...

    (HNMO)- Tối nay (25/8), vở chèo "Cao Bá Quát" sẽ chính thức được công diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đây là vở diễn mới nhất sau 4 vở diễn: Oan khuất một thời, Chiếu dời đô, Ngọc Hân Công chúa, Lý Thường Kiệt của Nhà hát Chèo Hà Nội do NSND Doãn Hoàng Giang dàn dựng để chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT, CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay. Có những huyền thoại được sáng tạo ra nhằm thể hiện ước mơ chinh phục như truyền thuyết trăm trứng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, có những huyền thoại để tải câu chuyện hiện tượng tự nhiên, có những huyền thoại để giải thích cứ liệu mờ...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT NGƯỜI LẠC VIỆT Ở QUẢNG TÂY

    ...Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Lí Nhĩ Chân cho biết Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt-tỉnh Quảng Tây phát hiện hơn một nghìn tự phì biểu ý của người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây và cho rằng người Lạc Việt cổ đã sáng tạo chữ viết bốn nghìn năm trước (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Sự phát hiện chữ Lạc Việt kỳ này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, vì văn hóa Lạc Việt là một trong những yếu tố trọng đại ở Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    LÀNG ĐÔNG NGẠC (KẺ VẼ)

    Đông Ngạc nổi tiếng kinh kỳ là một làng ven đô mà nét cổ xưa còn lưu lại trên lối mòn gạch nghiêng in dấu chân gái làng xuất giá, trên bia đá chùa xưa và trong cả nét đẹp tảo tần chăm chỉ trong nếp sống từ ngàn xưa truyền lại. Bất cứ ai từng một lần đi dọc theo các ngõ nhỏ trong làng Đông Ngạc (xã Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội) đều không thể nghĩ rằng, giữa Thủ đô tấp nập lại có một điểm lặng yên bình đến thế!...

Chi tiết

TÓM TẮT NỘI DUNG BẢN GIA PHỔ TỰ

Đăng lúc: 2014-01-24 15:10:29 - Đã xem: 2837

TÓM TẮT GIA PHẢ GIA TỘC CAO ĐẠI TÔN Ở NGHỆ AN

(Bản gia phả này chúng tôi sẽ đưa lên trang web trong thời gian sớm nhất, nếu có thể)

 


Bên trái là Bà Đinh Thị Liên (con dâu dòng họ Cao Bá, hiện ở Vĩnh Phúc).
Bên phải là ông Cao Bá Nghiệp (tp.HCM) cùng về thăm mộ tổ họ Cao
ở Diễn Châu, Nghệ An. Photo: Trần hữu Được.



Ô.Cao Bá Nghiệp (tp.HCM) trong chuyến về thăm mộ tổ họ Cao
ở Diễn Châu, Nghệ An. Photo: Trần hữu Được



Bà Đinh Thị Liên, người con dâu tiêu biểu của dòng họ Cao Bá (gốc Phú Thị), trong chuyến về thăm mộ tổ họ Cao ở Diễn Châu, Nghệ An. Photo: Cao Bá Nghiệp (tp.HCM)



Nhà thờ tổ họ Cao ở Diễn Châu, Nghệ An. Photo: Cao Bá Nghiệp (tp.HCM)




Tóm tắt nguồn gốc họ Cao ở Diễn Thọ, Nghệ An

1.   Cao Lỗ (? - 179 trước Công nguyên) (còn gọi là Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại Than). Ông là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, nguyên quán tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay (xưa gọi là trấn Kinh Bắc). Sau ông định cư tại vùng Nho Lâm, tìm ra quặng mỏ, luyện sắt và trở thành tổ nghề rèn.

    1. Tương truyền, ông là người chế ra nỏ liên châu còn được gọi là nỏ thần (bắn được nhiều mũi tên cùng một lúc). Ông là người khuyên Thục An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô và là người được An Dương Vương giao nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy công trình xây dựng thành Cổ Loa. Ông là người đã can gián vua Thục đừng gả Mỵ Nương cho Trọng Thủy. Vua Thục không nghe, đuổi ông đi. Ông buồn nên đã tìm về Nho Lâm sống ẩn dật và tìm ra mỏ quặng, luyện sắt trở thành tổ nghề rèn. Khi quân của Triệu Đà đến đánh, vua Thục thua bỏ chạy. Cao Lỗ đem quân ra tiếp ứng vua Thục, nhưng đánh không lại, bị quân giặc truy lùng khắp nơi. Có giả thuyết ông đã bị tử trận khi đến cứu vua Thục. Hiện vẫn còn đền thờ tướng quân Cao Lỗ ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.
    2. Ngày 04/9/1995, Bộ trưởng Bộ VHTT Trần Hoàn đã ký QĐ số....cấp bằng di tích LSVH cấp quốc gia cho nhà thờ họ Cao, thờ vị thủy tổ Cao Lỗ tại Diễn Thọ, Nghệ An.

 

Ghi chú:

    • Xã Tùng Thanh (Nho Lâm) xưa thuộc tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, bao gồm cả xã Diễn Lộc và một số thôn của xã Diễn An và Diễn Tân bây giờ gồm: 11 thôn Nội Lũy và 12 giáp ngoại lũy là Thanh Kiều, Hòa Hội, Hòe Thị, Đông Bích, Nhân Thọ, Phương Đình, Tây Viên, Văn Phái, Ngô Cao, Sơn Đầu, Nội Mỹ. Ngoài lũy gồm: Xuân Trang, Nho Hội, Xuân Khánh, Nho Quan, Thương Chế, Mỹ Lý, Yên Hội, Yên Tập, Vĩnh Yên, Hội Xuân, Hội Tố và Cư Kiến (tỉnh Nghệ An). Sau nhiều lần đổi tên từ Tùng Thanh, Tùng Lâm, Hoa Lâm, Nho Lâm - nay gọi là Diễn Thọ thuộc thành phố Nghệ An.
    • Tại nhà thờ tổ Cao Đại Tôn ở Nghệ An hiện còn gần 20 Đạo sắc do các triều đại phong tặng các danh nhân, các câu đối, đồ tế khí cổ kính...Khu lăng mộ tổ họ Cao hiện ở chân núi Mã Yên đã được tu bổ, tôn tạo và xây dựng khang trang từ năm 1995.
    • Tính từ thủy tổ Cao Lỗ (?-179 TCN đến năm 2000 đã trải qua khoảng 2200 năm với 90 đời con cháu, chắt, chút. Các chi họ Cao phát triển thêm nhiều nhánh với hàng vạn nhân khẩu định cư trải dài trên nhiều địa phương khác nhau, kể cả ở Quảng Đông và Quảng Tây (TQ) v.v…Nếu xác định Cao Thiện Trí là người từ quận Bột Hải (Sơn Đông, TQ) phân lưu sang định cư ở đất Tùng Thanh xưa (Nghệ An, Việt Nam). Cao Thiện Trí có vợ tên là Khổng Thị Tám (người Lỗ Quận, thuộc Sơn Đông, Trung Quốc). Thời gian ông bà này sang VN là vào khoảng những năm 1380-1400, lúc đó ở Trung Quốc, nhà Minh đang thôn tình nhà Nguyên, sau đó nhà Minh đưa quân sang Vệt Nam tiêu diệt nhà Hồ (1419). Có thể Cao Thiện Trí (người ở quận Bột Hải) và Khổng Thị Tám (người ở Lỗ quận - thuộc Sơn Đông, Trung Quốc. [Sơn Đông bao gồm 2 nước Tề & Lỗ, là nơi có bờ biển dài trên 3.000km2], Ông bà Non có thể vì lý do nào đó đã phân lưu theo đường biển từ vùng biển xứ Bột Hải đến vùng đất Tùng Thanh, “chiêu cơ” dựng nghiệp và trở thành tổ thứ nhất của dòng họ Cao ở Nghệ An. Tuy nhiên sau 1600 năm, không có căn cứ nào để chúng minh rằng Cao Thiện Trí là hậu duệ thuộc dòng trưởng của tướng quân Cao Lỗ (?-179TCN)?


Tượng đài tướng quân Cao Lỗ trong khu nhà thờ tổ họ Cao ở Nghệ An
.
Photo: Cao Bá Nghiệp



Đền thờ tướng quân Cao Lỗ tại Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.
Photo: Cao Bá Nghiệp sưu tầm

 
  1. Đôi câu đối tại đền thờ THÁNH SƯ NGHỀ RÈN ở xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, Nam Định:

 

    • “Cao Sơn xuất thế tự Nho Lâm – Hộ quốc giáo dân thiên cổ tại.
    • Lô hóa công ân cư Thiên Bản – Văn chương ngọc phố vạn niên tồn

 

  1. Cao Thiện Trí giai sỹ từ quận Bột Hải phân lưu đến dựng nghiệp “chiêu cơ” ở vùng đất Tùng Thanh (sau đổi là Tùng Lâm, Hoa Lâm, Nho Lâm. Nay là Diễn Thọ, Nghệ An) vào cuối đời nhà Trần, khoảng từ năm 1380-1400 [nhà Hồ 1400-1407 sau đó nhà Minh sang xâm lược VN…Trương Phụ, Mộc Thạnh biết là Quí Ly chạy vào Nghệ-An, bèn đem binh đi đường bộ đuổi theo, lại sai Liễu Thăng đem thủy-sư đi đuổi mặt thủy. Quí Ly vào đến cửa Kỳ-la (thuộc huyện Kỳ-anh, Hà-tĩnh) bị quân nhà Minh bắt được. Hồ Hán Thương và những con cháu họ Hồ đều bị giặc bắt được cả ở núi Cao-vọng. Những quan nhà Hồ, người thì ra hàng, người thì bị bắt, người thì không chịu nhục nhảy xuống sông tự-tử. Ông Cao Thiện Trí vốn là dòng trưởng, cháu xa đời của tướng quân Cao Lỗ.

Cao Thiện Trí (vợ là Khổng Thị Tám) tục gọi là ông bà Non. 2 ông bà sinh được 04 trai và 04 gái, gồm:

a/- 04 trai là:

+ Ông Cao Thị (con trưởng)

+ Ông Cao Ma Lâm (con thứ)

+ Ông Cao Đức (con thứ ba), lập nghiệp ở Ước Lễ, Hưng Thái, Hưng Nguyên, tương truyền ông Đức 02 con trai là Cao Thông và Cao Tôn.

+ Cao Đạo (con thứ tư). Ông Cao Đạo sinh ra Cao Nhân Đôn và một người con cả nữa đang thất truyền, rất có thể đó là Cao Hoành Hải (1), tổ phụ thứ nhất của dòng họ Cao Bá Quát ở Phú Thị, Gia lâm, Hà Nội.

b/- 04 gái là:

+ Cao Thị Tứ

+ Cao Thị Khánh

+ Cao Thị Hiền

      + Cao Thị Đình

 

  1. Cao Như Nhật đỗ Phó Bảng khoa Đinh Mão (1627), là ông nội của Cao Bá Tuyên và Cao Bá Khối, hai anh em đỗ Xuân thí Tam trường, khoa Ất Hợi (1695). Cao Bá Tuyên không ra làm quan, từ 1721-1730, ông ở nhà viết gia phả đầu tiên cho dòng họ Cao ở Nghệ An. Bá Khối làm quan: nội điện văn chức.
  2. Cao Như Song, Cao Như Tĩnh trong gia phả ghi là khoảng năm 1750, hai ông đi lập nghiệp ở Hải Dương, Hưng Yên.
  3. Khi Nguyễn Công Trứ đi làm tổng đốc ở Thái Bình, con cháu họ Cao theo ông đi khá nhiều và lập nghiệp ở Kiến Xương, Vũ Thư, Hưng Hà…
  4. Tiên Du, Bắc Ninh, ông tổ họ Cao vốn từ Vũ Thư Thái Bình đến, vì nghèo đói và là dân ngụ cư nên hào lý không cho ở trong làng, phải ở ngoài bãi, ông trồng chuối rất nhiều nên đặt tên là xóm Chuối, làng Chuối, nay con cháu rất thành đạt. Tên thôn là Văn Trung, xã Tân Chi, huyện Tiên du, Bắc Ninh. Xã Tự Tân-Vũ Thư là quê hương của cựu thống đốc ngân hàng Cao Sĩ Kiêm.
  5. Mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên.

9. Ở làng Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc có một chi họ Cao rất đông thờ ông Cao Đạo, nhưng chưa có dịp đến thăm.

10.  Cao Đình Độ (Giáp Dần 1744 – Canh Ngọ 1810) cùng con là cao Đình Hương (Quý Tỵ 1733 – Tân Tỵ 1821) lập nên nghề kim hoàn, được mời vào làm việc trong hoàng cung, được ban mũ áo và phong tiến sĩ, lịch sử ghi ông là tổ nghề kim hoàn (làng Kế Môn). [xem bài nói về tổ nghề kim hoàn].

 11.  Cao Cử từng làm giám sát ngự sử quan dười triều vua Lê Thần Tông (1646).

 12.  Cao Phúc Trọng là con trai thứ hai Cao Thủy, em của Cao Phúc Tâm và anh Cao Đạo An, lập nghiệp ở Quỳnh Lưu.

 13.  Cao Đăng Cồn Cả (Nghĩa Thuận, Nghĩa Đàn là từ trung tôn Cao Đăng lên đó lập nghiệp).

 14.  Thủy tổ Cao Văn ở Châu Bình vốn di cư từ Diễn Châu lên lập nghiệp, khi tìm vế nơi cũ thì người anh giàu có không muốn nhận, nên vế sau cũng không trở lại.

 15.  Gia phả kể lại: 3 anh em họ Cao từ tổng Phúc Hoàn lên lập nghiệp ở 3 nơi là Lam Sơn, Lĩnh Sơn và Minh Thành, song gia phả những nơi này không nói tới. Theo ông Cao Tiến Cương thì trong 3 người này có 1 người lập nghiệp ở Quảng Xương, Thanh Hóa và là em ông Cao Tiến Bút.

 16.  Các sắc phong do đã góp công đại phá quân Thanh; thời Quang Trung Nguyễn Huệ, thời Minh Mệnh…và đại tự vẫn còn ở nhà thờ họ Cao Bạch Ngọc (chi họ này có 50 % đỗ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, phó GS).

 17.   Làng Phú Trung nay thuộc Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An là nơi có nguồn gốc xuất xứ của một số chi họ Cao ở Thanh Chương, Nghệ An.

 18.  Cao Như Cương thuộc trung tôn Cao Trọng, về sau con cháu có người lập nghiệp ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

 19.  Vùng đất lập nghiệp của họ Cao ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh gần kề với gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền, như Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ.

 20.   Huyện Minh Hóa và Hưng Hóa (Quảng Bình) là 2 nơi có nhiều họ Cao, nhưng chưa có dịp tìm hiểu.

 21.  Ở Mỹ có rất nhiều con cháu họ Cao (Con cháu chi họ Cao Xuân Dục). Hội đồng gia tộc bầu bổ xung TS Cao Hoàng Hậu để liên lạc vời kiều bào ở Mỹ và Châu Âu.

 22.  Hai cha con ông Cao Trọng Dương và Cao Hoàng Quán đều đậu Hương Cống và làm quan ở các tỉnh Phú Yên, Quảng Ngãi (năm Vĩnh Khánh 1729 được phong chức Tri Phú Quảng Ngãi), Khánh Hòa vào thời vua Lê Hiển Tông (1721 và 1737).

 23.  Cao Quýnh đậu thám hoa triều Lê, năm Hồng Đức thứ 6 (1475) là một trong số ít người biên soạn bộ luật Hồng Đức.

 24.  Ở xã Diễn Hoa có nhiều chi họ Cao, nhưng chưa chắp nối được, còn gia phả Cao Đại Tôn thì ghi rõ: Cao Đạo là con trai thứ tư của Cao Thiện Trí, ông  Cao Đạo sinh ra Cao Nhân Đôn và một người con cả nữa đang thất truyền, rất có thể đó là Cao Hoành Hải tổ phụ chi họ Cao Bá Quát ở Phú Thị, Gia lâm, Hà Nội.

 25.  Cao Cự Hòa là con trai cụ Cao Cự Hán, có công dẹp giặc cướp, được vua ban sắc TRUNG ÚY KIM THỌ HẦU và PHẤN LỰC TƯỚNG CÔNG.

 26.   Ngày giỗ Cao Đại Tôn là mồng 10 tháng 2 (đã có từ trăm năm nay).

 27.  Năm 1995 đền thờ Cao Lỗ được cấp bằng DTLSVH. Chính quyền địa phương và HĐGT đã tổ chức lễ nhận bằng vào ngày 29/9, đã có hàng ngàn con cháu và quý đại biểu về tham dự.

 

Thống kê các giai đoạn viết gia phả, gia phổ, thế phổ của họ Cao ở Nghệ An:

 

    • Năm Canh Tuất 1730, niên hiệu Lê Vĩnh Khánh thứ 2, cháu xa đời Nho sinh trung thức Xuân thí Tam trường, Lý tẩu Cao Bá Tuyên viết tựa GIA PHỔ HỌ CAO. (Cao Bá Tuyên & Cao Bá Khối là 2 anh em cùng đỗ Sinh Đồ năm 1717. Cao Bá Tuyên đỗ Hương Cống năm Kỷ Mão 1723, trúng Tam trường Phó Bảng năm Đinh Mùi 1727. Ông Cao Bá Tuyên biên tập gia phổ họ Cao từ 1721-1730.
    • Năm Quý Tỵ 1833, niên hiệu Minh Mệnh thứ 14, cháu xa đời là Tú Tài Hoẳng Phố Cao Trọng Cự viết tựa TÂN SAN CAO TRỌNG CHI PHỔ.
    • Năm Thiệu Trị thứ 5, cháu xa đời, cử nhân Tri huyện Hoành Bồ là Tiềm thử Cao Đăng Ngoạn viết CAO ĐĂNG CHI TỰA PHỔ KÝ.
    • Năm Bảo Đại thứ 11, Bính Tý 1936, cháu xa đời là Cao Như Phụ phụng biên viết TỰA GIA PHỔ CHI HỌ CAO NHƯ.

TỰA PHỔ KÝ CHI HỌ CAO TIẾN.

    • Tự Đức năm thứ 22, các cháu xa đời họ Cao Văn là: Cao Văn Tháo, Cao Văn Trinh, Cao Văn Huỳnh, Cao Văn Tĩnh, Cao Văn Mỹ, Cao Văn Tụ cùng nhau viết TỰA PHỔ KÝ CHI HỌ CAO VĂN.

  

Ghi chú:

Cao Bá Nghiệp (Tp.HCM) tổng hợp thông tin từ bản GIA PHỔ TỰ (gồm 199 Trang) do ông Cao Đức Thành cung cấp. Ông Thành hiện là Phó Chủ Tịch Hội Đồng Gia Tộc Cao Đại Tôn ở Nghệ An. Địa chỉ liên lạc của ông Cao Đức Thành: xóm 6 Tây, Diễn Thọ, Diễn Châu, Nghệ An. Điện thoại: 0383 867 063 / 0973 879 158

 

Bài và ảnh: Cao Bá Nghiệp


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp