• Pic Mgmt

    NƯỚC XÍCH THẦN VÀ NƯỚC XÍCH QUỶ

    Nhờ sự phát triển rực rỡ của nền nông nghiệp dưới thời đại Thần Nông Đế Viêm*, xã hội Miêu, Viêm mà về sau gọi là Bách Việt đã có những phát triển vô cùng khởi sắc trên nhiều lãnh vực. Cư dân nông nghiệp sinh tụ đông đảo, đời sống an lạc, sung túc… Thời gian này tương ứng với giai đoạn giữa của thời kỳ văn hóa Bắc Sơn kể từ 7.000 đến 1.000 năm trước Công nguyên)...

  • Pic Mgmt

    GS-TS-VS VÕ SƯ NGÔ XUÂN BÍNH

    Khởi nguồn cho sức mạnh nội lực chính là võ thuật. Ông quan niệm, học võ không phải để thắng người, mà là để chiến thắng chính mình. Bằng cách đó, ông đã chiến thắng sức ỳ nội tại, vươn lên chiếm lĩnh các đỉnh cao vinh quang trong đời một con người...

  • Pic Mgmt

    QUÂN CẢNG CAM RANH

    Ít người nhớ rằng, cách đây tròn 10 năm, ngày 4/5/2002, những người lính Nga cuối cùng đã bước chân lên tàu Xakhalin từ biệt căn cứ Cam Ranh sau gần 1/4 thế kỷ có mặt tại nơi này. Cam Ranh đã được gửi lại cho Việt Nam, như một căn cứ nền tảng để trở nên hùng mạnh. Và dường như cho đến tận bây giờ, phần đông trong số chúng ta không thực sự biết gì nhiều về căn cứ ấy...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần...

  • Pic Mgmt

    TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

    Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    GIAI THOẠI VỀ NGÔI MỘ PHÁT TÍCH CỦA NHÀ TRẦN

    Vùng đất phát tích nhà Trần thuộc lưu vực sông Phổ Đà (tức sông Luộc) và nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay). Tương truyền lúc bấy giờ, hai dòng họ nổi tiếng nhất sinh sống ở đây là họ Lý và họ Tô. Họ Trần mãi sau này mơi đến định cư và kết giao được với họ Tô thông qua đám cưới giữa Trần Lý với người con gái họ Tô...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ HỌ LÊ (VIỆT NAM)

    Dòng họ Lê ở Việt Nam có nguồn gốc từ đất Thanh Hoá, Ninh Bình. Đây là một dòng tộc lớn, hai lần lập ra triều đại vương quyền ở Việt Nam. Triều Lê và Hậu Lê đã làm vua 399 năm và đã có nhiều công lớn trong công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước: Hoàng đế Lê Hoàn lãnh đạo quân dân chống quân Tống xâm lược; anh hùng Lê Lợi tổ chức nghĩa quân đánh đuổi quân Minh; vua Lê Thánh Tông bình Chiêm trừ hậu hoạn và phát triển đất nước trên nhiều mặt: sản xuất, văn hoá, chính trị...

  • Pic Mgmt

    TỪ PHÚC GIANG THƯ VIỆN ĐẾN CÁC THƯ VIỆN TƯ NHÂN Ở XỨ NGHỆ

    Nhân dân xứ Nghệ có truyền thống quý báu là hiếu học, trọng thầy, đậu đạt khoa bảng. Trên tinh thần đó mà người dân ở đây cũng rất yêu quý sách, có nhiều người đam mê sưu tầm sách và lập các thư viện để phục vụ cho nho sinh, con cháu học tập nâng cao kiến thức trong các gia đình, dòng họ. Qua lịch sử sách và thư viện nước ta nói chung, xứ Nghệ nói riêng thì Phúc Giang Thư viện của dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (nay là xã Trường Lộc, Can Lộc) do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh sáng lập là tiêu biểu nhất...

  • Pic Mgmt

    45 TẤM BẢN ĐỒ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ 10 (Phần 2)

    Tiếp tục với bộ sưu tập bản đồ Việt Nam qua các giai đoạn từ thế kỷ 10, ở phần 1 - tôi đã chia sẻ đến bản đồ năm 1400, sau đây mời các bạn xem tiếp...

  • Pic Mgmt

    BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ TÌM MỘ THƯỢNG TƯỚNG QUÂN TRIỀU TRẦN - HÀ MẠI (1334-1410)

    Xin Hội nghị cho phép tôi được thay mặt những thành viên tham gia chương trình tìm mộ Tướng quân Hà Mại được trình bày bản báo cáo khoa học của đề tài khoa học “Tìm mộ Thượng tướng quân triều Trần Hà Mại” như sau:

  • Pic Mgmt

    TIẾT LỘ BẤT NGỜ VỀ GIA PHẢ DÒNG HỌ KHỔNG TỬ

    Khổng Tử là một triết gia, nhà chính trị, nhà giáo dục và là người sáng lập ra đạo Nho ở Trung Quốc. Ông sinh cách đây hơn 2.500 năm, tới nay hậu duệ của ông chẳng những ở Trung Quốc, Đài Loan mà còn rải khắp thế giới. Hiện dòng họ Khổng vẫn giữ được gia phả, vừa qua được ghi vào “Kỉ lục Guiness” là “Cuốn gia phả dài nhất thế giới”...

  • Pic Mgmt

    TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ ĐẾN THĂM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

    Sáng thứ tư, ngày 10 tháng 4 năm 2013, ông Võ Ngọc An-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Thực hành Gia phả (TTNC & THGP) và ông Cao Bá Nghiệp-Nhà nghiên cứu Cao tộc đã đến thăm và làm việc tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, thành phố Hồ Chí Minh...

  • Pic Mgmt

    ĐẠI HỘI HỌ ĐỖ (ĐẬU) VIỆT NAM LẦN THỨ 17

    Trong 2 ngày (8 và 9/ 3/2014) tại Văn La, Hà Đông, Hà Nội, Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam đã tổ chức Đại hội lần thứ 17. Hơn 1.000 con cháu họ Đỗ (Đậu) trên cả nước đã tới tham dự. Đại hội đã vinh dự được lẵng hoa chúc mừng của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, và cũng là một người con trong dòng tộc họ Đỗ...

  • Pic Mgmt

    "THẦN DƯỢC" CHỮA BỆNH SỞI NGAY TRONG VƯỜN NHÀ

    Nếu thấy trán trẻ âm ấm lại có mụn lờ mờ ở dưới da, da mắt, da trán, dái tai hơi man mát thì đó là dấu hiệu sắp mọc sởi. Sởi thường xuất hiện nhiều vào cuối năm cũ, đầu năm mới. Không chỉ gây các biến chứng như kiết lỵ ra máu mũi, tiêu chảy kéo dài, viêm phổi, sởi còn có thể là nguyên nhân gây còi xương, suy dinh dưỡng, thậm chí tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi nếu không được điều trị đúng...

  • Pic Mgmt

    MỘT TÀI NĂNG LỚN CỦA VĂN HÓA VIỆT ĐÃ RA ĐI

    Nhà ngữ học Cao Xuân Hạo (ảnh) là con cả cụ Cao Xuân Huy, nhà Hán học và nghiên cứu triết học nổi tiếng. Cụ Huy là con trai Phó bảng Cao Xuân Tiếu; chánh chủ khảo các kỳ thi Hương cuối thế kỷ 19 và cụ Tiếu là con trai cụ Cao Xuân Dục, Thượng thư bộ Học, nhà nghiên cứu triết học (tác phẩm “Nhân thế tu tri” và các tác phẩm khác). Cụ Cao Xuân Huy và cụ Cao Xuân Dục đều được đặt tên đường tại TP Hồ Chí Minh; cụ Huy được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh...

Chi tiết

DÒNG HỌ CAO HỮU Ở ĐIỀN HẢI, PHONG ĐIỀN, THỪA THIÊN-HUẾ

Đăng lúc: 2014-09-26 09:31:19 - Đã xem: 2886

CAO BÁ NGHIỆP: Anh Cao Hữu Điền đang nghỉ dưỡng bệnh ở Huế có gửi thư trao đổi với tôi về thông tin của chi họ Cao Hữu (xã Điện hải, huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế). Tôi được biết, ở Phong Điền có một số chi họ Cao như Cao Chánh, Cao Hữu, Cao Văn, Cao Huy... nhưng đều có nguồn gốc xuất xứ từ Thanh Hóa. Nhân đây, tôi xin trân trọng giới thiệu nội dung bài viết rất đáng chú ý dưới đây của ông Cao Hữu Nhu để bà con cô bác cùng tham khảo và kết nối thông tin VỀ NGUỒN GỐC HỌ CAO, nếu có thể. Xin cám ơn anh Cao Hữu Điền, người đã đưa chúng tôi về thăm tổ đình chi họ Cao ở Điện Hải, Phong Điền.


Quê hương và dòng họ Cao Hữu
(ở Điền Hải, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế)

Cha tôi đã đọc và giảng cho tôi biết: Căn cứ vào đôi câu đối ở Từ đường họ Cao và đôi câu đối ở chi Cao Hữu chúng tôi ở xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, mấy câu đối ấy như sau: 

Đôi câu đối ở Từ đường họ Cao:

                  Ngũ bách tiên niên, canh khẩn, công thùy thôi xướng thủ.
                                   Thập bát thế hậu linh phù sinh tặng biểu khai tiên.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

                  Năm trăm năm trước đây, Tổ tiên ta đã khai phá ra giải đất này
                         Mười tám thế hệ sau này phải ghi nhớ công lao to lớn ấy. 

Và đôi câu đối ở nhà thờ nhánh Cao Hữu:

Tích Quảng Điền nhi kim Phong Điền phụ miện ký cần, tử khôn khiết trước bất tận.
Tiền Tam Giang nhi hậu đại hải nguyên lưu thậm viễn, tổ tông công đức vô nhai.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

Trước là Quảng Điền, nay gọi Phong Điền công lao khai thác thật rất công phu, con cháu được hưởng không bao giờ hết. Trước mặt là phá Tam Giang, sau lưng là biển lớn, nguồn gốc sâu xa, công đức Tổ tiên thật không có bến bờ.

Rồi cha tôi nói với tôi: “Đến đời con là đời thứ 19 đó”. Sinh ra ở quê cha đất Tổ ngày rằm tháng chạp năm Giáp Tý (1924), không rõ ngày dương lịch. Mới được 3 tháng, cha mẹ tôi đã đưa tôi ra Thanh Hóa vì cả đại gia đình tôi sống và làm việc ở Thanh Hóa, vì thế Thanh Hóa là quê hương của đại gia đình tôi, quê hương thứ hai mà lại là quê hương vĩnh viễn. Mãi đến năm 1942, tôi thi đỗ vào ban tú tài trường Khải Định – Huế  học tập tôi mới có dịp để về quê cha đất Tổ họ Cao vài lần, còn các em tôi thì mãi gần đây mới có một vài em được về thăm đất Tổ, mặc dầu còn nhiều em khác đã vào Nam, có em đã hy sinh nằm lại trong đó, có em đã làm tròn nhiệm vụ được trở về quê cũ Thanh Hóa nhưng vẫn chưa đến Tổ họ Cao của mình ở bên bờ phá Tam Giang.

Nhân đây tôi muốn nói rõ một điều: Có rất nhiều họ Cao trong nước và ngay cả trong một tỉnh. Có những họ Cao nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Họ Cao chúng tôi không có ai là danh nhân, lương y, danh tướng. Ngay ở Huế cũng có mấy họ Cao nổi tiếng hơn họ Cao chúng tôi. Từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075) thủ khoa đầu tiên là Lê Văn Thịnh triều Lý Nhân Tông đến khoa thi Hán học cuối cùng năm 1919, họ Cao chúng tôi không ai đỗ Đại học cả (Từ Phó bảng đến Trạng Nguyên). Cao nhất cũng chỉ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Về thang bậc học ngày nay cũng vậy, cao nhất cũng chỉ đỗ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Điều đó cũng dễ hiểu vì họ Cao chúng tôi đại đa số là dân cày cuốc hoặc dân chài lưới trên mặt biển Đông nhưng gần bờ, đều là dân lao động, rất ít người được đi học.

Thời tôi còn ở Huế (1942-1945) về thăm quê tôi thấy Mộ Tổ được xây bằng gạch đã rêu phong đặt trên một đụn cát cao, còn từ đường họ Cao là một ngôi nhà ngói cổ kính xây gần đó.

Ngày nay, nhờ có lớp con cháu đi học hay lao động ở nước ngoài góp sức lại, kẻ có của người có công, xây lại Mộ Tổ và nhà từ đường họ Cao to, cao, đẹp hẳn lên, chứng tỏ sự phồn thịnh của lớp con cháu sau này.

Cả con đường từ thành phố Huế về quê hương Điền Hải cũng đã thay đổi: Xưa kia phải đi bằng đường thủy. Khách đi đò từ quê về thành phố Huế để mua bán từ sáng sớm, đến chiều phải tìm đò làng neo ở cầu Gia Hội để về: 

Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông.

Đò chèo đến đồn Mang Cá qua Bao Vinh, là tiếng hò bắt đầu vang lên véo von, không chỉ nhà đò mà khách đi đò, các thiếu nữ vừa chèo vừa hò, bởi không thể lao động mà không hò hát. Tiếng hò lan trên mặt sông Hương và xa xa có tiếng hò đáp lại thật là kỳ thú: 

Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Luông,
Đến đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.

Anh thanh niên Thanh Hóa là tôi lúc đó rất mê những đêm hò hát trên sông Hương thời đó. Nhưng tiếng hò chợt im bặt mà lại có lời cầu xin Trời Phật cho được trời yên biển lặng, đó là lúc thuyền đi ngang qua cửa biển Thuận An, sóng lớn đập vào mạn thuyền, không còn ai hò hát. Qua khỏi cửa Thuận An thuyền lại xuôi dòng, tiếng hò lại tiếp tục. Đó là những đêm trăng tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, qua cửa Thuận An thuyền gặp sóng to gió lớn phải neo lại gọi là “Cầm động” thường là 1 tuần hay 10 ngày. Chờ đến lúc trời yên biển lặng thuyền mới lại tiếp tục cuộc hành trình. Tôi bao giờ cũng về làng vào tháng 5, khi đã kết thúc năm học nên không bao giờ bị “Cầm động”.

Qua cửa biển Thuận An rồi, thuyền lại tiếp tục cuộc hành trình, khách đi đò thấy trên bờ có bụi tre đôi, rồi bụi tre một đó là chợ Đò, khách sắp bước lên bờ, thu gọn hành lý. Mấy cô ngồi gần tôi chỉ cho tôi biết một cô ở gần chú thím tôi, bảo tôi cứ đi theo cô ấy là đến nhà. Đêm đã khuya, hàng xóm đã ngủ yên, nhưng tôi đã viết thư là sẽ về vào ngày nào nên cả nhà vẫn còn thức để chờ tôi. Tôi cám ơn cô bạn dẫn đường rồi bước vào nhà chú thím tôi, sau này tôi đã quen đường không còn phải nhờ ai chỉ đường nữa. Về làng tôi vẫn đội cái mũ cối của bộ đội ta, bà con tôi và dân làng vốn sống trong chế độ của Pháp, rồi Mỹ, đến nay bộ đội ta đã đuổi sạch lính Pháp, lính Mỹ về nước chúng rồi, nhưng các ông già bà già vẫn còn lo sợ, vì thế bước vào nhà nào tôi cũng phải nói ngay: “Cháu là Cao Hữu Nhu đây, cháu đến thăm ông bà đây”, và phải giấu ngay cái mũ cối bộ đội. Gặp một người nào mặc áo lương hoặc áo thâm, đội khăn đóng, đi dày hạ là tôi phải chào ngay, biết người này đang đi đến đám cưới hay đám tang nào đây.

Trở lại việc đi về làng, tôi đã quen đường nên không phải nhờ ai nữa. Cách về làng ngày càng đơn giản hơn. Người ta gắn máy nổ vào thân đò, thế là vắng tiếng hò hát trên sông nhưng lại được về làng sớm. Đến nay lại có đường ô tô bắc qua những đoạn hẹp cửa phá Tam Giang, con đường từ thành phố Huế về làng lại được rút ngắn và an toàn hơn nữa, không còn phải lo giông bão.

Sự hình thành ra quê tôi

Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông sang nước Chiêm Thành xem phong cảnh có hứa gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người sang đưa vàng bạc, châu báu, các sản vật và xin cưới. Triều thần và dân trăm họ vô cùng xao xuyến. Chế Mân đã già và có nhiều vợ, công chúa Huyền Trân hoảng hốt, vật vã thảm thiết, phần thì lo đi làm vợ vua Chiêm ở xứ lạ quê người, phần thì đau đớn phải xa người yêu là Trần Khắc Chung, một vị tướng trẻ của nước Đại Việt. Chế Mân lại xin dâng 2 châu Ô, Lý làm sính vật. Châu Ô sau này đổi tên thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hóa. Từ đó quần thần và trăm họ mới hiểu được thâm ý của nhà vua và cảm phục sự hy sinh của công chúa Huyền Trân và ca ngợi bà. Hai châu Ô – Lý ngày nay được gọi bằng một tên chung là Thuận Hóa.

Chẳng bao lâu Chế Mân mất, theo tục lệ Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân phải bị hỏa thiêu nhưng vua Trần đã cho tướng Trần Khắc Chung đưa thuyền nhẹ đến cướp công chúa Huyền Trân về. Thuyền của quân Chiêm lớn, nặng nề đuổi theo không kịp phải quay trở lại.

Đó là nguồn gốc của điệu ca Huế Nam Bình, Nam Ai nổi tiếng ra đời xuất phát từ cuộc ra đi và trở về của bà Huyền Trân, đến nay vẫn còn lưu truyền rất thấm thía:

Dặn một lời Mân quân
Nay chuyện đà như nguyện
Đặng vài phân
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
Đắng cay muôn phần

 Về giải đất Bình Trị Thiên xa xưa đã có câu ca dao:

Thương anh em cũng muốn vô
Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Nhưng lại có câu ca dao đáp lại:

 Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

 Tất cả các sự việc đều diễn ra đúng như thế. Gọi là Tam Giang bởi do hai con sông Bồ, sông Ô Lâu cùng đổ vào sông Hương làm cho lòng sông mở rộng ra, gây nên sóng lớn. Trên phá Tam Giang có chỗ gọi là Bào Ngược Cứ (Tại hai xã Vĩnh Xương và Kế Môn, tiếp giáp về phía Nam là xã Điền Hải, quê nội và quê ngoại của tôi).

Cách đây hơn 400 năm, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) có quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng thân hành đến nơi gọi là Bào Ngược Cứ xem xét rồi thuê thợ lặn đào sâu thêm để chặn thế nước. Để cho dân tin, ông tổ chức tế lễ, chính tay ông cầm gươm chém lên ngọn sóng. Từ đó ghe thuyền qua lại yên ổn, nhân dân ca ngợi ông hết lời.

Truông nhà Hồ là vùng đất hoang, cỏ mọc như rừng ở Hồ Xá (huyện Vĩnh Linh ngày nay). Bọn côn đồ thường đón khách qua lại cướp của cải, ai chống lại bị chúng giết tại chỗ. Cũng ông Nguyễn Khoa Đăng giả làm khách thương, chở của cải qua vùng Hồ Xá, bọn cướp chặn đường bắt ông cả người lẫn của vào tận sào huyệt của chúng, quân lính của ông theo vết chân ông tóm gọn bọn cướp. Từ đó nhân dân qua lại vùng này dễ dàng, không còn lo ngại gì nữa.

Qua câu chuyện này ta thấy thời trước đã có những ông quan như ông Nguyễn Khoa Đăng vượt qua những khó khăn nguy hiểm trừ gian, cải tạo thiên nhiên đem lại đời sống yên lành cho nhân dân thật đáng kính phục vô cùng. 

Cao Hữu Nhu, con cụ Cao Hữu Lẫm
Làng Lạc Lâm, xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa


video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp