• Pic Mgmt

    GIA PHỔ TỰ

    Tháng 4 năm 2010, khi về thăm nhà thờ tổ họ Cao ở Diễn Châu, Nghệ An chúng tôi đã được một vị trong Ban đại diện Hội Đồng Gia Tộc Cao Đại Tôn cho mượn để photocopy lại. Bản chép tay GIA PHỔ TỰ này gồm 199 trang, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau nên không tránh khỏi một số mặt hạn chế và sai sót do thiếu thông tin chính xác... Tuy nhiên, đây là công sức rất đáng trân trọng của Ban điều hành gia tộc Cao Đại Tôn...

  • Pic Mgmt

    TIẾN SỸ HÁN - NÔM TRƯƠNG SỸ HÙNG, NGƯỜI NẶNG DUYÊN VỚI SÁCH

    ...Lần theo địa chỉ, tôi tìm đến nhà ông Trương Sĩ Hùng trong một ngõ hẻm tại xã Biên Giang, Hà Đông, Hà Nội. Ngôi nhà ba tầng với diện tích sàn chỉ khoảng 20m2 nhưng chỗ nào cũng thấy sách. Những chồng sách vuông vắn, ngăn nắp xếp đầy ắp từ cầu thang tầng 1 lên đến tận tầng 3. Ông Hùng cho biết, ban đầu ông bày sách cả dưới tầng 1, nhưng thấy bất tiện cho sinh hoạt. Hai tầng còn lại của ngôi nhà, sách chiếm gần như toàn bộ diện tích, có nơi sách kê lên sát trần nhà cao hơn 3m...

  • Pic Mgmt

    CẦN KHẲNG ĐỊNH KINH DƯƠNG VƯƠNG LÀ THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT NAM

    Lời người viết: Dăm năm trước, để phản bác ý tưởng “Từ những dấu vết ngữ pháp Việt trong cổ thư Trung Hoa có thể nhận ra tiếng Việt là cội nguồn của ngôn ngữ Hán” của GS. Lê Mạnh Thát, ông Trần Trọng Dương có bài “Lâu đài cất bằng hơi nước.”. Là người có sử dụng tư liệu của học giả họ Lê cho tiểu luận “Tiếng Việt chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán,” tôi có bài “Lâu đài trên mây hay dự cảm sáng suốt” nói lại. Ông Trần Trọng Dương đáp lại bằng bài “Một lần và lần cuối thưa chuyện với ông Hà Văn Thùy”. Khi biết tác giả là Thạc sĩ Hán Nôm rất trẻ, tôi nhận ra mình dại...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO

    Cuốn sách TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM đã chính thức ra mắt bà con cô bác, từ ngày 15 tháng 01 năm 2017. Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên 200 trang, kèm theo gần 100 hình minh họa. Sách in giấy tốt, khổ A4. Giá bán nội bộ là 150.000đ00/cuốn (hình ảnh đen trắng) và 350.000đ00/cuốn (hình ảnh mầu)...

  • Pic Mgmt

    NGHỀ ĐI BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Từ xa xưa, người Việt đã lập nên kỳ tích chinh phục biển cả. Những điều ấy đã được viết trong các trang sách nước ngoài từ thế kỷ XVII và trước đó nữa...

  • Pic Mgmt

    KÊNH NHÀ LÊ - KỲ TÍCH NGHÌN NĂM: KHỞI NGUỒN CHO SỰ NGHIỆP NAM TIẾN

    Theo sử sách, trong thời gian chưa đầy 3 năm sau khi lên ngôi hoàng đế, Lê Hoàn đã dẹp xong cuộc nổi loạn trong nước, đồng thời thực hiện sự nghiệp vĩ đại phá Tống (năm 981), bình Chiêm (năm 982). Trong công cuộc Nam tiến đánh Chiêm Thành để bảo vệ và mở mang cương thổ, ông đã cho khơi mở tuyến đường thủy nội địa đầu tiên mà dân gian vẫn quen gọi là kênh nhà Lê. Cho đến nay, sau hơn 1.000 năm tồn tại, nhiều đoạn kênh nhà Lê vẫn còn vô cùng hữu dụng...

  • Pic Mgmt

    THĂM NHÀ THỜ THÁM HOA CAO QUÝNH

    ...Ngày 9 tháng 2 năm 2012, trong chuyến đi về Nghệ An dự GIỖ TỔ HỌ CAO chúng tôi đã đến thăm gia đình anh Cao Nguyên Hùng, hậu duệ của cụ tổ Thám Hoa Cao Quýnh, hiện nay gia phả cụ tổ Cao Quýnh vẫn còn lưu giữ tại nhà thờ ở Diển An, Diễn Châu, Nghệ An...

  • Pic Mgmt

    TỔNG ĐỐC DOÃN UẨN VỚI CHÙA TÂY AN...

    ...Tướng Doãn Uẩn, nguyên là vị Tổng đốc mưu lược, dưới đời vua Thiệu Trị thứ 7 (1847) đã cho xây dựng ngôi chùa Tây An. Sách Đại Nam Nhất Thống chí ghi: “Chùa Tây An ở thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, năm Thiệu Trị thứ 7 do mưu lược tướng Tuy Tĩnh tử Doãn Uẩn xây dựng trong khi làm tổng đốc An Giang...

  • Pic Mgmt

    PHẢ HỆ DÒNG HỌ NGUYỄN TRÃI

    Cùng với việc xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi và tu bổ quần thể di tích, Ban quản lý di tích Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương) đã tiến hành khảo sát lập phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi. Ông Nguyễn Khắc Minh - Trưởng ban quản lý di tích đã cho biết những kết quả bước đầu. Sau vụ án Lệ Chi Viên ngày 19/9/1442 (tức ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), dòng họ Nguyễn Trãi gần như tuyệt diệt. Một số con cháu sống sót phiêu tán lánh nạn khắp nơi. Đến nay chúng tôi tạm thống kê được 23 chi họ phân tán ở một số tỉnh từ Cao Bằng đến Nghệ An, Hà Tĩnh...

  • Pic Mgmt

    ĐÓN BẰNG UNESCO GHI DANH CA TRÙ & QUAN HỌ

    Chiều 16/4, tại Hà Nội đã diễn ra Lễ đón Bằng của UNESCO ghi danh Dân ca quan họ Bắc Ninh - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Hát Ca trù - di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Phát biểu tại buổi lễ, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội hoan nghênh những hành động thiết thực của Việt Nam trong việc gìn giữ và phát triển các di sản văn hóa,...

  • Pic Mgmt

    KẾT NỐI THÔNG TIN - CAO TỘC PHỔ KÝ

    Căn cứ thông tin do chị Cao Thị Thu Hà, con gái ông Cao Khả Phi: ... Ông Cao Khả Phi (sinh năm 1935), tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa khóa I, nguyên là chuyên gia thuộc Viện Nghiên Cứu Dệt Sợi (Bộ Công Nghiệp Nhẹ), sau làm Phân Viện trưởng Phân Viện Dệt-May phía Nam...

  • Pic Mgmt

    CỤ NỘI CAO HUY LỤC (1845-1876)

    Lúc sinh thời, cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) vẫn ngờ rằng, có thể cụ cố nội Cao Huy Lục là một trong 2 người con trai của Cao Bá Quát. Khi cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát thất bại (1854-1855), do sợ triều đình truy nã nên mọi người trong họ CAO đều thay tên đổi họ, chạy tứ tán khắp nơi. Lúc đó, con trai lớn của cụ Quát là Cao Bá Phùng và con trai của cụ Cao Bá Đạt tên là Cao Bá Nhạ, trốn tránh lên vùng giáp biên giới phủ Vạn Ninh (Quảng Yên, giáp biên giới Trung Quốc), triều đình truy nã mãi đến năm 1858 vẫn không bắt được Bá Phùng và Bá Nhạ. Còn người con trai thứ hai của cụ Quát tên là Cao Bá Thông lúc đó còn nhỏ tuổi...

  • Pic Mgmt

    TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

    Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến...

  • Pic Mgmt

    KINH DƯƠNG VƯƠNG-ÔNG LÀ AI?

    Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, được biết tỉnh Bắc Ninh đã triển khai một dự án khôi phục và tăng quy mô xây dựng khu di tích thờ "Thủy tổ Kinh Dương Vương - ông nội của Vua Hùng", với vốn đầu tư 500 tỷ đồng. Thật là hãi hùng về con số chi phí khổng lồ này, trong khi tình hình kinh tế đang hồi bấn loạn, ngân khố cạn kiệt, nhân tâm đang xáo động...

  • Pic Mgmt

    THÓI QUEN VÔ CÙNG HẠI THẬN...

    Thói quen vô cùng hại thận nhiều người mắc phải mà không biết. Bạn nên bảo vệ sự khỏe mạnh của thận bằng cách loại bỏ những thói quen ăn uống và sinh hoạt có hại cho thận chứ không phải chờ thận bị tổn thương rồi mới lo chạy chữa...

Chi tiết

DÒNG HỌ CAO HỮU Ở ĐIỀN HẢI, PHONG ĐIỀN, THỪA THIÊN-HUẾ

Đăng lúc: 2014-09-26 09:31:19 - Đã xem: 3870

CAO BÁ NGHIỆP: Anh Cao Hữu Điền đang nghỉ dưỡng bệnh ở Huế có gửi thư trao đổi với tôi về thông tin của chi họ Cao Hữu (xã Điện hải, huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế). Tôi được biết, ở Phong Điền có một số chi họ Cao như Cao Chánh, Cao Hữu, Cao Văn, Cao Huy... nhưng đều có nguồn gốc xuất xứ từ Thanh Hóa. Nhân đây, tôi xin trân trọng giới thiệu nội dung bài viết rất đáng chú ý dưới đây của ông Cao Hữu Nhu để bà con cô bác cùng tham khảo và kết nối thông tin VỀ NGUỒN GỐC HỌ CAO, nếu có thể. Xin cám ơn anh Cao Hữu Điền, người đã đưa chúng tôi về thăm tổ đình chi họ Cao ở Điện Hải, Phong Điền.


Quê hương và dòng họ Cao Hữu
(ở Điền Hải, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế)

Cha tôi đã đọc và giảng cho tôi biết: Căn cứ vào đôi câu đối ở Từ đường họ Cao và đôi câu đối ở chi Cao Hữu chúng tôi ở xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, mấy câu đối ấy như sau: 

Đôi câu đối ở Từ đường họ Cao:

                  Ngũ bách tiên niên, canh khẩn, công thùy thôi xướng thủ.
                                   Thập bát thế hậu linh phù sinh tặng biểu khai tiên.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

                  Năm trăm năm trước đây, Tổ tiên ta đã khai phá ra giải đất này
                         Mười tám thế hệ sau này phải ghi nhớ công lao to lớn ấy. 

Và đôi câu đối ở nhà thờ nhánh Cao Hữu:

Tích Quảng Điền nhi kim Phong Điền phụ miện ký cần, tử khôn khiết trước bất tận.
Tiền Tam Giang nhi hậu đại hải nguyên lưu thậm viễn, tổ tông công đức vô nhai.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

Trước là Quảng Điền, nay gọi Phong Điền công lao khai thác thật rất công phu, con cháu được hưởng không bao giờ hết. Trước mặt là phá Tam Giang, sau lưng là biển lớn, nguồn gốc sâu xa, công đức Tổ tiên thật không có bến bờ.

Rồi cha tôi nói với tôi: “Đến đời con là đời thứ 19 đó”. Sinh ra ở quê cha đất Tổ ngày rằm tháng chạp năm Giáp Tý (1924), không rõ ngày dương lịch. Mới được 3 tháng, cha mẹ tôi đã đưa tôi ra Thanh Hóa vì cả đại gia đình tôi sống và làm việc ở Thanh Hóa, vì thế Thanh Hóa là quê hương của đại gia đình tôi, quê hương thứ hai mà lại là quê hương vĩnh viễn. Mãi đến năm 1942, tôi thi đỗ vào ban tú tài trường Khải Định – Huế  học tập tôi mới có dịp để về quê cha đất Tổ họ Cao vài lần, còn các em tôi thì mãi gần đây mới có một vài em được về thăm đất Tổ, mặc dầu còn nhiều em khác đã vào Nam, có em đã hy sinh nằm lại trong đó, có em đã làm tròn nhiệm vụ được trở về quê cũ Thanh Hóa nhưng vẫn chưa đến Tổ họ Cao của mình ở bên bờ phá Tam Giang.

Nhân đây tôi muốn nói rõ một điều: Có rất nhiều họ Cao trong nước và ngay cả trong một tỉnh. Có những họ Cao nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Họ Cao chúng tôi không có ai là danh nhân, lương y, danh tướng. Ngay ở Huế cũng có mấy họ Cao nổi tiếng hơn họ Cao chúng tôi. Từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075) thủ khoa đầu tiên là Lê Văn Thịnh triều Lý Nhân Tông đến khoa thi Hán học cuối cùng năm 1919, họ Cao chúng tôi không ai đỗ Đại học cả (Từ Phó bảng đến Trạng Nguyên). Cao nhất cũng chỉ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Về thang bậc học ngày nay cũng vậy, cao nhất cũng chỉ đỗ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Điều đó cũng dễ hiểu vì họ Cao chúng tôi đại đa số là dân cày cuốc hoặc dân chài lưới trên mặt biển Đông nhưng gần bờ, đều là dân lao động, rất ít người được đi học.

Thời tôi còn ở Huế (1942-1945) về thăm quê tôi thấy Mộ Tổ được xây bằng gạch đã rêu phong đặt trên một đụn cát cao, còn từ đường họ Cao là một ngôi nhà ngói cổ kính xây gần đó.

Ngày nay, nhờ có lớp con cháu đi học hay lao động ở nước ngoài góp sức lại, kẻ có của người có công, xây lại Mộ Tổ và nhà từ đường họ Cao to, cao, đẹp hẳn lên, chứng tỏ sự phồn thịnh của lớp con cháu sau này.

Cả con đường từ thành phố Huế về quê hương Điền Hải cũng đã thay đổi: Xưa kia phải đi bằng đường thủy. Khách đi đò từ quê về thành phố Huế để mua bán từ sáng sớm, đến chiều phải tìm đò làng neo ở cầu Gia Hội để về: 

Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông.

Đò chèo đến đồn Mang Cá qua Bao Vinh, là tiếng hò bắt đầu vang lên véo von, không chỉ nhà đò mà khách đi đò, các thiếu nữ vừa chèo vừa hò, bởi không thể lao động mà không hò hát. Tiếng hò lan trên mặt sông Hương và xa xa có tiếng hò đáp lại thật là kỳ thú: 

Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Luông,
Đến đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.

Anh thanh niên Thanh Hóa là tôi lúc đó rất mê những đêm hò hát trên sông Hương thời đó. Nhưng tiếng hò chợt im bặt mà lại có lời cầu xin Trời Phật cho được trời yên biển lặng, đó là lúc thuyền đi ngang qua cửa biển Thuận An, sóng lớn đập vào mạn thuyền, không còn ai hò hát. Qua khỏi cửa Thuận An thuyền lại xuôi dòng, tiếng hò lại tiếp tục. Đó là những đêm trăng tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, qua cửa Thuận An thuyền gặp sóng to gió lớn phải neo lại gọi là “Cầm động” thường là 1 tuần hay 10 ngày. Chờ đến lúc trời yên biển lặng thuyền mới lại tiếp tục cuộc hành trình. Tôi bao giờ cũng về làng vào tháng 5, khi đã kết thúc năm học nên không bao giờ bị “Cầm động”.

Qua cửa biển Thuận An rồi, thuyền lại tiếp tục cuộc hành trình, khách đi đò thấy trên bờ có bụi tre đôi, rồi bụi tre một đó là chợ Đò, khách sắp bước lên bờ, thu gọn hành lý. Mấy cô ngồi gần tôi chỉ cho tôi biết một cô ở gần chú thím tôi, bảo tôi cứ đi theo cô ấy là đến nhà. Đêm đã khuya, hàng xóm đã ngủ yên, nhưng tôi đã viết thư là sẽ về vào ngày nào nên cả nhà vẫn còn thức để chờ tôi. Tôi cám ơn cô bạn dẫn đường rồi bước vào nhà chú thím tôi, sau này tôi đã quen đường không còn phải nhờ ai chỉ đường nữa. Về làng tôi vẫn đội cái mũ cối của bộ đội ta, bà con tôi và dân làng vốn sống trong chế độ của Pháp, rồi Mỹ, đến nay bộ đội ta đã đuổi sạch lính Pháp, lính Mỹ về nước chúng rồi, nhưng các ông già bà già vẫn còn lo sợ, vì thế bước vào nhà nào tôi cũng phải nói ngay: “Cháu là Cao Hữu Nhu đây, cháu đến thăm ông bà đây”, và phải giấu ngay cái mũ cối bộ đội. Gặp một người nào mặc áo lương hoặc áo thâm, đội khăn đóng, đi dày hạ là tôi phải chào ngay, biết người này đang đi đến đám cưới hay đám tang nào đây.

Trở lại việc đi về làng, tôi đã quen đường nên không phải nhờ ai nữa. Cách về làng ngày càng đơn giản hơn. Người ta gắn máy nổ vào thân đò, thế là vắng tiếng hò hát trên sông nhưng lại được về làng sớm. Đến nay lại có đường ô tô bắc qua những đoạn hẹp cửa phá Tam Giang, con đường từ thành phố Huế về làng lại được rút ngắn và an toàn hơn nữa, không còn phải lo giông bão.

Sự hình thành ra quê tôi

Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông sang nước Chiêm Thành xem phong cảnh có hứa gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người sang đưa vàng bạc, châu báu, các sản vật và xin cưới. Triều thần và dân trăm họ vô cùng xao xuyến. Chế Mân đã già và có nhiều vợ, công chúa Huyền Trân hoảng hốt, vật vã thảm thiết, phần thì lo đi làm vợ vua Chiêm ở xứ lạ quê người, phần thì đau đớn phải xa người yêu là Trần Khắc Chung, một vị tướng trẻ của nước Đại Việt. Chế Mân lại xin dâng 2 châu Ô, Lý làm sính vật. Châu Ô sau này đổi tên thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hóa. Từ đó quần thần và trăm họ mới hiểu được thâm ý của nhà vua và cảm phục sự hy sinh của công chúa Huyền Trân và ca ngợi bà. Hai châu Ô – Lý ngày nay được gọi bằng một tên chung là Thuận Hóa.

Chẳng bao lâu Chế Mân mất, theo tục lệ Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân phải bị hỏa thiêu nhưng vua Trần đã cho tướng Trần Khắc Chung đưa thuyền nhẹ đến cướp công chúa Huyền Trân về. Thuyền của quân Chiêm lớn, nặng nề đuổi theo không kịp phải quay trở lại.

Đó là nguồn gốc của điệu ca Huế Nam Bình, Nam Ai nổi tiếng ra đời xuất phát từ cuộc ra đi và trở về của bà Huyền Trân, đến nay vẫn còn lưu truyền rất thấm thía:

Dặn một lời Mân quân
Nay chuyện đà như nguyện
Đặng vài phân
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
Đắng cay muôn phần

 Về giải đất Bình Trị Thiên xa xưa đã có câu ca dao:

Thương anh em cũng muốn vô
Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Nhưng lại có câu ca dao đáp lại:

 Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

 Tất cả các sự việc đều diễn ra đúng như thế. Gọi là Tam Giang bởi do hai con sông Bồ, sông Ô Lâu cùng đổ vào sông Hương làm cho lòng sông mở rộng ra, gây nên sóng lớn. Trên phá Tam Giang có chỗ gọi là Bào Ngược Cứ (Tại hai xã Vĩnh Xương và Kế Môn, tiếp giáp về phía Nam là xã Điền Hải, quê nội và quê ngoại của tôi).

Cách đây hơn 400 năm, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) có quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng thân hành đến nơi gọi là Bào Ngược Cứ xem xét rồi thuê thợ lặn đào sâu thêm để chặn thế nước. Để cho dân tin, ông tổ chức tế lễ, chính tay ông cầm gươm chém lên ngọn sóng. Từ đó ghe thuyền qua lại yên ổn, nhân dân ca ngợi ông hết lời.

Truông nhà Hồ là vùng đất hoang, cỏ mọc như rừng ở Hồ Xá (huyện Vĩnh Linh ngày nay). Bọn côn đồ thường đón khách qua lại cướp của cải, ai chống lại bị chúng giết tại chỗ. Cũng ông Nguyễn Khoa Đăng giả làm khách thương, chở của cải qua vùng Hồ Xá, bọn cướp chặn đường bắt ông cả người lẫn của vào tận sào huyệt của chúng, quân lính của ông theo vết chân ông tóm gọn bọn cướp. Từ đó nhân dân qua lại vùng này dễ dàng, không còn lo ngại gì nữa.

Qua câu chuyện này ta thấy thời trước đã có những ông quan như ông Nguyễn Khoa Đăng vượt qua những khó khăn nguy hiểm trừ gian, cải tạo thiên nhiên đem lại đời sống yên lành cho nhân dân thật đáng kính phục vô cùng. 

Cao Hữu Nhu, con cụ Cao Hữu Lẫm
Làng Lạc Lâm, xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa


video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp