• Pic Mgmt

    THỬ ĐỌC VÀI HÌNH ẢNH VỀ CHỮ VIỆT CỔ Ở CẢM TANG

    Lời cám ơn: Anh Hà Văn Thùy có gửi cho tôi bài viết dưới đây của sư Viên Như. Nhận thấy nội dung bài viết này rất đáng quan tâm nên xin tran trọng giớ thiệu với quý bạn đọc gần xa để cùng nghiên cứu và tham khảo. CAO BÁ NGHIỆP

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ, CUỐN SỬ VINH DANH NGƯỜI VIỆT

    ...Nhưng ngày nay, với những khám phá mới về nhân học, lịch sử, ta biết rằng, từ hàng vạn năm, trước khi người Hoa Hạ ra đời, toàn bộ đất Trung Hoa là giang sơn của tộc Việt. Người Việt từ Việt Nam lên đã xây dựng ở đây nền văn minh nông nghiệp lúa nước sớm và phát triển nhất hành tinh. Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ từ Tây Bắc vượt Hoàng Hà, xâm lăng đất của người Việt. Tại trung Nguyên, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt sinh ra người Hoa Hạ...

  • Pic Mgmt

    LỄ DÂNG HƯƠNG DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT...

    Nằm trong chuỗi hoạt động của Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III, Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương lần thứ II, sáng 06/03/2015, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức lễ dâng hương danh nhân Cao Bá Quát tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    Khám Phá Hà Nội Xưa Và Nay

    Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong bài hát Nhớ Về Hà Nội nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã viết: “Dù có đi bốn phương trời lòng vẫn nhớ về Hà Nội”. Bởi lẽ, mảnh đất thủ đô yêu dấu ấy đã đi vào lòng hàng triệu trái tim con người Việt Nam, trở thành nơi gửi chốn về của biết bao người con xa xứ...

  • Pic Mgmt

    QUY ƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO VIỆT NAM

    Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với Họ CAO mong muốn liên kết với nhau để thực hiện tâm nguyện chung của bà con trong Dòng tộc về việc Họ, là đầu mối liên lạc kết nối các Gia tộc, Dòng Họ, Chi họ và cá nhân tâm huyêt với Họ CAO hướng về cội nguồn, đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giữ gìn và phát huy phẩm chất, truyền thống Họ CAO ...

  • Pic Mgmt

    THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT THỰC SỰ Ở ĐÂU?

    ...Tìm ra chính xác tổ tiên người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn! Sự thực là, muốn biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử, để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai?...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc. Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    XÓT XA LĂNG MỘ VUA TRẦN ANH TÔNG....

    Con đập Trại Lốc và sự vô tình của con người đã nhấn chìm luôn những bí ẩn thú vị về cuộc đời và cái chết của một vị vua oai hùng trong lịch sử Đại Việt. Đứng trên đập Trại Lốc, ông Nguyễn Hữu Tâm chỉ tay ra bốn hướng, mô tả dãy núi trùng điệp bao quanh hồ Trại Lốc rộng mênh mông. Xưa kia, giữa dãy núi trùng điệp ấy, có một thung lũng hữu tình, với con suối uốn lượn chảy qua. Giữa thung lũng, cạnh con suối, nổi lên một quả đồi nhỏ có tên là đồi Trán Quỷ...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO KHOA HỌC: DANH TƯỚNG CAO LỖ THỜI DỰNG NƯỚC

    Danh tướng Cao Lỗ là một vị anh hùng dân tộc, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu dựng nước, được nhân dân ta sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng ngàn năm lịch sử...

  • Pic Mgmt

    NOSTRADAMUS - NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG DỰ ĐOÁN VẬN MỆNH THẾ GIỚI...

    ...Nếu được hỏi “Ai là nhà tiên tri tài ba nhất thế giới?”, không khó để chúng mình đưa ra đáp án, đó là Nostradamus. Ông là người có khả năng dự đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, có thể tới vài thế kỉ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về các biến cố lớn của thế giới như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh…

  • Pic Mgmt

    VIETNAM"S GOT TALENT 2014

    ...Trong tập 6 “Vietnam's Got Talent 2014”, tiết mục tứ tấu đặc biệt của 4 chị em với ca khúc “Lý kéo chài” đã khiến nhiều người bất ngờ, thích thú. Sự kết hợp khéo léo giữa âm nhạc dân tộc và những âm điệu mạnh mẽ, hiện đại, nghệ thuật tạo beat bằng những chiếc cốc đã hoàn toàn thuyết phục các vị giám khảo lẫn khán giả theo dõi. Đặc biệt, Thành Lộc đã nhanh tay bấm nút vàng, đưa thẳng 4 chị em vào Bán kết mà không cần suy nghĩ quá nhiều...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC HỌ ĐINH LY KỲ NHƯ TRUYỀN THUYẾT

    Họ Đinh, dòng họ văn vật nhiều đời, gắn liền với những tên tuổi lớn như Đinh Bộ Lĩnh… Nguồn gốc họ Đinh được kể lại như một truyền thuyết. Họ Đinh, theo truyền thuyết là hậu duệ của Kim ngô Đại tướng quân Đinh Điền, em của Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh). Ngược về nguồn gốc xa hơn nữa, họ Đinh có thể vốn bắt đầu từ con thứ của Khương Tử Nha đời nhà Chu...

  • Pic Mgmt

    HỒ HOÀN KIẾM VÀ BÍ ẨN LỚN CHƯA THỂ LÝ GIẢI

    (Kienthuc.net.vn) - Từ khi có hồ Hoàn Kiếm đến bây giờ, chưa bao giờ hồ cạn nước. Nhiều người thắc mắc rằng, không biết hồ lấy nguồn nước nơi đâu, vì sao nước hồ có màu xanh? Điều khiến nhiều người quan tâm đến hồ Hoàn Kiếm, bởi bốn mùa nước hồ đều có màu xanh trong. "Xưa kia người ta cho rằng nước hồ xanh là do chất tiết của mỏ đồng dưới đáy hồ. Thế nhưng, các nhà khoa học đã chứng minh màu nước hồ xanh là do trong hồ có nhiều chủng tảo lục chứ không phải do có mỏ đồng", PGS.TS Hà Đình Đức cho biết...

  • Pic Mgmt

    TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

    Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến...

  • Pic Mgmt

    KỲ DIỆU BÀI THUỐC NAM CHỮA KHỎI UNG THƯ GAN

    Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.

Chi tiết

DÒNG HỌ CAO HỮU Ở ĐIỀN HẢI, PHONG ĐIỀN, THỪA THIÊN-HUẾ

Đăng lúc: 2014-09-26 09:31:19 - Đã xem: 3412

CAO BÁ NGHIỆP: Anh Cao Hữu Điền đang nghỉ dưỡng bệnh ở Huế có gửi thư trao đổi với tôi về thông tin của chi họ Cao Hữu (xã Điện hải, huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế). Tôi được biết, ở Phong Điền có một số chi họ Cao như Cao Chánh, Cao Hữu, Cao Văn, Cao Huy... nhưng đều có nguồn gốc xuất xứ từ Thanh Hóa. Nhân đây, tôi xin trân trọng giới thiệu nội dung bài viết rất đáng chú ý dưới đây của ông Cao Hữu Nhu để bà con cô bác cùng tham khảo và kết nối thông tin VỀ NGUỒN GỐC HỌ CAO, nếu có thể. Xin cám ơn anh Cao Hữu Điền, người đã đưa chúng tôi về thăm tổ đình chi họ Cao ở Điện Hải, Phong Điền.


Quê hương và dòng họ Cao Hữu
(ở Điền Hải, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế)

Cha tôi đã đọc và giảng cho tôi biết: Căn cứ vào đôi câu đối ở Từ đường họ Cao và đôi câu đối ở chi Cao Hữu chúng tôi ở xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, mấy câu đối ấy như sau: 

Đôi câu đối ở Từ đường họ Cao:

                  Ngũ bách tiên niên, canh khẩn, công thùy thôi xướng thủ.
                                   Thập bát thế hậu linh phù sinh tặng biểu khai tiên.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

                  Năm trăm năm trước đây, Tổ tiên ta đã khai phá ra giải đất này
                         Mười tám thế hệ sau này phải ghi nhớ công lao to lớn ấy. 

Và đôi câu đối ở nhà thờ nhánh Cao Hữu:

Tích Quảng Điền nhi kim Phong Điền phụ miện ký cần, tử khôn khiết trước bất tận.
Tiền Tam Giang nhi hậu đại hải nguyên lưu thậm viễn, tổ tông công đức vô nhai.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

Trước là Quảng Điền, nay gọi Phong Điền công lao khai thác thật rất công phu, con cháu được hưởng không bao giờ hết. Trước mặt là phá Tam Giang, sau lưng là biển lớn, nguồn gốc sâu xa, công đức Tổ tiên thật không có bến bờ.

Rồi cha tôi nói với tôi: “Đến đời con là đời thứ 19 đó”. Sinh ra ở quê cha đất Tổ ngày rằm tháng chạp năm Giáp Tý (1924), không rõ ngày dương lịch. Mới được 3 tháng, cha mẹ tôi đã đưa tôi ra Thanh Hóa vì cả đại gia đình tôi sống và làm việc ở Thanh Hóa, vì thế Thanh Hóa là quê hương của đại gia đình tôi, quê hương thứ hai mà lại là quê hương vĩnh viễn. Mãi đến năm 1942, tôi thi đỗ vào ban tú tài trường Khải Định – Huế  học tập tôi mới có dịp để về quê cha đất Tổ họ Cao vài lần, còn các em tôi thì mãi gần đây mới có một vài em được về thăm đất Tổ, mặc dầu còn nhiều em khác đã vào Nam, có em đã hy sinh nằm lại trong đó, có em đã làm tròn nhiệm vụ được trở về quê cũ Thanh Hóa nhưng vẫn chưa đến Tổ họ Cao của mình ở bên bờ phá Tam Giang.

Nhân đây tôi muốn nói rõ một điều: Có rất nhiều họ Cao trong nước và ngay cả trong một tỉnh. Có những họ Cao nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Họ Cao chúng tôi không có ai là danh nhân, lương y, danh tướng. Ngay ở Huế cũng có mấy họ Cao nổi tiếng hơn họ Cao chúng tôi. Từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075) thủ khoa đầu tiên là Lê Văn Thịnh triều Lý Nhân Tông đến khoa thi Hán học cuối cùng năm 1919, họ Cao chúng tôi không ai đỗ Đại học cả (Từ Phó bảng đến Trạng Nguyên). Cao nhất cũng chỉ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Về thang bậc học ngày nay cũng vậy, cao nhất cũng chỉ đỗ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Điều đó cũng dễ hiểu vì họ Cao chúng tôi đại đa số là dân cày cuốc hoặc dân chài lưới trên mặt biển Đông nhưng gần bờ, đều là dân lao động, rất ít người được đi học.

Thời tôi còn ở Huế (1942-1945) về thăm quê tôi thấy Mộ Tổ được xây bằng gạch đã rêu phong đặt trên một đụn cát cao, còn từ đường họ Cao là một ngôi nhà ngói cổ kính xây gần đó.

Ngày nay, nhờ có lớp con cháu đi học hay lao động ở nước ngoài góp sức lại, kẻ có của người có công, xây lại Mộ Tổ và nhà từ đường họ Cao to, cao, đẹp hẳn lên, chứng tỏ sự phồn thịnh của lớp con cháu sau này.

Cả con đường từ thành phố Huế về quê hương Điền Hải cũng đã thay đổi: Xưa kia phải đi bằng đường thủy. Khách đi đò từ quê về thành phố Huế để mua bán từ sáng sớm, đến chiều phải tìm đò làng neo ở cầu Gia Hội để về: 

Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông.

Đò chèo đến đồn Mang Cá qua Bao Vinh, là tiếng hò bắt đầu vang lên véo von, không chỉ nhà đò mà khách đi đò, các thiếu nữ vừa chèo vừa hò, bởi không thể lao động mà không hò hát. Tiếng hò lan trên mặt sông Hương và xa xa có tiếng hò đáp lại thật là kỳ thú: 

Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Luông,
Đến đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.

Anh thanh niên Thanh Hóa là tôi lúc đó rất mê những đêm hò hát trên sông Hương thời đó. Nhưng tiếng hò chợt im bặt mà lại có lời cầu xin Trời Phật cho được trời yên biển lặng, đó là lúc thuyền đi ngang qua cửa biển Thuận An, sóng lớn đập vào mạn thuyền, không còn ai hò hát. Qua khỏi cửa Thuận An thuyền lại xuôi dòng, tiếng hò lại tiếp tục. Đó là những đêm trăng tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, qua cửa Thuận An thuyền gặp sóng to gió lớn phải neo lại gọi là “Cầm động” thường là 1 tuần hay 10 ngày. Chờ đến lúc trời yên biển lặng thuyền mới lại tiếp tục cuộc hành trình. Tôi bao giờ cũng về làng vào tháng 5, khi đã kết thúc năm học nên không bao giờ bị “Cầm động”.

Qua cửa biển Thuận An rồi, thuyền lại tiếp tục cuộc hành trình, khách đi đò thấy trên bờ có bụi tre đôi, rồi bụi tre một đó là chợ Đò, khách sắp bước lên bờ, thu gọn hành lý. Mấy cô ngồi gần tôi chỉ cho tôi biết một cô ở gần chú thím tôi, bảo tôi cứ đi theo cô ấy là đến nhà. Đêm đã khuya, hàng xóm đã ngủ yên, nhưng tôi đã viết thư là sẽ về vào ngày nào nên cả nhà vẫn còn thức để chờ tôi. Tôi cám ơn cô bạn dẫn đường rồi bước vào nhà chú thím tôi, sau này tôi đã quen đường không còn phải nhờ ai chỉ đường nữa. Về làng tôi vẫn đội cái mũ cối của bộ đội ta, bà con tôi và dân làng vốn sống trong chế độ của Pháp, rồi Mỹ, đến nay bộ đội ta đã đuổi sạch lính Pháp, lính Mỹ về nước chúng rồi, nhưng các ông già bà già vẫn còn lo sợ, vì thế bước vào nhà nào tôi cũng phải nói ngay: “Cháu là Cao Hữu Nhu đây, cháu đến thăm ông bà đây”, và phải giấu ngay cái mũ cối bộ đội. Gặp một người nào mặc áo lương hoặc áo thâm, đội khăn đóng, đi dày hạ là tôi phải chào ngay, biết người này đang đi đến đám cưới hay đám tang nào đây.

Trở lại việc đi về làng, tôi đã quen đường nên không phải nhờ ai nữa. Cách về làng ngày càng đơn giản hơn. Người ta gắn máy nổ vào thân đò, thế là vắng tiếng hò hát trên sông nhưng lại được về làng sớm. Đến nay lại có đường ô tô bắc qua những đoạn hẹp cửa phá Tam Giang, con đường từ thành phố Huế về làng lại được rút ngắn và an toàn hơn nữa, không còn phải lo giông bão.

Sự hình thành ra quê tôi

Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông sang nước Chiêm Thành xem phong cảnh có hứa gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người sang đưa vàng bạc, châu báu, các sản vật và xin cưới. Triều thần và dân trăm họ vô cùng xao xuyến. Chế Mân đã già và có nhiều vợ, công chúa Huyền Trân hoảng hốt, vật vã thảm thiết, phần thì lo đi làm vợ vua Chiêm ở xứ lạ quê người, phần thì đau đớn phải xa người yêu là Trần Khắc Chung, một vị tướng trẻ của nước Đại Việt. Chế Mân lại xin dâng 2 châu Ô, Lý làm sính vật. Châu Ô sau này đổi tên thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hóa. Từ đó quần thần và trăm họ mới hiểu được thâm ý của nhà vua và cảm phục sự hy sinh của công chúa Huyền Trân và ca ngợi bà. Hai châu Ô – Lý ngày nay được gọi bằng một tên chung là Thuận Hóa.

Chẳng bao lâu Chế Mân mất, theo tục lệ Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân phải bị hỏa thiêu nhưng vua Trần đã cho tướng Trần Khắc Chung đưa thuyền nhẹ đến cướp công chúa Huyền Trân về. Thuyền của quân Chiêm lớn, nặng nề đuổi theo không kịp phải quay trở lại.

Đó là nguồn gốc của điệu ca Huế Nam Bình, Nam Ai nổi tiếng ra đời xuất phát từ cuộc ra đi và trở về của bà Huyền Trân, đến nay vẫn còn lưu truyền rất thấm thía:

Dặn một lời Mân quân
Nay chuyện đà như nguyện
Đặng vài phân
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
Đắng cay muôn phần

 Về giải đất Bình Trị Thiên xa xưa đã có câu ca dao:

Thương anh em cũng muốn vô
Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Nhưng lại có câu ca dao đáp lại:

 Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

 Tất cả các sự việc đều diễn ra đúng như thế. Gọi là Tam Giang bởi do hai con sông Bồ, sông Ô Lâu cùng đổ vào sông Hương làm cho lòng sông mở rộng ra, gây nên sóng lớn. Trên phá Tam Giang có chỗ gọi là Bào Ngược Cứ (Tại hai xã Vĩnh Xương và Kế Môn, tiếp giáp về phía Nam là xã Điền Hải, quê nội và quê ngoại của tôi).

Cách đây hơn 400 năm, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) có quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng thân hành đến nơi gọi là Bào Ngược Cứ xem xét rồi thuê thợ lặn đào sâu thêm để chặn thế nước. Để cho dân tin, ông tổ chức tế lễ, chính tay ông cầm gươm chém lên ngọn sóng. Từ đó ghe thuyền qua lại yên ổn, nhân dân ca ngợi ông hết lời.

Truông nhà Hồ là vùng đất hoang, cỏ mọc như rừng ở Hồ Xá (huyện Vĩnh Linh ngày nay). Bọn côn đồ thường đón khách qua lại cướp của cải, ai chống lại bị chúng giết tại chỗ. Cũng ông Nguyễn Khoa Đăng giả làm khách thương, chở của cải qua vùng Hồ Xá, bọn cướp chặn đường bắt ông cả người lẫn của vào tận sào huyệt của chúng, quân lính của ông theo vết chân ông tóm gọn bọn cướp. Từ đó nhân dân qua lại vùng này dễ dàng, không còn lo ngại gì nữa.

Qua câu chuyện này ta thấy thời trước đã có những ông quan như ông Nguyễn Khoa Đăng vượt qua những khó khăn nguy hiểm trừ gian, cải tạo thiên nhiên đem lại đời sống yên lành cho nhân dân thật đáng kính phục vô cùng. 

Cao Hữu Nhu, con cụ Cao Hữu Lẫm
Làng Lạc Lâm, xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa


video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp