• Pic Mgmt

    THỬ ĐỌC VÀI HÌNH ẢNH VỀ CHỮ VIỆT CỔ Ở CẢM TANG

    Lời cám ơn: Anh Hà Văn Thùy có gửi cho tôi bài viết dưới đây của sư Viên Như. Nhận thấy nội dung bài viết này rất đáng quan tâm nên xin tran trọng giớ thiệu với quý bạn đọc gần xa để cùng nghiên cứu và tham khảo. CAO BÁ NGHIỆP

  • Pic Mgmt

    KHẢO SÁT DÒNG HỌ LÝ TỪ KHỞI NGUỒN ĐẾN LÝ CÔNG UẨN

    Họ Lý được coi như một trong số ít dòng họ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Bằng chứng khảo cổ đã phát hiện được từ thế kỷ 2 sau CN, họ Lý đúc gương đồng (Lý thị tác kính).

  • Pic Mgmt

    SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN-NÔM

    ...Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY NGUỒN GỐC THÁNH GIÓNG

    Tiến sỹ Hán học Cung Khắc Lược và Tiến sĩ Lương Văn Kế đã công bố những phát hiện mới về nguồn gốc Thánh Gióng. Những công bố này được căn cứ vào một bản thần phả của đền Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội). Theo thần phả thì Thánh Gióng có họ Đổng, xuất thân rõ ràng, có cha, có mẹ. Đặc biệt, dòng họ Đổng nổi tiếng với những chiến công trị thủy, giúp nước cứu dân...

  • Pic Mgmt

    NHIỀU BẰNG CHỨNG GIÁ TRỊ KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA-TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

    Nằm trong chương trình sưu tầm các bằng chứng pháp lý về chủ quyền biển đảo, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức công bố bộ 6 tập Atlas Thế giới do nhà địa lý học Philippe Vandermaelen (Vương quốc Bỉ) vẽ cách đây gần 200 năm...

  • Pic Mgmt

    DẤU TÍCH XƯA QUA NHỮNG KINH ĐÔ VIỆT CỔ

    ...Khu di tích Đền Hùng thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng, có độ cao 175 mét so với mặt nước biển, thuộc đất Phong Châu, vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo tạo thành ba đỉnh “Tam sơn cấm địa”...

  • Pic Mgmt

    BƯỚC ĐẦU “GIẢI MÔ GIA PHẢ KHẮC ĐÁ Ở VIỆT NAM

    Theo điều tra nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy bia khắc gia phả được đặt tại nhà thờ Họ ở các tỉnh sau đây (xếp theo ABC): Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hưng Yên, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hoá, Vĩnh Phú...

  • Pic Mgmt

    VỀ VIỆC "THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG"

    ...Xung quanh những vấn đề Báo Thanh niên nêu ra trong thời gian vừa qua, cho rằng đó là những phát hiện lịch sử của Thiền sư Lê Mạnh Thát và cần viết lại lịch sử dân tộc, phóng viên Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Phan Huy Lê (ảnh) – Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    45 TẤM BẢN ĐỒ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ 10 (Phần 2)

    Tiếp tục với bộ sưu tập bản đồ Việt Nam qua các giai đoạn từ thế kỷ 10, ở phần 1 - tôi đã chia sẻ đến bản đồ năm 1400, sau đây mời các bạn xem tiếp...

  • Pic Mgmt

    TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

    Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến...

  • Pic Mgmt

    LIÊN HOAN CA TRÙ TOÀN QUỐC 2014...

    Liên hoan Ca trù toàn quốc 2014 sẽ diễn ra từ ngày 26/8/2014 tại Hà Nội với sự tham gia của 26 đơn vị trực thuộc 11 tỉnh, thành phố. Liên hoan do Viện âm nhạc kết hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố có di sản ca trù tổ chức nhằm mục đích đánh giá kết quả bảo tồn nghệ thuật ca trù trong 5 năm (2010 – 2014) như đã cam kết với UNESCO...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI

    Sau hàng loạt phim ký sự được thực hiện ở trong nước và nước ngoài thành công, được khán giả chấp nhận, vào đầu năm 2012 TFS bắt đầu nghĩ tới việc thực hiện một chương trình ký sự về các dân tộc của Việt Nam. Ý nghĩ đó được triển khai nhanh chóng khi được sự chấp thuận của Ban Tổng Giám Đốc Đài, để rồi đến tháng 05/2013 bộ phim ký sự “Việt Nam 54 dân tộc” dài 150 tập...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TỔ TIÊN VIỆT

    Hành trình Đi Tìm Tổ Tiên Việt của con cháu Việt ngày nay đã trở nên hùng hậu, đa ngành, đa phương cách, nhiều hy sinh, dâng hiến lặng thầm, tụ hội bốn bể năm châu, rạng ngời hào quang Tổ Tiên Bách Việt...

  • Pic Mgmt

    CON CHUỘT TRÊN BIA ĐÁ ĐỀN VUA ĐINH

    Bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức tằng tu điện miếu bia ký là chiếc bia đá có kích thước lớn nhất đền vua Đinh. Trong nhà bia đền vua Đinh hiện còn ba chiếc bia khắc vào ba thời điểm Hoằng Định thứ 9 (năm 1608), Chính Hòa thứ 17 (1696) và cuối cùng là bia Thiệu Trị thứ 3 (1843)...

  • Pic Mgmt

    THOÁI HÓA KHỚP & CỘT SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

    ...Bệnh thoái hóa khớp và cột sống là bệnh mạn tính do thương tổn ở sụn của khớp và đĩa đệm của cột sống. Sụn và đĩa đệm bị xơ cứng, mỏng, mất tính đàn hồi, nhiều khi còn mọc thêm các gai xương. Sở dĩ có hiện tượng đó là do quá trình lão hóa của mô sụn. Thông thường, bệnh gặp ở người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả lứa tuổi trẻ hơn...

Chi tiết

LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN

Đăng lúc: 2014-11-08 10:23:54 - Đã xem: 1621

1. Vấn đề nguồn gốc dòng họ

Về nguồn gốc dòng họ, Hoan Châu Nghi tiên Nguyễn gia thế phả chép một cách sơ lược ở phần tiểu truyện Nam Dương công Nguyễn Nhiệm như sau: “Các vị trưởng lão kể rằng ông là con nhà gia thế. Xưa truyền, nguyên quán của ông ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam. Thủy tổ là Nguyễn Doãn Địch. Ông nội là Nguyễn Thiến, trạng nguyên năm Nhâm Thìn, Mạc Đại Chính (1532) quy thuận Lê triều, làm quan tới chức Lại bộ thượng thư, Ngự sử đài Đô Ngự sử, Đông các Đại học sĩ, Thiếu phó Thư quận công. Thân phụ húy Miễn, làm quan, được phong Phù quận công; Bá phụ húy Quyện, làm quan được phong Thường quận công”.

Như vậy, điều đầu tiên ta thấy, tổ tiên họ Nguyễn Tiên Điền vốn từ ngoài Bắc vào, xuất thân gia thế, có dính dáng tới cả hai thế lực tương tranh quyền lực quyết liệt đương thời là nhà Lê - Trịnh và nhà Mạc.

Tìm hiểu thêm các sử liệu liên quan như Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn), Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Hoan Châu ký (Nguyễn Cảnh thị), Lê Quý dật sự (Bùi Dương Lịch), Lịch sử Việt Nam (1), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (2),... ta biết thêm Nguyễn Doãn Địch (sinh vào khoảng năm 1480-1481), thời Hồng Đức. Đến đời nhà Mạc, có một người cháu nội tên là Nguyễn Thiến (Thuyến) (? - 1557), biệt hiệu là Cảo Xuyên, đậu trạng nguyên năm Nhâm Thìn (1532), niên hiệu Mạc Đại Chính, được nhà Mạc trọng dụng, bổ nhiệm đến chức Thượng thư bộ Lại, Đông các Đại học sĩ kiêm Đô ngự sử, tước Thư Quận công.

Đến năm Cảnh Lịch thứ 4 nhà Mạc, tức năm Thuận Bình thứ hai nhà Lê trung hưng (1551), ông cùng với cả nhà thông gia là Thái tể Phụng Quốc công Lê Bá Ly và các con ông là Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn về đầu hàng nhà Lê ở Thanh Hóa. Cha con ông cùng với cha con Lê Bá Ly đã giúp Lê - Trịnh đánh phá nhà Mạc làm cho triều đình Mạc Tuyên Tông nhiều phen khốn đốn.

Tháng 8-1557 sau khi Nguyễn Thiến qua đời, nghe theo lời thày học là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ trạng nguyên nhà Mạc năm 1535, bạn học với Nguyễn Thiến) hai người con là Quyện và Miễn phản nhà Lê trở về với nhà Mạc, trở thành những danh tướng bách chiến bách thắng, liên tục đưa quân vào vây hãm, đánh phá hậu cứ Thanh - Nghệ của nhà Lê - Trịnh.

Đến năm Hồng Ninh thứ 2 nhà Mạc, tức Quang Hưng thứ 15 nhà Lê trung hưng (1592), Mạc Mậu Hợp bị giết, Nguyễn Quyện thua trận bị quân Lê - Trịnh bắt giam và chết trong ngục; Nguyễn Miễn mất tích, các con cháu số bị tử trận, số hàng Lê sau mưu phản bị giết gần hết, chỉ còn lại một số ít trốn thoát được, trong đó có Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm.

Sau khi cố gắng tập hợp lực lượng phản kích lại quân Lê - Trịnh mấy lần không thành công, Nguyễn Nhiệm chạy vào làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân tự xưng tên là Nam Dương, mai danh ẩn tích, sinh cơ lập nghiệp. Hồi bấy giờ, vùng Tiên Điền còn hết sức hoang vắng. Người địa phương không biết tên ông là gì, nên gọi ông là Nam Dương công. Đó là ông tổ thứ nhất của họ Nguyễn Tiên Điền. Từ đời Nam Dương công đến đời Nghi Hiên công Nguyễn Nghiễm là 6 đời.

Ngoài ra, theo thông tin từ bài Thăng Long với hồn thơ chú cháu Nguyễn Du thì truy xa hơn nữa, “...Nguyễn Du là cháu đời thứ 13 của Nguyễn Xí thuộc chi 10. Mà Nguyễn Xí lại vốn gốc làng Cương Gián (Động Gián) thuộc Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông nội là Nguyễn Hợp di cư sang làng Thượng Xá, nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, sau đó về lại quê cũ. Nhưng con trai là Nguyễn Hội thì vẫn ở lại, sinh ra Nguyễn Biện và Nguyễn Xí. Rồi, Nguyễn Xí bằng công lao to lớn trong Lam Sơn khởi nghĩa và dẹp loạn Lê Nghi Dân đưa Lê Thánh Tông lên ngôi vua, mở ra một triều đại thịnh vượng nhất trong lịch sử đất nước Đại Việt, đã gây dựng lên dòng họ Nguyễn Đình - Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí vẻ vang nhất trên đất Nghệ Tĩnh ở thời trung đại mà con cháu thì rải khắp cả nước trong đó có chi phái rất bề thế trên đất Thăng Long liên quan đến họ Nguyễn Tiên Điền, trước cả Nguyễn Nhiệm...”(3). Như vậy, Nguyễn Nhiệm là cháu đời thứ 6 của Nguyễn Xí (4).

Nếu cứ liệu này đúng, ta thấy, việc Nguyễn Nhiệm chạy vào Nghi Xuân, ngoài các lý do về thiên thời, địa lợi, nhân hòa mà một bậc hào kiệt như ông không thể không tính đến, thì lý do quan trọng nhất là theo tiếng gọi tâm linh, trở về nguồn cội xa xưa, về với nơi phát tích lừng lẫy một thời của tổ tiên mình.

Tuy nhiên, vấn đề nguồn gốc dòng họ Nguyễn Tiên Điền, ít nhiều vẫn đang còn những yếu tố huyền hoặc khiến chúng ta phải nghi vấn.

Thứ nhất, theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, người sống cùng thời và làm quan cùng triều với Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản, và các tài liệu sử khác như Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, Hoan Châu ký thì Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm đã bị quân Lê - Trịnh giết chết trong trận tập kích ở Lãnh Giang năm Tân Sửu, niên hiệu Hoằng Định thứ 2 (1601). Đại Việt sử ký toàn thư chép về sự kiện này như sau: “Mùa xuân, tháng giêng, chúa (Trịnh Tùng) thân đem đại quân dẹp Nguyễn Nhậm (Nhiệm), đánh nhau ở Lãnh Giang. Tướng tiên phong là Chấn quận công chết tại trận. Quan quân dốc sức xông pha, cả phá được giặc, chém được Nhậm và ngụy Nga quận, bắt được chiến thuyền, khí giới trâu bò súc vật, kể có hàng nghìn. Bắt được em của Nhậm là quận Tào, quận Vị ngụy, đem giết hết. Hạ lệnh chiêu an các huyện. Rút quân về kinh sư”(5). Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn cũng chép tương tự. Như vậy, theo sử, không thể có chuyện Nam Dương hầu trốn được về Tiên Điền để gây dựng lại dòng tộc.

Nhưng theo lời truyền khẩu trong dòng họ thì ông không chết mà bị thương và nằm kẹt giữa đống tử thi quân sĩ. Đến lúc quân địch rút, ông cùng vài ba người lính sống sót tìm thuyền ra biển vào tận cửa Hội, ngược sông Lam đến ẩn cư tại Tiên Điền.

Vậy giữa sử và phả, nên tin vào đâu?

Chúng tôi nghĩ, sử chép hẳn không sai, đặc biệt sử do Lê Quý Đôn chép thì rất đáng tin cậy. Bởi Lê Quý Đôn là bộ óc bách khoa lúc bấy giờ, lại là người có tinh thần cầu chứng cao, rất cẩn trọng trong việc sưu tra, kê cứu tư liệu. Tuy nhiên, lời truyền trong dòng họ cũng rất có lý. Một mặt, sự sống sót giữa lúc hỗn chiến cũng rất có thể xảy ra, giữa chiến địa ngổn ngang tử thi như thế, việc nhận nhầm (hoặc cố tình nhầm để báo công) một cái xác nào đó cũng là việc bình thường. Vả lại, Nguyễn Nhiệm là một người vừa có sức khỏe lại rất cơ mưu nên việc thoát thân đối với ông cũng chẳng khó gì. Mặt khác, nếu sự thật không phải như thế thì Nguyễn Nghiễm chẳng dại gì mà vơ vào cho tiền nhân cái tội “có dự mưu phục lại nhà Mạc, khi thua trận chạy về Nam, giấu hẳn tên thực”(6), dẫu rằng, đến đời Nguyễn Nghiễm thì vấn đề đã nhạt, lại do công trạng của bản thân ông có thể chiêu tuyết cho tổ tiên, nên ông mới dám nói ít nhiều về lai lịch của cụ tổ nhà mình. Tuy vậy, việc tiết lộ thông tin đó cũng là vạn bất đắc dĩ, chứ không thể nói là không tiềm ẩn nguy cơ gì trong chốn trường quan bể hoạn đầy hang hùm, nọc rắn. Vả chăng, truyền thống chép phả, sử thời xưa là xấu che, tốt khoe, hơn thế, có khi còn thấy người sang bắt quàng làm họ, còn dựng huyền thoại về cội nguồn, tông tộc nhà mình. Do đó, một người lịch duyệt, từng trải trên chính trường như Nguyễn Nghiễm hẳn không dại gì mà vơ vào phả tộc nhà mình những thông tin như thế nếu không phải là sự thật. Từ những căn cứ trên, chúng tôi tin vào lời truyền trong dòng họ về lai lịch Nguyễn Nhiệm và huyền thoại về sự trốn thoát của ông.
 
2. Những suy ngẫm bước đầu về lịch sử dòng họ Nguyễn Tiên Điền

Nghệ An xưa (Nghệ Tĩnh ngày nay) là đất phiên trấn. Nơi đây, từng tiếp nhận nhiều dòng, nhiều đợt di cư, cả hợp pháp và bất hợp pháp, từ nhiều nơi đến. Trong đó, có các mệnh quan triều đình, sĩ tốt đến trấn thủ, lưu thú; các tội thần bị biếm trích, đày ải; các loạn thần, nghịch tử đến trốn tránh và không ít các anh hùng thảo dã, cường khấu ẩn nấp, hoạt động lâu dài. Những đối tượng đó tìm thấy ở nơi hoang vắng nhưng linh khí thịnh vượng này một khoảng trời tự do để tụ hội, sinh sống; xây dựng căn cứ, cơ đồ để hành hiệp, trượng nghĩa hoặc mưu cầu sự nghiệp. Dần dà, bằng sự phối ngẫu, hòa huyết của các cá thể khác biệt giống nòi nhưng rất xuất chúng này, hình thành các dòng họ kiệt xuất, các cự tộc danh tiếng mà con cháu của họ trở thành chổ dựa vững chắc cho đất nước và các triều đại. Nói tóm lại, xứ sở núi Hồng sông Lam là một trong những nơi tụ hội, hun đúc nhân tài của đất nước từ thưở xa xưa.

Tuy nhiên, các nhân tài phát tích, trưởng thành tại đây muốn thành tài, thành danh thì phải quay ra xứ Bắc, ra Thăng Long. Bởi vì, chính Thăng Long mới là đất dụng võ để họ thi thố tài đức, hoàn thành đại nghiệp. Trường hợp Nguyễn Nhiệm và dòng họ Nguyễn Tiên Điền cũng không thể khác; hơn thế, quỹ đạo phát triển, hưng thịnh của dòng họ này là một trường hợp điển hình của các dòng họ lớn xứ Hoan Châu. Thời loạn, họ về đây nương náu để khởi nghiệp; thời thịnh ra Thăng Long tung hoành.

Xét từ đời Nam Dương công Nguyễn Nhiệm đến đời Bảo Lộc công Nguyễn Thể, bốn đời đầu, cứ tuần tự nhi tiến, chưa có gì hưng phát, nổi bật. Có thể nói, đây là giai đoạn ngọa hổ tàng long của dòng họ này. Cùng với dân chúng bản địa, họ xây dựng làng xóm, tư cơ, bẩm thụ khí thiêng sông núi, con cháu các đời tu thân, tích đức, nuôi dưỡng tài năng, chí khí, thu phục nhân tâm. Tuy chưa phát, nhưng ở chốn thôn quê, đời nào, con cháu của họ cũng có những bậc kiệt hiệt. Thậm chí, có lúc tưởng rằng dòng họ này lại quay về phát nghiệp võ, như trường hợp Bảo Lộc công Nguyễn Thể. Đến Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh, dường như sự tích lũy âm phúc, dương công đã đến độ viên mãn nên chuyển võ sang văn, đi thi hương trúng tam trường rồi vì việc nhà mà ông không tiếp tục thi nữa, đóng cửa lo phụng thờ tổ tiên, đọc sách, dạy dỗ con cái và sau có ra làm môn khách cho quan trấn Nghệ An.

Bắt đầu từ đời con của Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh, đời thứ 6, thì dòng họ Nguyễn Tiên Điền phát đại khoa thực sự. Nguyễn Quỳnh có 6 người con trai, thì ba người đậu đạt. Trong đó, Nguyễn Huệ đậu tiến sĩ, Nguyễn Nghiễm đậu hoàng giáp, Nguyễn Trọng đậu cử nhân. Nguyễn Huệ mất sớm, không có con trai nối dõi, con Nguyễn Trọng không có người nào dự phần khoa bảng. Duy có Nguyễn Nghiễm, con cháu nhiều người phát đạt khoa danh, làm quan to hoặc nổi tiếng trong giới bút mực đương thời.

Nhìn chung, dưới thời Lê Trịnh, họ Nguyễn Tiên Điền có khoảng 40 người làm quan nhưng nổi tiếng nhất vẫn hai cha con Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản, cả hai đều đỗ đại khoa và cùng làm quan to trong triều, từng giữ cương vị nhất nhì trong chính phủ Lê - Trịnh. Trải hai triều Lê - Trịnh và Nguyễn, những vị có tên tuổi nhất là: Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Huệ (tiến sĩ), Nguyễn Nghiễm (hoàng giáp), Nguyễn Khản (tiến sĩ), Nguyễn Điều (đậu tứ trường thi hội, tức phó bảng), Nguyễn Nễ, Nguyễn Du, Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành (2 anh em và 2 nhà thơ); con trai của Nguyễn Nghi là Nguyễn Tán (cháu ruột Nguyễn Nghiễm) đỗ tiến sĩ năm 1832 và Nguyễn Mai (hậu duệ Nguyễn Trọng), đỗ tiến sĩ năm 1904. Đặc biệt, trong An Nam ngũ tuyệt thời nhà Nguyễn thì họ Nguyễn Tiên Điền có hai chú cháu: Nguyễn Du và Nguyễn Hành (con Nguyễn Điều).

Họ Nguyễn Tiên Điền không phải chỉ có nhiều người làm quan như trong câu ca dao người đời hay truyền tụng: Bao giờ ngàn Hống hết cây, sông Rum hết nước họ này hết quan, mà còn có nhiều người trứ tác nổi tiếng trên tất cả các lĩnh vực: nho, y, lý, số, kinh, sử, tử, tập, thơ phú,... Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du, là một người uyên thâm dịch lý và soạn cả sách dịch học, phong thủy; Nguyễn Nghiễm là một nhà thơ đồng thời là một sử gia có hạng (tác giả Việt sử bị lãm, gồm 7 cuốn, được nhiều sử sách đương thời trích dẫn ý kiến, sử liệu; theo Ngô Đức Thọ (7), trong Đại Việt sử ký tiền biên đã sử dụng 26 đoạn bình luận của Việt sử bị lãm). Nguyễn Khản cầm, kỳ, thi, họa đều giỏi, rất sành thơ nôm, hay xướng họa, đối đáp với Trịnh Sâm. Tương truyền, ông cũng là một trong những người dịch Chinh phụ ngâm ra quốc âm; sau Nguyễn Khản, ba người em là Nguyễn Nễ - Nguyễn Du - Nguyễn Nghi, hai người cháu là Nguyễn Thiện - Nguyễn Hành (con Nguyễn Điều) đều là những tác giả nổi tiếng đương thời. Riêng Nguyễn Du thì kiệt tác Đoạn trường tân thanh cùng với các sáng tác Hán - Nôm khác đã đưa ông lên vị trí thi hào dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.

Đây là dòng họ có truyền thống văn chương và học thuật vào cỡ nhất nhì thiên hạ. Đương thời, họ Nguyễn Tiên Điền cùng với họ Nguyễn Trường Lưu (Can Lộc) đã làm nên sự kiện văn chương độc đáo mà các học giả đời sau gọi là Hồng sơn văn phái. Xét rộng ra, sáng tác của các tác giả hai dòng họ này cùng với các tác giả họ Phan Canh Hoạch (Thạch Hà) đã làm nên một phong khí văn chương đặc sắc, phồn thịnh của xứ sở Hồng - Lam mà ánh hồi quang rực rỡ của nó sẽ còn chiếu rọi đến nhiều đời sau.

Nhìn lại suốt cả quá trình lịch sử, kể cả giai đoạn trước khi đến Tiên Điền, thì dòng họ này có truyền thống văn võ kiêm toàn. Những nhân vật nổi tiếng nhất của dòng họ, phần lớn xuất thân là văn nhưng gặp thời loạn lại chuyển từ văn sang võ. Về võ nghiệp, tiêu biểu có Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn, Nguyễn Nhiệm đều là những võ tướng mà võ công vang dội một thời. Những người như Nguyễn Thiến, Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản đều là những chính khách mà võ công văn trị đều nổi tiếng ngang nhau. Đấy cũng chính là đặc điểm làm nên tính chất bi tráng của dòng họ này trong suốt tiến trình lịch sử dưới thời phong kiến. So với các cự tộc khác trong vùng, họ Nguyễn Tiên Điền là dòng họ bị cuốn vào các sự kiện chính trị phức tạp của các triều đại nhiều nhất. Cương Quốc công Nguyễn Xí, thân thờ trải bốn đời vua thời Lê sơ, từng đánh giặc cứu nước, phò nguy cứu khốn cho con cháu Lê Lợi trong các cuộc chính biến; cha con, ông cháu Nguyễn Thiến can dự sâu sắc vào cuộc tranh giành quyền lực Lê-Mạc; cha con Nguyễn Nghiễm bị cuốn sâu vào vòng xoáy lịch sử phức tạp thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Có khi trong cùng một nhà, cha con, anh em mỗi người thờ một chủ, đứng ở những chiến tuyến đối lập nhau như cha con Nguyễn Thiến, anh em Nguyễn Du. ở thời đó, đối với các thế lực đó, họ là người có công, nhưng ở thời khác hoặc đối với các thế lực khác, họ lại là kẻ có tội.

Về mặt quý hiển, giàu sang thì giai đoạn Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản còn đắc thế, cuộc sống của gia tộc này cũng vào loại nhất nước. Phủ đệ nguy nga, điền trang, thái ấp có ở nhiều nơi, cảnh sống phong lưu ở kinh kỳ Thăng Long không ai bì kịp. Nguyễn Hành (1771 - 1824), con Nguyễn Điều, cháu Nguyễn Nghiễm, đã viết trong bài Đồng Xuân ngụ ký (Minh quyên thi tập) như sau: “...Các triều đại định đô ở Thăng Long, lập lên 36 phường, duy chỉ có phường Đồng Xuân là đứng đầu. Thời ấy, các danh công, quý thần đều đến dựng nhà ở đây... Nhớ lại năm xưa đang thời bình thịnh, nhà Hành tôi, một ông hai cha (tức ông nội Nguyễn Nghiễm, ông bác Nguyễn Khản và ông thân Nguyễn Điều - TKĐ chú) đều làm việc trong chính phủ, chịu nhiều mưa móc của Triều đình. Các nơi ở Bích Câu trong thành, phủ đệ đối mặt với nhau, xe ngựa, võng lọng ngày ngày chầu chực trước cửa, áo gấm, cơm thịt, dưới có tôi tớ hầu hạ... Hành tôi sinh sau đẻ muộn, vẫn còn được thấy cảnh đó...”(8).

Hình như nhìn thấy được nguy cơ suy sụp đang đến gần đối với gia đình thày học mình, nhà hiền triết La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp - học trò Nguyễn Nghiễm, vừa là bạn đồng song vừa là anh đồng hao với Nguyễn Khản - trong một lần đến thăm phủ đệ của thầy, thấy trong dinh đề hai chữ phú và đức đã thẳng thắn khuyên can bằng bài tán như sau:

Giàu, giàu, giàu, tiền lúa vật báu, của nhóm người nhóm, dầu là một trong năm phúc, nhưng vẫn là cái kho chứa oán, chớ cầu chớ làm, gặp sao hay vậy.

Đức, đức, đức, nhân, nghĩa, lễ, trí, khuôn dân phép vật, sửa được là thánh hiền, làm sai là quỷ quái, phải lo phải gắng, tự nhiên có đức (9).

Có lẽ Nguyễn Nghiễm cũng dự cảm được điều gì đó, nên trong bài thơ Tự thuật thi vận, làm nhân được triều đình cho nghỉ ba tháng về quê (1771), ông bộc lộ tâm sự sâu kín của mình:

Năm mươi năm lẻ uốn tre non
Bể hoạn cánh chim đã mỏi mòn
Vâng mệnh bốn lần ba bận sợ
Trăm nguy còn một mái nhà con
Tự trời ban xuống dày mưa móc
Cập bến còn e nổi sóng cồn
Mừng thấy thời nay đương vận sáng
Điệu quê, dân Nghệ rộn làng thôn.

(Trà Sơn Phạm Quang Ái dịch)

Sau này, khi biến loạn xảy ra, cơ đồ tan nát, gia cảnh sa sút, điêu tàn, Nguyễn Du đã viết về cảnh sống sang trọng, xa hoa một thời của hạng quý tộc như cha-anh mình với giọng điệu chua chát, mỉa mai và thể hiện thái độ lên án:

         Nhà ai nhấp nhố ven sông Nhị
Biệt chiếm màu xuân cả một thành
Hồ Hán, xiêm y đua sắc lạ
Đông Tây, cầu gác ngất trời xanh
Giàm vàng, ngựa béo khoe rau tốt
Rượu quý, lầu son khướt chén quỳnh
Lạc thú phồn hoa vui mải miết
Biển nam nào quản bụi mù tanh

(Ngô Linh Ngọc dịch)

 Là một danh gia vọng tộc tiếng tăm lừng lẫy một thời, nhưng trải qua nhiều năm tháng bị cuốn vào cơn lốc chính trị đương thời, phủ đường, tư thất bị kiêu binh và quân Tây Sơn tàn phá tan tành, sách vở bị đốt, anh em con cháu ly tán, điêu linh. Vì vậy, ông Nguyễn Mậu, hiện là tộc trưởng dòng họ Nguyễn Tiên Điền, cho biết: “Sau biến cố, nhiều người thường dặn dò con cháu cố giữ lấy nghề thày và nghề thuốc, chứ đừng đeo đuổi chốn quan trường”. Ấy cũng là cái đạo lý tu thân tích đức, sống theo lẽ thế gian vạn sự bất như thường để bảo toàn gia tộc, nòi giống mà La Sơn phu tử từng chân thành khuyên bảo bố con Nguyễn Nghiễm - Nguyễn Khản.
_______________

1. Viện sử học, Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007.

2. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002.

3, 8. Nhiều tác giả, Đại thi hào Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2011.

4. Theo Hồ sơ về di tích dòng họ Nguyễn Du (tài liệu lưu trữ tại Ban Quản lý di tích Nguyễn Du) của GS Lê Thước, thì truy ngược lên, họ Nguyễn Tiên Điền còn có liên quan đến họ Nguyễn Nhị Khê nhà cụ Ức Trai Nguyễn Trãi.

5. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,... Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển XX (bản điện tử), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.713.

6. Hoan Châu, Nghi Tiên, Nguyễn gia thế phả, phần chép về Nam Dương hầu Nguyễn Công.

7. Ngô Đức Thọ, Tìm hiểu tiểu sử sự nghiệp của Đại tư đồ nguyên Tế tửu, nguyên tri Quốc tử giám Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, tham luận tại Hội thảo nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh Xuân quận công Nguyễn Nghiễm (1708 -2008).

9. Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, Nxb Minh Tân, Pa-ri, tr.22.


Tác giả: Trà Sơn Phạm Quang Ái

CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo




Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp