• Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH

    Theo thời gian và cũng vì thời đại, chúng ta đã mất nhiều tài liệu và không được tiếp cận với các tài liệu xưa. Vì vậy mà tôi lập Sơn Trung thư trang để làm một thư viện nhỏ với tinh thần vô vị lợi, tôi có thể giữ cho tôi và cống hiến cho moi người. Khi còn ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    NGÔI ĐỀN LƯU GIỮ NHIỀU BÍ ẨN

    Đền Cao thuộc thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương toạ lạc trên một ngọn đồi cùng vành đai với 99 quả đồi nổi danh từ câu ca huyền thoại về đàn chim nhạn của người dân nơi đây: “Chín mươi chín con theo mẹ dòng dòng/Một cô con gái phải lòng bên kia”...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG HANG ĐỘNG "MADE IN VIETNAM" KHÔNG KÉM HANG SƠN ĐOÒNG

    Động Hương Tích, Thạch Động... là những hang động mang trên mình vẻ đẹp kỳ vĩ, không kém hang Sơn Đoòng bao xa. Mới đây, New York Times đăng tải bài viết của tác giả David W.Lloyd ca ngợi vẻ đẹp của hang động Sơn Đoòng. Khi ghé thăm hang Sơn Đoòng, David W.Lloyd đã phải thốt lên rằng, những ngày khám phá Sơn Đoòng là chuỗi thời gian phiêu lưu thú vị nhất trong cuộc đời ông...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    HỘI NGHỊ LẦN THỨ II BCH CỘNG ĐỒNG HỌ BÙI VIỆT NAM

    Sáng ngày 26/04/2014 tại Hội trường Trung tâm hội nghị tỉnh Vĩnh Phúc đã khai mạc Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Cộng đồng họ Bùi Việt Nam do Ban chấp hành Cộng đồng họ Bùi tỉnh Vĩnh Phúc đăng cai. Trên 100 đại biểu ban chấp hành Cộng đồng họ Bùi Việt Nam từ TP HCM, Bình Định, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Bắc Giang, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội,….

  • Pic Mgmt

    TS CAO ĐÌNH HÙNG - TẤM GƯƠNG NGƯỜI LÀM KHOA HỌC

    CBN giới thiệu: Cao Đình Hùng sinh năm 1974, tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế trong một gia đình nông dân nghèo. Anh đã tự vượt lên chính mình bằng tất cả nghị lực & trí tuệ của mình. Tốt nghiệp khoa Sinh học, Đại học Khoa học Huế năm 1996, tiếp đó tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, chuyên ngành tiếng Anh năm 1997. Năm 1998, Hùng được nhận về làm việc tại Viện Sinh học Tây Nguyên (đóng ở thành phố Đà Lạt)...

  • Pic Mgmt

    KỲ TÀI NGƯỜI CHỮA KHỎI BỆNH VÔ SINH...

    Cô Quách Thị Huệ ở thôn Xuân Phong xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa) nổi tiếng khắp vùng quê với những bài thuốc gia truyền hay trị hiếm muộn, bệnh gút, xương khớp. Đến xã Hải Vân hỏi thăm cô Huệ thuốc nam, từ đứa trẻ đến người già đều nhiệt tình chỉ dẫn. Cô Huệ trước là Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Hải Vân. Từ lúc mới vài tuổi, cô đã theo bà, theo mẹ lên rừng tìm cây thuốc. Năm 1991, khi mẹ đẻ của cô bị tai nạn ốm yếu, cô bắt đầu thay mẹ đảm nhận việc bốc thuốc gia truyền...

  • Pic Mgmt

    VĂN CHỈ HOẰNG HÓA: CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ TÔN TẠO

    Nằm trong cụm Di tích lịch sử Bảng Môn Đình, Văn chỉ Hoằng Hóa gắn liền với truyền thống trọng đạo học của miền quê xứ Thanh hiện đang bị xâm phạm...

  • Pic Mgmt

    CÔNG TRÌNH SƯ NGUYỄN AN, NGƯỜI VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CỐ CUNG Ở TRUNG QUỐC (Bài viết của Tân An)

    Cố Cung, vốn có tên nữa là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là một quần thể kiến trúc cổ, quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất của Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc 15 của triều Minh (1417) vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1421), vua Minh tiến hành kế hoạch di chuyển Thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng, lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó, được tiếp tục triển khai với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ cực kỳ nguy nga, đồ sộ...

  • Pic Mgmt

    SAU GẦN HAI THẾ KỶ, LẦN ĐẦU TIÊN "QUẢ TIM LỬA" HẠ SƠN !

    Sau gần 2 thế kỷ được vua Minh Mạng ban cho, lần đầu tiên "Quả Tim Lửa" từ chùa Tam Thai (khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) hạ sơn để tham gia cuộc triển lãm "Tinh hoa cổ vật Phật giáo" do Bảo tàng Đà Nẵng tổ chức nhân mùa lễ Vu Lan!...

  • Pic Mgmt

    CHUYỆN TÂM LINH LY KỲ Ở TỔ MIẾU HÙNG VƯƠNG

    ...“Tổ miếu Hùng Vương là nơi thờ bài vị các Vua Hùng, đây cũng là chốn linh thiêng bậc nhất nước Nam. Nhiều câu chuyện có thực đã xảy ra khiến nhiều người khiếp sợ. Cũng nhờ thế, mà miếu Tổ giữ được đến giờ mà không mất mát, suy suyển một vật báu giá trị nào...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN VĂN LANG VÀ LỊCH SỬ NHẬT BẢN

    ...Trong cuốn sách đầu tiên của tôi: "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại", tôi đã đặt giả thuyết cho rằng: Cội nguồn lịch sử của người Nhật là một bộ phận của tộc người trên đất Văn Lang xưa đã di cư sang đảo Phù Tang. Một trong những cơ sở của giả thuyết này là sự hiện diện của bài tổ tôm trong nền văn hóa Việt...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI XỚ RỚ UYÊN THÂM

    Sĩ tức là người trí thức. Đương nhiên, trước hết định nghĩa thế nào là người trí thức? Người trí thức, kẻ sĩ ấy, là ai vậy, mà hễ có giang sơn thì ắt đã phải có anh ta rồi, không có anh ta thì giang sơn còn chưa trọn vẹn là giang sơn, và có anh ta thì nguồn chính khí bỗng đầy trong trời đất? Anh từ đâu đến? Anh đến để làm gì trong cuộc đời này? Trách nhiệm của anh là gì?...

  • Pic Mgmt

    TRUNG Y HAY VIỆT Y

    ...Đây là bài kinh ba chữ cho các thầy thuốc Đông y học để biết được nguồn gốc, sự phát triển ban đầu của y học phương Đông. Tuy nhiên, vấn đề ít được các y sinh, y sư biết là những tác giả, những vị thần y khởi nguồn của y học phương Đông được bộ kinh này nhắc tới hóa ra đều là những người Việt...

  • Pic Mgmt

    BẰNG CHỨNG KHẲNG ĐỊNH KINH DỊCH LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT

    ...Ở Việt nam, ảnh hưởng của Kinh Dịch và thuyết âm dương ngũ hành cũng hết sức mạnh mẽ; đồng thời do hoàn cảnh lịch sử hầu hết các tác phẩm viết về Kinh Dịch cũng bằng chữ Nho. Với bề dày lịch sử phát triển và truyền bá kinh Dịch như vậy, nên đa phần những người nghiên cứu mặc nhiên xem Trung hoa như là quê hương của kinh Dịch. Tuy nhiên trong vài thập niên qua, tại Việt nam, có nhiều người lên tiếng cho rằng kinh Dịch là sản phẩm của người Lạc Việt...

Chi tiết

ĐẶC ĐIỂM CỦA DÒNG HỌ NGƯỜI MẠ Ở LÂM ĐỒNG

Đăng lúc: 2015-01-20 11:54:50 - Đã xem: 11198

1. Tổng quan về người Mạ ở xã Đạ Oai, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng

Người Mạ là dân tộc thiếu số bản địa ở tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn cư trú của người Mạ nằm trong vùng Trung và Thượng sông Đồng Nai (Đạ Đơng), trong đó tập trung đông nhất là ở thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Ngoài ra người Mạ còn cư trú ở một số huyện phía Nam Lâm Đồng như Đạ Huoai, Đạ Teh, Cát Tiên... Tại huyện Đạ Huoai, người Mạ sinh sống tập trung đông nhất ở xã Đạ Oai với “133 hộ gia đình và 638 nhân khẩu trong đó nam giới 340 người, nữ giới 298 người, trong độ tuổi lao động là 386 người. Số dân người Mạ ở đây chiếm 16,11% tổng số dân của toàn xã”(1) và là tộc người thiểu số đông đảo nhất.




Kinh tế truyền thống của người Mạ ở Đạ Oai là phát rẫy trồng lúa, nhưng năng suất thấp, sản lượng bấp bênh do phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, lại luôn bị muông thú phá hoại. Hiện nay, các rẫy trồng lúa trước đây được thay thế bằng một số loại cây công nghiệp như điều, cà phê, hồ tiêu, mía… cho hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho đồng bào. Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ gia đình trồng lúa ở những chỗ đất trũng để tự túc, tự cấp lương thực. Như vậy cơ cấu cây trồng của đồng bào Mạ ở xã đã có sự thay đổi cơ bản so với trước. Cùng với trồng trọt, người Mạ còn chăn nuôi bò, dê, gà, vịt, chủ yếu để tự cung tự cấp cho gia đình, chứ chưa phải là hàng hóa. Cũng có một số hộ gia đình hiện nay đã nuôi bò để bán nhưng đang còn rất ít. Do vậy, thu nhập của đồng bào từ chăn nuôi không đáng kể. Ngoài ra, hoạt động kinh tế chiếm đoạt vẫn giữ vai trò nhất định đối với cuộc sống của đồng bào nơi đây. Người Mạ vẫn thường xuyên vào rừng săn thú, hái rau, lấy măng... chủ yếu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân.

Người Mạ là cư dân sinh sống ở Đạ Oai từ rất lâu với những nét văn hóa truyền thống mang bản sắc riêng, trong đó, nổi bất nhất là lễ hội đâm trâu (tách nang yô sa rơ pu). Lễ hội được diễn ra khi mùa màng đã thu hoạch xong và bội thu, nhằm báo cáo với các vị thần là năm nay con cháu mạnh khoẻ, bình an, lúa đầy rẫy, đầy kho, cuộc sống no đủ, sung túc và xin cho năm sau làm ăn được thuận lợi, lúa được nhiều hơn, đồng thời đây cũng là dịp để thiết đãi bạn bè, khách quý.

2. Đặc điểm của dòng họ (tum giây)

Mỗi con người sinh ra và lớn lên đều có một gia đình, dòng họ riêng, nơi họ hướng về với những tình cảm thân thương nhất. Dòng họ là tập hợp những người cùng huyết thống làm thành các thế hệ nối tiếp nhau, vì vậy những người cùng dòng họ thường có chung một ông tổ (nếu huyết thống tính theo dòng cha) hoặc bà tổ (nếu huyết thống tính theo dòng mẹ). Dòng họ giúp phân biệt một tập hợp người cùng tổ tiên, dòng máu này với một tập hợp người cùng tổ tiên dòng máu khác. Tên của dòng họ luôn đi đôi với tên chính (và cả tên đệm nếu có), nên nó góp phần cá thể hóa, phân biệt người này với người khác. Khi hai người cùng tên đệm, tên chính nhưng khác họ, chức năng cá thể hóa của họ rất rõ. Tuy nhiên, những đặc điểm trên của dòng họ chưa hẳn là đúng với một số dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam nói chung và người Mạ nói riêng.

Đặc điểm đầu tiên: không có tên họ. “Trước kia, nhiều dân tộc thiểu số không có họ. Chẳng hạn như người Chăm, người Khơme. Đến thời Nguyễn, nhà Nguyễn mới ban cho người Chăm 4 họ: Ông, Ma, Trà, Chế; người Khơ me 5 họ: Danh, Kim, Lâm, Sơn, Thạch; người Hrê họ Đinh”(2)... Và năm “1833 vua Minh Mạng ban cho các dân tộc ở huyện Phước Bình (Đồng Nai) các họ: Sơn, Lâm, Hồng, Nhạn, Ngưu, Mã. Năm 1837, vua lại ban các họ Tòng, Đào, Lý, Dương cho các dân tộc ở huyện Long Khánh”(3). Sau này đến thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ một số dân tộc thiểu số đã lấy họ Hồ (họ của Hồ Chí Minh) làm tên cho dòng họ của mình như người Bru Vân Kiều ở Thừa Thiên, người Co ở Quảng Nam. Riêng người Mạ cho đến nay vẫn chưa có họ theo cách hiểu của người Kinh và một số dân tộc khác. Trên giấy tờ hay cách gọi, tên họ của người Mạ chỉ để phân biệt giới tính nam hay nữ, bắt đầu bằng chữ K, nhưng nếu là nam thì có dấu phẩy trên chữ K (K’) như: K’ Nhem, K’ Sắc, K’ Lịch… còn nếu là nữ thì thêm chữ a vào sau chữ K (Ka) như: Ka Siệp, Ka Siêu, Ka Diêm... Vì vậy, dòng họ người Mạ ở xã Đạ Oai thật sự chưa có tên họ cụ thể.

Đặc điểm thứ hai: tên họ được đặt theo tên con suối gần nơi họ cư trú. Qua khảo sát thực tế tại địa phương, chúng tôi nhận thấy, xã Đạ Oai hiện nay vốn là địa bàn cư trú của 6 dòng họ, đồng thời cũng là 6 buôn trước đây, và mỗi buôn đều có một con suối chảy qua với tên gọi là Krơ Yô Đạ Nar, Lùng Đơn, Cơ Nur Đạ Tràng, Blú Đạ Tràng, Bơ Kẻ, Crìn (4). Trong 6 buôn này, sau năm 1975 theo sự sắp xếp của chính quyền địa phương, buôn Bơ Kẻ đã chuyển về khu vực suối Tiên. Như vậy, hiện nay tại xã Đạ Oai có 5 dòng họ người Mạ cư trú: Crìn với 22 hộ gia đình, 121 nhân khẩu, do ông K’Bre làm trưởng họ; Lùng Đơn có 18 hộ gia đình, 65 nhân khẩu, do ông K’ Mới làm trưởng họ; Cơ Nur Đạ Chọ có 28 hộ gia đình, 99 thành viên, do ông K’ Khạch làm trưởng họ; Blú Đạ Tràng với 30 hộ gia đình, 113 nhân khẩu, do ông K’ Lẹt làm trưởng họ; Krơ Yô Đạ Nar do ông K’ Chơng làm trưởng họ với 35 hộ gia đình và 240 nhân khẩu (5).

Đặc điểm thứ ba: dựa vào đặc điểm riêng của mỗi dòng họ để phân biệt các dòng họ với nhau. Mỗi dòng họ cư trú ở một vị trí nhất định, đây là nơi chôn nhau, treo nhau, cắt rốn của mỗi người, là nơi họ đã sinh ra, lớn lên và khi đi nơi khác, mọi người sẽ biết dòng họ này nằm trong khu vực có con suối nào và có đặc điểm riêng nổi bật nào. Như dòng họ Krơ Yô Đạ Nar, đặc điểm nổi bật là người phụ nữ sau khi sinh con xong, nhau thai sẽ được treo trên cây nên còn được gọi là dòng họ treo nhau (yông sộ)(6). Sở dĩ có phong tục này là do những người trong dòng họ Krơ Yô Đạ Nar quan niệm đã sinh ra thì không chôn mà chỉ khi chết mới chôn. Điều này cũng thể hiện được mong muốn của các thành viên trong dòng họ là những người được sinh ra cứ thế lớn lên, không bị ốm đau, bệnh tật và sống đến già. Nếu ở dòng họ Krơ Yô Đạ Nar có phong tục treo nhau thai thì họ Cơ Nur Đạ Chọ lại quan niệm người phụ nữ sau khi sinh xong phải chôn nhau. Họ bỏ nhau vào một cái hũ rồi đem chôn ở gần nhà. Trong phong tục sinh đẻ, tuy các dòng họ có sự khác nhau về việc đem chôn nhau hay treo nhau sau khi sinh, nhưng tất cả các dòng họ người Mạ ở Đạ Oai đều có một phong tục giống nhau là đứa trẻ sinh ra, sau khi được cắt rốn, họ sẽ lấy một phần cuống rốn bỏ vào lọ để cầu khấn thần linh cho đứa trẻ lớn lên không ốm đau, bệnh tật, được mạnh khỏe và giàu có. Không những vậy, nét khác nhau giữa các dòng họ còn thể hiện qua việc đòi lễ vật trong đám cưới mà người Mạ gọi là phần. Có dòng họ thách rất nhiều phần, có dòng họ thách ít: Cơ Nur Đạ Chọ thách 30 phần, Crìn thách 22 phần, Krơ Yô Đạ Nar thách 18 phần, Lùng Đơn thách 18 phần, Blú Đạ Tràng thách 15 phần. Mỗi phần chính là một lễ vật mà nhà trai phải đưa sang nhà gái như: trâu (rơ pụ), ché rượu cần (rơ nầm), gà (còn iơr), vịt (còn đa), dê (be), mền (ồi), gùi (sớ)… Phải đưa đầy đủ tất cả các phần nhà gái yêu cầu, nhà trai mới được đón dâu về. Như vậy, mỗi dòng họ của người Mạ đều có những đặc điểm riêng để phân biệt với dòng họ khác. Những đặc điểm riêng này chỉ tồn tại trong tâm thức của mỗi người và được thể hiện qua phong tục của dòng họ đó, chứ chưa có gia phả để ghi chép như những dòng họ ở địa phương khác.

Một đặc điểm nữa của dòng họ người Mạ ở Đạ Oai là tiêu chí lựa chọn người trưởng họ. Dòng họ là một thiết chế quan trọng trong xã hội người Mạ và được tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dưới. Tất cả những người trong dòng họ cùng thờ một ông tổ họ, cầu ông ban cho sức khỏe, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc, đi xa được bình an vô sự... Người đứng đầu một dòng họ được gọi là trưởng họ (kơ noar tum), chức này tồn tại theo hình thức cha truyền con nối, nếu cha là trưởng họ, khi cha chết người con trai trưởng sẽ thay cha làm trưởng họ. Tuy nhiên nếu người con trai trưởng đó không có năng khiếu và khả năng về đan, rèn, săn bắn cũng như giao tiếp không tốt, chức trưởng họ sẽ được giao lại cho người con trai thứ trong gia đình. Người con trai thứ phải tỏ rõ năng lực hơn hẳn anh mình về nhiều mặt, đặc biệt phải biết ứng xử trên dưới, trước sau sao cho hợp lý, phải nắm rõ những người trong dòng họ mình làm gì, ở đâu... Còn nếu như gia đình đó không có con trai hay có con trai nhưng không đủ yêu cầu dòng họ đặt ra, chức trưởng họ được truyền lại cho người con gái, nhưng thông thường trường hợp này ít khi xảy ra. Nói chung để trở thành người trưởng họ của một dòng họ, bản thân người đó phải có năng lực, uy tín nhất định và đủ khả năng thuyết phục được các thành viên trong họ.

Vai trò to lớn của trưởng họ trong dòng họ cũng là một đặc điểm của dòng họ người Mạ ở xã Đạ Oai. Ông là người thay mặt dòng họ giải quyết tất cả công việc từ đối nội đến đối ngoại khi một gia đình trong họ có việc lớn: cưới xin, tang ma. Công việc đầu tiên của gia đình này là đến thông báo cho trưởng họ biết, người trưởng họ có thể thay mặt gia đình phân công công việc phù hợp cho thành viên trong dòng họ, tiếp khách giúp gia đình và là người đứng ra chủ trì các nghi lễ cúng tế. Hoặc khi người nào đó trong họ gặp khó khăn, trưởng họ cùng với người già trong dòng họ đứng ra giải quyết, ông có thể quyết định mỗi gia đình trong họ sẽ giúp đỡ người khó khăn bằng hình thức nào. Bên cạnh đó, ông còn là người đứng ra giải quyết những xích mích, xung đột xảy ra trong dòng họ hoặc dòng họ mình với dòng họ khác. Lúc đó, trưởng họ phải thể hiện được vị trí, vai trò, trí tuệ, sự khôn khéo để giải quyết êm thấm mọi xung đột, xích mích, giúp mọi người hiểu nhau, thông cảm cho nhau và bỏ qua những hiểu lầm. Đặc biệt, vai trò của trưởng họ được thể hiện rõ nhất trong quá trình sản xuất. Đó là trước khi chọn một khu rừng để tiến hành sản xuất, người trưởng họ phải tập hợp thành viên trong họ lại, sau đó nói kế hoạch để mọi người cùng biết và chuẩn bị. Đầu tiên là người trưởng họ, đồng thời là già làng (7) chọn ngày để phát rẫy (mur mir) và tiến hành cúng xin thần rừng cho mình cùng con cháu được phát rừng làm rẫy, tiến hành trồng trọt. Lễ vật khi cúng phải có cá bắt dưới sông, một bó rau lấy ở trong rừng, một con gà trống. Sau lễ cúng, mọi người cùng nhau bắt tay vào phát rừng kể cả trưởng họ. Sau khi phát khoảng 1 tháng, họ tiến hành đốt rẫy (chu mir), ngày đốt thường là vào ngày trăng tròn (ngày rằm), vì họ cho rằng đốt vào ngày trăng tròn mới được mùa, còn nếu đốt vào ngày trăng khuyết sẽ bị mất mùa do cây không phát triển được. Họ cũng kiêng đốt vào ngày trăng mọc (ngày đầu tiên có trăng của kỳ đó) vì sợ cỏ sẽ mọc nhiều, lấn át cả cây trồng. Lửa để đốt được tạo ra từ cây mum khô với dây mây cọ với nhau, đốt xong mọi người dọn lại và bắt đầu xuống giống (tụch tìl kòi tờm ụ). Khi xuống giống, người trưởng họ cùng các thành viên tập trung lại cùng nhau cúng thần linh, đây chính là lễ cúng đầu mùa (lơh yàng tầm sơ nam) của người Mạ, trong lễ cúng phải có gà, rượu cần, cơm nếp. Khi cúng xong, tất cả mọi người trong dòng họ gieo giống và cùng nhau làm cỏ, chăm sóc cho cây sinh trưởng, phát triển. Đến lúc thu hoạch thì trước khi chuẩn bị thu hoạch, họ lại cúng một lần nữa, gọi là cúng cuối mùa (lơh yàng gơh sơ nam), lễ vật khi cúng là gà trống, trứng gà, một nắm cơm nếp và một ché rượu cần. Kết thúc buổi lễ cũng là lúc mọi người tiến hành thu hoạch và đưa nông sản về kho, khi thu hoạch, họ không chỉ cúng ở ngoài rẫy mà còn cúng ở kho lúa. Như vậy, trưởng họ của người Mạ ở xã Đạ Oai giữ vai trò vô cùng to lớn, ông là người khởi xướng, hướng dẫn các công việc đồng thời cũng là người chủ trì các nghi lễ trong quá trình sản xuất của một dòng họ.

Đặc điểm cuối cùng của dòng họ người Mạ ở xã Đạ Oai là tính hiếu khách được thể hiện rõ nét trong lễ hội đâm trâu (tách nang yô sa rơ pu). Công việc đầu tiên trong lễ hội đâm trâu là mời khách (wá rơh drang) đến tham dự. Người chủ (trưởng họ) trộn gạo với củ nghệ tượng trưng cho ngày lễ, rồi bỏ vào một cái ống mang đến nhà người mà mình muốn mời tới dự, khi mời nếu như người đó đồng ý đi thì sẽ cắn một hạt gạo và được xem như là một giao ước. Công việc mời khách đã xong, tiếp đến là việc chuẩn bị cho lễ hội đâm trâu, công tác chuẩn bị được tiến hành trong khoảng một tháng. Con trai trong dòng họ vào rừng chặt cây để làm cây nêu, dựng một nhà rông nhỏ mang tính tượng trưng, con gái đi kiếm rau, giã gạo, lấy củi, lấy nước... Tất cả những công việc này được làm ban ngày, còn tối đến họ tập trung lại tập đánh cồng chiêng, múa, hát. Đến ngày mở lễ hội, khi khách đã đến đông đủ, các thành viên trong dòng họ tổ chức lễ hội đâm trâu, mang cơm nếp và rượu cần ra để tiếp khách. Một điều không thể thiếu trong lễ hội đâm trâu là trước khi uống rượu, người trưởng họ tiến hành cúng tế thần linh. Sau đó, cả chủ và khách đều tham gia nghi lễ đâm trâu (đâm 2 phát vào phía sau con trâu, nhưng trâu vẫn chưa chết). Người trưởng họ tiếp tục dùng một con gà trống, một ché rượu cần, một tấm đắp để cúng tế, vừa cúng vừa đâm trâu, kêu yàng cho năm sau được mùa, con cháu mạnh khỏe, không bệnh tật, buôn làng bình an. Sau khi trâu đã chết, họ lấy tấm đắp đắp lên mình trâu, bôi tiết gà vào đầu trâu rồi mới làm thịt đãi khách và chia phần. Cả khách lẫn chủ cùng mọi người trong buôn ăn uống vui vẻ, hát ca, nhảy múa, đánh cồng chiêng trong khoảng 6 ngày. Đến ngày thứ 7, trưởng họ làm lễ tiễn khách, kết thúc lễ hội đâm trâu, khi về, những người khách tham dự được biếu một phần thịt trâu mang về. Như vậy, lễ hội đâm trâu của người Mạ ở Đạ Oai không chỉ mang ý nghĩa cầu cho mùa màng tốt tươi, bội thu mà còn là dịp để dòng họ này thể hiện tấm lòng hiếu khách của mình với dòng họ kia. Hiện nay, việc tổ chức lễ hội đâm trâu giữa các buôn, các dòng họ như trên không còn diễn ra nữa, và dù góp phần làm giảm sự tốn kém, lãng phí cho cộng đồng nhưng nó lại làm mất đi bản sắc văn hóa riêng của người Mạ nơi đây.

Từ ngày 1-6-1994 người Mạ mới bắt đầu định cư theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, họ không còn ở những ngôi nhà dài, thay vào đó là ở nhà trệt. Đồng thời với chủ trương định canh, định cư cho đồng bào Mạ ở đây, Nhà nước cũng đã đầu tư làm đường, xây dựng trường học, kéo đường điện đến thôn, xã mang ánh sáng đến mọi nhà... Hiện nay các buôn của người Mạ sống quây quần, tụ cư tại một khu vực nhất định. Việc định cư này rất thuận lợi cho việc giao tiếp, sinh hoạt và sản xuất nhưng nó cũng làm mất đi những nét văn hóa riêng của đồng bào nơi đây, đặc biệt là những đặc trưng văn hóa của dòng họ người Mạ ở xã Đạ Oai.

Khi người Mạ sống quây quần tại một khu vực nhất định với những ngôi nhà ván, nhà xây hay ngôi nhà tình thương thì cũng là lúc tất cả các dòng họ của Mạ chỉ có một già làng duy nhất, và những đặc trưng riêng của từng dòng họ bị mờ nhạt dần, cách thức tổ chức trong dòng họ bị thay đổi và mối quan hệ giữa các dòng họ không còn được thể hiện đậm nét qua lễ hội đâm trâu... đặc biệt vai trò của trưởng họ trong mỗi dòng họ giảm đi rõ rệt. Họ vẫn giữ vai trò là trưởng họ nhưng không còn thay mặt các gia đình trong dòng họ giải quyết tất cả công việc. Hiện nay, mỗi gia đình của người Mạ nơi đây đã tự quyết định mọi lĩnh vực liên quan đến cuộc sống của gia đình từ ăn, ở, sinh hoạt, sản xuất cho đến đối nội, đối ngoại. Tuy nhiên, ở một số công việc, họ vẫn hỏi ý kiến của trưởng họ nhưng không còn bị động, phụ thuộc vào trưởng họ như trước kia.

Như vậy, đặc điểm của dòng họ người Mạ ở xã Đạ Oai đã góp phần quan trọng tạo nên nét đẹp trong đời sống văn hóa của con người nơi đây. Tuy nhiên, những đặc trưng này đang dần dần bị mờ nhạt và mất đi, thay vào đó là yếu tố văn hóa hiện đại. Bên cạnh những thuận lợi do sự thay đổi này mang lại thì văn hóa truyền thống của người Mạ cũng mất đi những nét đẹp vốn có của nó mà không biết lúc nào mới có thể khôi phục lại được.
_______________

1. Số liệu từ ủy ban nhân dân xã Đạ Oai.
2. PGS. TS Lê Trung Hoa, Họ và tên người Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2005, trang 36.
3. Đại Nam nhất thống chí, tập Thượng, bản dịch, Sài Gòn, 1959, trang 4 - 5.
4. Tên họ được đồng nhất với tên buôn đồng thời cũng được đồng nhất với tên con suối.
5. Kết quả khảo sát ở địa phương của tác giả.
6. Sau khi người vợ sinh con xong, người chồng sẽ mang nhau thai ra và lấy nước sôi đổ vào để cho nhau teo nhỏ, rồi mang rat reo lên cây ở những đồi gần nhà mình.
7. Có nghĩa là già làng và trưởng họ do một người đảm nhiệm. Còn hiện nay trưởng họ có thể là già làng hoặc không. Tùy theo sự sắp xếp của Nhà nước, các buôn ở định cư lại với nhau trên một khu vực nhất định. Do vậy mỗi dòng họ vẫn có một trưởng họ nhưng chỉ có một già làng. Vì thế chỉ có một trưởng họ trong các các dòng họ được làm già làng. Hiện nay người giữ cương vị già làng của người Mạ ở xã Đạ Oai là ông K’ Chơng, ông là trưởng họ của dòng họ lớn nhất: họ Krơ Yô Đạ Nar.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 360, tháng 6-2014
Tác giả: Nguyễn Thị Liên


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo



Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp