• Pic Mgmt

    TÌM THẤY CUỐN GIA PHẢ HỌ CAO Ở PHÚ THỊ

    Gần đây, chúng tôi tìm lại được cuốn gia phả của họ CAO ở Phú Thị, nay thuộc xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Cuốn gia phả này viết bằng chữ Hán, gồm 91 trang (mất 2 trang 17 và 18), trong đó lời dẫn 4 trang, còn lại là nội dung gia phả...

  • Pic Mgmt

    AI ĐÃ KHÁM PHÁ RA CHÂU MỸ?

    Chú thích của CBN: Tôi tình cờ đọc được bài này trên mạng. Tôi hoài nghi vì nội dung bài viết, nên đăng lại toàn văn bài viết này để các nhà sử học, các nhà nghiên cứu cổ sử cùng tham khảo & tìm hiểu xem sư thật là ai đã có công phát hiện ra Châu Mỹ? Zeng là người Bách Việt hay người nhà Minh (Trung Hoa)?...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP...

    Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 …

  • Pic Mgmt

    BẰNG CHỨNG KHẲNG ĐỊNH KINH DỊCH LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT

    ...Ở Việt nam, ảnh hưởng của Kinh Dịch và thuyết âm dương ngũ hành cũng hết sức mạnh mẽ; đồng thời do hoàn cảnh lịch sử hầu hết các tác phẩm viết về Kinh Dịch cũng bằng chữ Nho. Với bề dày lịch sử phát triển và truyền bá kinh Dịch như vậy, nên đa phần những người nghiên cứu mặc nhiên xem Trung hoa như là quê hương của kinh Dịch. Tuy nhiên trong vài thập niên qua, tại Việt nam, có nhiều người lên tiếng cho rằng kinh Dịch là sản phẩm của người Lạc Việt...

  • Pic Mgmt

    Những khám phá bí ẩn về cột đá chùa Dạm ở Bắc Ninh

    Chùa Dạm, tên chữ là Cảnh Long Đồng Khánh tự hay Đại Lãm Tự là ngôi chùa cổ ngàn năm tuổi nằm ven sườn phía nam núi Đại Lãm (xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh). Dù trải bao biến cố thời gian, chùa vẫn giữ được những vết tích gợi nhắc về một công trình kiến trúc từng được mệnh danh là đại danh lam thắng cảnh thời nhà Lý...

  • Pic Mgmt

    DÂN TỘC KINH Ở GIANG BÌNH (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc)

    Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh là một trong 55 dân tộc thiểu số chiếm số lượng khiêm tốn 18.700 người so với một số dân tộc khác như người Choang 15.555.800 người, người Di 6.578.500 người,... [1] Trên các trang web, bản đồ, các sách tổng quan chung về các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc hiện nay [2] khi giới thiệu về dân tộc Kinh thường ghi ngắn gọn về địa bàn cư trú tập trung nhất của họ là ở Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây...

  • Pic Mgmt

    NGÔI ĐỀN THỜ THẦY GIÁO CỔ NHẤT VIỆT NAM

    ...Cho đến nay, qua những chứng tích còn lại, đây là ngôi đền thờ người thầy, tôn vinh sự học cổ nhất ở Việt Nam, tương truyền dạy dỗ các Vua Hùng. Thiên Cổ Miếu nằm trong một quần thể di tích: Đình Hương Lan, Lăng mộ ba đô sĩ thời Hùng Duệ Vương và Miếu Thiên Cổ, là thắng tích của Trung chi Hùng lĩnh, đền thiêng của cả trời Nam...

  • Pic Mgmt

    ƯỚC MUỐN KHÔI PHỤC MỘT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

    Cuối tháng 10 năm 2012, ông Lê Đức Chắn, một chủ lán thuyền lớn ở thôn Cống Mương (phường Phong Hải, TX Quảng Yên) đến Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã nộp đơn xin công nhận làng nghề đóng tàu thuyền truyền thống phường Phong Hải...

  • Pic Mgmt

    ĐI TÌM DIỆN MẠO LINH VẬT VIỆT

    Làm sao phân biệt sư tử đá VN và sư tử “ngoại lai”? Linh vật gì được cho là thuần Việt? Các câu hỏi đó ngày càng cần có lời giải đáp, nhất là khi các làng nghề chuyên chế tác sư tử đá lâm vào cảnh “sống dở chết dở” (Tuổi Trẻ ngày 16 và 17-9). Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến của những nhà nghiên cứu, bước đầu đi tìm diện mạo của những linh vật “phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”...

  • Pic Mgmt

    DẤU XƯA Ở NGÔI LÀNG CỔ BÊN BỜ SÔNG MÃ

    Đến với làng cổ Đông Sơn là đến với không gian văn hóa lâu đời, đến với những ngôi nhà cổ có tuổi đời hơn 200 năm. Ẩn chứa trong mỗi ngôi nhà ấy, di tích lịch sử ấy không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc, văn hóa thẩm mỹ mà còn mang trong mình những câu chuyện thú vị và đầy ý nghĩa...

  • Pic Mgmt

    NHO GIÁO LÀ CỦA VIỆT NAM...

    Lời giới thiệu: Giáo sư Kim Định tên đầy đủ là Lương Kim Định (15 tháng 6, 1915 – 25 tháng 3, 1997) là giáo sư, nhà triết học, linh mục Việt Nam. Ông có công lớn trong việc xây dựng nền tảng cho triết học Việt Nam (mà ông gọi là Việt Triết hay Việt Nho).

  • Pic Mgmt

    SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN-NÔM

    ...Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng...

  • Pic Mgmt

    BẢO THÁP PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

    Bảo tháp Phật hoàng Trần Nhân Tông đã 700 năm tuổi, vẫn còn đó, uy nghi, sừng sững giữa trời mây gió....Tôi quả thực xúc động khi lần đầu tiên trong cuộc hành trình xuyên rừng dọc ngang Yên Tử, được chứng kiến một di tích còn khá nguyên vẹn, hoang sơ, đặc biệt, đó lại là di tích quan trọng nhất của hệ thống Ngọa Vân cũng như của cả dải Yên Tử này...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX QUA ẢNH CỦA TRƯỜNG VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ

    Nhân dịp Năm Việt Nam tại Pháp 2014, Bảo tàng Cernuschi, Paris đang tổ chức triển lãm ảnh đặc biệt mang tên Objectif Việt Nam. Ảnh của Trường Viễn Đông Bác cổ. Các bức ảnh ghi lại không chỉ hành trình khoa học và sứ mạng bảo tồn hơn nửa thế kỷ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam, mà còn cả cuộc sống đời thường của xã hội Việt Nam cách đây cả thế kỷ...

  • Pic Mgmt

    BÀN VỀ KHỞI NGHĨA TÂY VŨ VƯƠNG

    Một số sử gia xác quyết rằng: Tại Giao Chỉ và Cửu Chân vào năm 111TCN, xảy ra cuộc nổi dậy của nhân dân, chống lại sự xâm lược của nhà Tây Hán, do thủ lĩnh Tây Vu lãnh đạo. Nhà sử học Trần Quốc Vượng còn cho rằng: Tây Vu Vương đã thiết lập được một thái ấp hay chính quyền tại Cổ Loa...

Chi tiết

HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

Đăng lúc: 2014-06-30 17:53:50 - Đã xem: 11609

CAO BÁ NGHIỆP:

Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!

Nội dung thông tin sẽ luôn luôn được chỉnh sửa, cập nhật mới. Kính mong quý vị, bà con cô bác & bạn đọc gần xa quan tâm theo dõi. Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 3, ngày 22 tháng 9 năm 2014.

Mọi thư từ trao đổi, v
ui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:
E-mail: caonghiep07@gmail.com
Mobile: 0918 028 053 / 0933 392 604

DANH SÁCH MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU HỌ CAO XƯA & NAY 


1. Cao Lỗ (?-179 trước Công nguyên): Danh tướng của Thục Phán An Dương Vương. Người chế tạo nỏ thần & có công xây thành Cổ Loa. Hiện có đền thờ Cao Lỗ Vương ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, thành phố Bắc Ninh.

2. Cao Doãn (năm 40-43): Người chỉ huy thủy quân tài giỏi dưới thời Hai Bà Trưng.


3. Cao Bà Liên Nương (năm 40-43):
(Nàng Sen, Cao Thị Liên), Vị tướng mưu lược của Hai Bà Trưng.


4. Cao Nhự (năm 40-43):
Nữ tướng thủy binh đầu tiên của Hai Bà Trưng.


5. Cao Tiến Đức (Thế kỷ XIII):
Gần đây, mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức – là người đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng.


6. Cao Quýnh (1449-?):
Nguyên quán: làng Lương Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa. Đỗ Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ năm 1475 thời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Đông các đại học sĩ.


7. Cao Đức Uý (1621-1689):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Nhâm Thìn (1652) ông đi thi Hội, trúng Tam Trường, được bổ chức Nho Huấn Đạo phủ Ứng Thiên.


8. Cao Dương Trạc (1690-1753):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729). Ông làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lễ, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.


9. Cao Huy Dật (1707-1749):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đậu Nho sinh trúng thức, chức Phụng Thị Văn Nội Giảng. Ông là cháu ruột, gọi Thượng thư Cao Dương Trạc là chú. Năm 1747, ông được thượng thư Cao Dương Trạc ủy thác viết gia phả họ Cao (CAO DƯƠNG GIA PHẢ TẬP)


10. Cao Tư (thế kỷ XVII):
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Cụ làm quan võ dưới triều Lê trung hưng. Khi mất được phong tước Thái Bảo Thọ Quận Công - Phó Quốc. Tổ phụ cụ Cao Tư di dời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp ở Thành Hóa. Dòng họ cụ Cao Tư có đến 30 võ quan dưới triều Lê trung hưng. Năm 2003, Sở Văn Hóa Thanh Hóa đã cấp bằng công nhận cụ Cao Tư là “Danh nhân văn hóa” của tỉnh và được xây dựng đền thờ tại thôn Hoằng Lộc, Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.


11. Cao Đình Độ (1741-1810) & con trai là Cao Đình Hương:
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Tổ phụ ông di đời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Những người thợ kim hoàn ở miền Trung đều coi hai bố con ông là tổ sư của nghề Kim hoàn, họ lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ. Di tích nhà thờ Tổ nghề kim hoàn được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 168-QĐ/VH, ngày 2/3/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).


12. Cao Huy Diệu (1786-1820):
Danh sĩ Thăng Long. Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Giải Nguyên khoa Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn Gia Long, làm quan đốc học phủ Gia Định (nay là huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ông là tác giả của Cấn trai thi tập và Việt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) hiệu là Vô Song, tự là Hồng Quế Hiên


13. Cao Huy Tố (1803- ?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu vua Gia Long thứ 18 (1819). Cao Huy Tố được bổ làm Huyện Doãn huyện Cẩm Giàng, ông là con trai trưởng danh sĩ Cao Huy Diệu (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 42 ghi: Cha con, anh em cùng đăng khoa).


14. Cao Xuân Nguyên (1808-?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), ông là con trai thứ hai danh sĩ Cao Huy Diệu. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 76).


15. Cao Bá Quát (1809-1865):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh nhân văn hóa. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), và là em song sinh với Cao Bá Đạt. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 77). Làm quan tới chức Giáo thụ phủ Quốc Oai, cáo quan về quê chăm sóc mẹ già 68 tuổi. 
Cao Bá Quát là nhà cách mạng, quân sự của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1854-1855) chống lại triều đình Nhà Nguyễn. Năm 2010, thành phố Hà Nội hoàn thành công trình xây dựng Nhà tưởng niệm Danh nhân Cao Bá Quát tại quê hương ông. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu quốc học thành phố HCM hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (gồm 2 tập). Năm 2013, nhà thờ họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa.


16. Cao Bá Đạt (1809-1855):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh sĩ Thăng Long. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15 (1834), và là anh song sinh với Cao Bá Quát. (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 62 ghi: anh em cùng đăng khoa). Ông làm quan tới chức tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Ông nổi tiếng văn chương, giỏi chính trị. Khi mất, nhân dân lập đền thờ ông ở Thanh Hóa.


17. Cao Văn Tụy (……..):
Quê quán Đoài Giáp, Phúc Thọ, Sơn Tây. Ông đỗ Cử nhân năm Canh Tý, niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840), làm quan đến chức Lang trung Bộ Hộ (hồ sơ số H62/4 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 02, mặt khắc 26).


18. Cao Duy Trân (…….):
Quê quán Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Làm quan đến chức Tri phủ (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


19. Cao Văn Dao (…….):
Quê quán Đông Tác, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Nhiều đời đăng khoa, làm quan tri huyện Yên Lạc. Ông là cháu danh sĩ Cao Huy Diệu, con của Cao Văn Nguyên. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


20. Cao Văn Bính (…….):
Quê quán Phương Đình, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc Nguyên niên (1884). Ông là chú họ của Cao Văn Trứ (Chú cháu cùng đăng quang). Ông làm quan Tri huyện. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 58).


21. Cao Xuân Dục (1843-1923):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đỗ cử nhân năm 1876. Làm quan đến Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1903) triều Nguyễn, Đông các Đại học sĩ.


22. Cao Xuân Tiếu (1865-1939):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Làm quan đến Thượng Thư, Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán triều Nguyễn.


23. Cao Hữu Dực (Thế kỷ XIX):
Nguyên quán Thanh Hóa. Thượng thư Bộ binh, Tổng Đốc An Hà (An Giang & Hà Tiên) thời Minh Mạng. Ông Đậu Hương Cống năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) - Theo THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ĐỄ NHỊ KỶ, QUYỂN XXXIV. Ông giỏi về văn chương và là người khai sinh Tuồng Ô Thước.


24. Cao Thắng (1864-1893):
Nguyên quán Hà Tĩnh. Tướng của Phan Đình Phùng. Người chế tạo súng trường theo kiểu của Pháp.


25. Cao Quảng Thuận:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869.


26. Cao Văn Hứa:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869


27. Cao Bá Nghi (Thế kỷ XIX):
Đô đốc thành Gia Định dưới thời Minh Mạng (1791-1841). Ông cũng là người giỏi về văn thơ.


28. Cao Văn Lầu (1892-1976):
Nhạc sỹ, tác giả Dạ cổ hoài lang.


29. Cao Quỳnh Cư (1888 -?), Cao Hoài Sang (1901-1971):
Thượng Phẩm, Thượng Sanh của Đạo Cao Đài - (Đạo do người Việt Nam thành lập).


30. Cao Xuân Huy (1900-1983):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).


31. Cao Văn Khánh (1917-1980):
Trung Tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân VN - Bộ Quốc Phòng.


32. Cao Đăng Chiếm (1921-2007):
Thượng Tướng-Thứ trưởng Bộ Công An.


33. Cao Văn Viên (1921-2008):
Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa (dưới thời Ngô Đình Diệm) – Nguyên quán: Hưng Yên (Bắc Việt Nam), sinh tại Viên-chăn (Lào).


34. Cao Tiến Phiếm (1941):
Thiếu Tướng, trợ lý Tổng bí thư; Nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng. Hiện là trưởng Ban liên lạc họ Cao Việt Nam.


35. Cao Xuân Hồng:
Trung Tướng, Phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát QLHC về TTATXH - Bộ Công An.


36. Cao Ngọc Oánh:
Trung Tướng, Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát THAHS & HTTP - Bộ Công An.


37. Cao Phòng (? -1991):
Thiếu Tướng - Nguyên phó cục trưởng cục cảnh sát nhân dân - Bộ Công An.


38. Cao Minh Nhạn:
Thiếu Tướng - Phó Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát PCTP - Bộ Công An.


39. Cao Long Hỷ:
Thiếu Tướng - Cục trưởng cục bảo vệ an ninh quân đội - Bộ Quốc Phòng.


40. Cao Lương Bằng:
Thiếu Tướng - Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy QS tỉnh Hà Tỉnh.


41. Cao Xuân Khuông:
Thiếu Tướng, phó Tư lệnh quân khu 4.


42. Cao Chi (1931):
Nguyên quán ở Quảng Ngãi. GS-TS ngành Vật Lý. Chủ nhiệm 2 đề tài cấp Nhà Nước (tính lò phản ứng; đưa điện nguyên tử vào VN). Huy chương vì Sự Nghiệp KH & CN.


43. Cao Cự Bội (1937):
Giáo sư - Tiến sĩ. Cố vấn tài chính - tiền tệ cho Thủ tướng Việt Nam và Thủ Tướng Lào. Nguyên Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Đại Việt (khen thưởng HC vì Sự nghiệp GD, HC vì Sự nghiệp KH&CN).


44. Cao Sĩ Kiêm (1941):
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (từ năm 1989-1997). Hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ VN.


45. Cao Tiến Huỳnh (1947):
GS-TSKH, Viện trưởng viện tự động hóa Quân sự - Bộ Quốc Phòng.


46. Cao Minh Quang (1953):
Thứ trưởng Bộ Y tế.


4
7. Cao Lại Quang (1955): sinh tại Thanh Hóa. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.


48. Cao Đức Phát (1956):
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.


49. Cao Thị Bảo Vân (1962):
TS-Phó Viện trưởng viện Pasteur Tp.HCM, đạt giải WIPO và giải Vifotec năm 2007.


50. Cao Văn Bổn:
Bộ trưởng Bộ Kinh Tế-Tài Chính, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1969-1976).


51. Cao Xuân Thấn:
Đại sứ Việt Nam tại Ma-rốc.


52. Cao Viết Sinh:
Thứ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư.


53. Cao Đức Thái:
TS-Viện Trưởng, Chủ tịch HĐKH Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Hành chính Quốc Gia HCM.


54. Cao Duy Tiến:
PGS-TS, Viện trưởng Viện KHCN Xây Dựng - Bộ Xây Dựng.


55. Cao Văn Sung:
GS-TSKH, phó Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật.


56. Cao Văn Viên:
TS-Phó Viện trưởng Viện Y Học Lâm Sàng và Các Bệnh Nhiệt Đới (thời gian 1995 – 2006).


57. Cao Minh Châu:
PGS-TS tại ĐH Y Hà Nội, Chủ tịch hội Đông Y HN, UVTV BCHTW hội Đông Y VN.


58. Cao Văn:
PGS-TS Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương.


59. Cao Tiến Đức:
PGS-TS Đại tá – Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý học Bệnh viện Quân y 103 (Hà Đông, Hà Nội).


60. Cao Thế Hà:
PGS-TS tại ĐH KHTN (HN), Phó GĐ TTNC CN & MT.


61. Cao Văn Thịnh:
PGS-TS, BS Trưởng khoa Lồng ngực Mạch máu BV ND 115 HCM, Nhà khoa học VN.


62. Cao Đình Thanh:
TS-Phó Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử VN - Bộ KH & CN.


63. Cao Minh Kiểm:
phó Cục trưởng Cục TT & KH-CN Quốc Gia - Bộ KH & CN.


64. Cao Huy Long:
Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bô - Bộ KH & CN


65. Cao Hữu Trí:
GS-TS. Tổng giám đốc Viện công nghệ cao Sài Gòn tại Mỹ (SAIT)


66. Cao Đình Triều:
PGS-TS. Phó chủ tịch hội Địa chấn Châu Á, Tổng thư ký Hội KH & KT Địa Vật lý VN.


67. Cao Văn Luận (1908-1986):
GS-Thành viên sáng lập và là Viện trưởng viện ĐH Huế (năm 1957-1964) nay là trường ĐH Huế.


68. Cao Văn Tụ (1920):
Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (1987-1988). (Tham gia Cách mạng đổi tên là Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần).


69. Cao Văn Phường (1940):
Nguyên quán tại Cà Mâu. GS-TSKH, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kỹ sư LB Nga (A.M Prokhorov). Hiện là Hiệu trưởng trường Đại Học Bình Dương.


70. Cao Hữu Trượng (1936):
PGS-TS.Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.


71. Cao Minh Thì:
PGS-TS.Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TP HCM.


72. Cao Văn:
GS-TS Hiệu trưởng trường ĐH Hùng Vương (Tỉnh Phú Thọ).


73. Cao Ngọc Thành (1958):
GS-TS, NGƯT Hiệu trưởng trường ĐH Y Dược Huế.


74. Cao Việt Dũng:
TS. Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh.


7
5. Cao Trường Sinh: GS-TS. Phó hiệu trưởng ĐH Y Khoa Vinh.


76. Cao Văn Sâm:
PSG-TS, Phó tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB - XH).


77. Cao Văn Trọng:
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre.


78. Cao Thị Hải:
Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình


79. Cao Thế Dung:
GS-TS, Sử gia nổi tiếng ở Pháp.


80. Cao Huy Thuần:
Nhà nghiên cứu văn hóa sử nổi tiếng ở Pháp.


81. Cao Tiến Lê:
Nhà văn - Giám đốc bảo tàng văn học Việt Nam.


82. Cao Văn Chí:
BSCK II - Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Tây Ninh.


83. Cao Việt Bách:
Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam.


GHI CHÚ:
Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác (ví dụ: Quê quán, năm sinh, năm mất...). Bản danh sách nói trên chỉ là những thống kê bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!


Mọi thư từ trao đổi, vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:

 

CAO BÁ NGHIỆP

Mobile : 0918 028 053 / 0933 392 604.
E-mail :
cbn@caobaquat.com.vn

caonghiep07@gmail.com

 Video tham khảo

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp