• Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II)

    Xin trân trọng báo tin vui: Năm 2004, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học đã hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP I). Đến nay (2012), sau hơn 8 năm Trung Tâm đã hết sức cố gắng nỗ lực để hoàn thành bộ CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II), cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    DẤU TÍCH VƯƠNG TRIỀU CHAMPA Ở CẤM MÍT

    Các nhà khảo cổ vừa khai quật di chỉ vương triều Champa ở Cấm Mít (Hòa Vang, Đà Nẵng) và phát hiện dấu tích của một nền văn hóa Chăm rực rỡ cùng đền đài, cung điện nguy nga bị chôn vùi cả ngàn năm qua. Đoàn nghiên cứu gồm các chuyên gia khảo cổ hàng đầu Việt Nam của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Bảo tàng Điêu khắc Chăm đã về Cấm Mít thuộc thôn Cẩm Toại Đông (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng). Họ đi tìm dấu tích của Vương quốc Champa đã bị vùi sâu trong lòng đất Cấm Mít...

  • Pic Mgmt

    NGÔI ĐỀN LƯU GIỮ NHIỀU BÍ ẨN

    Đền Cao thuộc thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương toạ lạc trên một ngọn đồi cùng vành đai với 99 quả đồi nổi danh từ câu ca huyền thoại về đàn chim nhạn của người dân nơi đây: “Chín mươi chín con theo mẹ dòng dòng/Một cô con gái phải lòng bên kia”...

  • Pic Mgmt

    HỔ QUYỀN TRIỀU NGUYỄN

    Có thể nói trên phương diện thể thao, Việt Nam là nước có nhiều trò thi đấu sử dụng cầm thú nhất thế giới. Phổ biến là chọi gà, chọi chim, đến chọi trâu ở Đồ Sơn, đua voi ở Tây Nguyên. Độc đáo nhất là trò đấu hổ - voi dưới triều Nguyễn. Có lẽ ở châu Á và cả thế giới nữa, đến nay chỉ còn có một đấu trường đấu hổ duy nhất còn tồn tại ở Huế. Đấu trường đó gọi là Hổ Quyền, một di tích quý còn nguyên vẹn trong quần thế Di tích làm nên Di sản thế giới Huế...

  • Pic Mgmt

    THẦN TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI GIA ĐÌNH HÙNG VƯƠNG

    ...Dấu ấn về thời kỳ Hùng Vương đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ và các ngành khoa học khác chứng minh; và cũng được phản ánh sâu đậm qua nguồn tài liệu ngọc phả, thần phả, phả lục, cổ lục… mà theo thuật ngữ chuyên môn gọi chung là thần tích. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 568 tập thần tích mang ký hiệu AE ghi chép về sự tích các thần và việc thờ cúng các thần ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    CÂU KIỀU TẶNG TỔNG THỐNG OBAMA

    Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Obama và bài phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong dư luận truyền thông quốc tế cũng như trong lòng người dân Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    CỐ ĐÔ HOA LƯ (NINH BÌNH)

    Cách Hà Nội chừng 100km về phía Nam theo Quốc lộ 1A, cố đô Hoa Lư thuộc địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, một vùng núi non kỳ vĩ và hiểm trở làm thủ đô - “kinh đô đá”...

  • Pic Mgmt

    THÂN TẶNG CỐ HỮU TAM LANG VŨ ĐÌNH CHÍ

    Trong số các bài thơ lưu bút của cha tôi, có bài ông viết năm 1981 đề tặng nhà báo Tam Lang (Vũ Đình Chí) sau 26 năm xa cách. Năm 1981, trong chuyến viễn du NGÀN DẶM VÔ NAM của thi sĩ Thao Thao vào thăm gia đình & các bạn ở miền Nam, ông đã gặp lại các bạn cũ như Nguyễn Hiến Lê, nhà thơ Linh Điểu, nhà nghiên cứu văn hóa Toan Ánh, Chàng Ngô, Cả tếu Bẩy Hiền, nhà báo Tam Lang v.v...

  • Pic Mgmt

    NỮ TƯỚNG BÙI THỊ XUÂN

    Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra rất nhiều nữ tướng anh hùng hào kiệt, bất khuất và không ít người trong số đó đã trở nên bất tử với cái chết trung liệt của mình được đời đời kính ngưỡng. Cái chết của nữ tướng Tây Sơn, Đô Đốc Bùi Thị Xuân là một trong những nữ tướng anh hùng của Tây Sơn và cái chết lẫm liệt, bất tử của bà đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người được truyền lại qua nhiều thế hệ...

  • Pic Mgmt

    CÂY HOA ĐẠI CHỮA ĐAU NHỨC CHÂN RĂNG

    Hoa đại có công dụng tiêu đờm, trừ ho, hạ áp, làm thuốc chữa ho, kiết lỵ... Hoa đại khô có công hiệu mạnh hơn hoa tươi. Cây đại còn gọi là cây sứ, bông sứ, miễn chi, kê đảm tử…, có tên khoa học là Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey, thuộc họ trúc đào (Apocynaceae), là loài cây thân gỗ nhỏ, có thể cao đến 8 – 10m...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ

    Ghi chú: Có nhiều điều nên tránh trong cuộc sống và cũng có những điều rất cần ghi nhớ đối với mỗi người chúng ta. Xin chia sẻ thông tin dưới đây với quý vị & các bạn gần xa...

  • Pic Mgmt

    CỤ NỘI CAO HUY LỤC (1845-1876)

    Lúc sinh thời, cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) vẫn ngờ rằng, có thể cụ cố nội Cao Huy Lục là một trong 2 người con trai của Cao Bá Quát. Khi cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát thất bại (1854-1855), do sợ triều đình truy nã nên mọi người trong họ CAO đều thay tên đổi họ, chạy tứ tán khắp nơi. Lúc đó, con trai lớn của cụ Quát là Cao Bá Phùng và con trai của cụ Cao Bá Đạt tên là Cao Bá Nhạ, trốn tránh lên vùng giáp biên giới phủ Vạn Ninh (Quảng Yên, giáp biên giới Trung Quốc), triều đình truy nã mãi đến năm 1858 vẫn không bắt được Bá Phùng và Bá Nhạ. Còn người con trai thứ hai của cụ Quát tên là Cao Bá Thông lúc đó còn nhỏ tuổi...

  • Pic Mgmt

    GS CAO XUÂN HUY

    Tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban biên tập hnue.edu.vn sẽ thường xuyên đăng bài về các Học giả, Giáo sư và những Nhà giáo tiêu biểu có công xây dựng và phát triển Nhà trường trên các phương diện: Khoa học, Đào tạo, Quản lý,... Bài đăng dưới đây của Giáo sư Nguyễn Đình Chú viết về học giả Cao Xuân Huy - Giáo sư của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ 1951-1960...

  • Pic Mgmt

    GIÁO SƯ-VÕ SƯ NGÔ XUÂN BÍNH

    Xuất thân trong một gia đình có truyền thống luyện võ ở huyện Hưng Nguyên (Nghệ An), nên từ nhỏ Ngô Xuân Bính đã sớm được bố và các võ sư vùng Thanh Hoá - Nghệ An truyền thụ cho võ công. Trong ông hội tụ sự tài hoa, tinh tế của một nhà thơ, hoạ sĩ, võ sư... và sâu nặng là tấm lòng của một người Việt dành trọn tâm huyết truyền bá võ cổ truyền Nhất Nam đến với bạn bè quốc tế, ông đang góp phần làm toả sáng võ cổ truyền Việt Nam tại Nga, Belarus, Litva... và tiến tới thành lập Liên đoàn võ thuật Nhất Nam quốc tế...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU TOÀN VĂN BẢN DỊCH NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG

    Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc phả gồm 21 tờ tức 42 trang chữ Hán, tổng cộng gần 10.000 (1 vạn) chữ, xưa nay, chưa thấy ai dịch trọn vẹn. Bằng sự kiên trì và gắng sức của tuổi già, sau hơn nửa tháng, GS Ngô Đức Thọ đã hoàn thành trọn vẹn bản dịch, chỉ với một mục đích cao cả là cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc văn bản quý báu được gọi là Quốc bảo này. Và như GS Ngô Đức Thọ từng viết: Là người Việt Nam, dòng dõi con Lạc cháu Hồng, không thể không biết đến Ngọc phả Hùng Vương...

Chi tiết

HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

Đăng lúc: 2014-06-30 17:53:50 - Đã xem: 10759

CAO BÁ NGHIỆP:

Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!

Nội dung thông tin sẽ luôn luôn được chỉnh sửa, cập nhật mới. Kính mong quý vị, bà con cô bác & bạn đọc gần xa quan tâm theo dõi. Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 3, ngày 22 tháng 9 năm 2014.

Mọi thư từ trao đổi, v
ui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:
E-mail: caonghiep07@gmail.com
Mobile: 0918 028 053 / 0933 392 604

DANH SÁCH MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU HỌ CAO XƯA & NAY 


1. Cao Lỗ (?-179 trước Công nguyên): Danh tướng của Thục Phán An Dương Vương. Người chế tạo nỏ thần & có công xây thành Cổ Loa. Hiện có đền thờ Cao Lỗ Vương ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, thành phố Bắc Ninh.

2. Cao Doãn (năm 40-43): Người chỉ huy thủy quân tài giỏi dưới thời Hai Bà Trưng.


3. Cao Bà Liên Nương (năm 40-43):
(Nàng Sen, Cao Thị Liên), Vị tướng mưu lược của Hai Bà Trưng.


4. Cao Nhự (năm 40-43):
Nữ tướng thủy binh đầu tiên của Hai Bà Trưng.


5. Cao Tiến Đức (Thế kỷ XIII):
Gần đây, mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức – là người đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng.


6. Cao Quýnh (1449-?):
Nguyên quán: làng Lương Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa. Đỗ Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ năm 1475 thời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Đông các đại học sĩ.


7. Cao Đức Uý (1621-1689):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Nhâm Thìn (1652) ông đi thi Hội, trúng Tam Trường, được bổ chức Nho Huấn Đạo phủ Ứng Thiên.


8. Cao Dương Trạc (1690-1753):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729). Ông làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lễ, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.


9. Cao Huy Dật (1707-1749):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đậu Nho sinh trúng thức, chức Phụng Thị Văn Nội Giảng. Ông là cháu ruột, gọi Thượng thư Cao Dương Trạc là chú. Năm 1747, ông được thượng thư Cao Dương Trạc ủy thác viết gia phả họ Cao (CAO DƯƠNG GIA PHẢ TẬP)


10. Cao Tư (thế kỷ XVII):
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Cụ làm quan võ dưới triều Lê trung hưng. Khi mất được phong tước Thái Bảo Thọ Quận Công - Phó Quốc. Tổ phụ cụ Cao Tư di dời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp ở Thành Hóa. Dòng họ cụ Cao Tư có đến 30 võ quan dưới triều Lê trung hưng. Năm 2003, Sở Văn Hóa Thanh Hóa đã cấp bằng công nhận cụ Cao Tư là “Danh nhân văn hóa” của tỉnh và được xây dựng đền thờ tại thôn Hoằng Lộc, Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.


11. Cao Đình Độ (1741-1810) & con trai là Cao Đình Hương:
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Tổ phụ ông di đời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Những người thợ kim hoàn ở miền Trung đều coi hai bố con ông là tổ sư của nghề Kim hoàn, họ lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ. Di tích nhà thờ Tổ nghề kim hoàn được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 168-QĐ/VH, ngày 2/3/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).


12. Cao Huy Diệu (1786-1820):
Danh sĩ Thăng Long. Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Giải Nguyên khoa Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn Gia Long, làm quan đốc học phủ Gia Định (nay là huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ông là tác giả của Cấn trai thi tập và Việt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) hiệu là Vô Song, tự là Hồng Quế Hiên


13. Cao Huy Tố (1803- ?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu vua Gia Long thứ 18 (1819). Cao Huy Tố được bổ làm Huyện Doãn huyện Cẩm Giàng, ông là con trai trưởng danh sĩ Cao Huy Diệu (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 42 ghi: Cha con, anh em cùng đăng khoa).


14. Cao Xuân Nguyên (1808-?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), ông là con trai thứ hai danh sĩ Cao Huy Diệu. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 76).


15. Cao Bá Quát (1809-1865):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh nhân văn hóa. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), và là em song sinh với Cao Bá Đạt. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 77). Làm quan tới chức Giáo thụ phủ Quốc Oai, cáo quan về quê chăm sóc mẹ già 68 tuổi. 
Cao Bá Quát là nhà cách mạng, quân sự của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1854-1855) chống lại triều đình Nhà Nguyễn. Năm 2010, thành phố Hà Nội hoàn thành công trình xây dựng Nhà tưởng niệm Danh nhân Cao Bá Quát tại quê hương ông. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu quốc học thành phố HCM hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (gồm 2 tập). Năm 2013, nhà thờ họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa.


16. Cao Bá Đạt (1809-1855):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh sĩ Thăng Long. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15 (1834), và là anh song sinh với Cao Bá Quát. (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 62 ghi: anh em cùng đăng khoa). Ông làm quan tới chức tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Ông nổi tiếng văn chương, giỏi chính trị. Khi mất, nhân dân lập đền thờ ông ở Thanh Hóa.


17. Cao Văn Tụy (……..):
Quê quán Đoài Giáp, Phúc Thọ, Sơn Tây. Ông đỗ Cử nhân năm Canh Tý, niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840), làm quan đến chức Lang trung Bộ Hộ (hồ sơ số H62/4 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 02, mặt khắc 26).


18. Cao Duy Trân (…….):
Quê quán Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Làm quan đến chức Tri phủ (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


19. Cao Văn Dao (…….):
Quê quán Đông Tác, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Nhiều đời đăng khoa, làm quan tri huyện Yên Lạc. Ông là cháu danh sĩ Cao Huy Diệu, con của Cao Văn Nguyên. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


20. Cao Văn Bính (…….):
Quê quán Phương Đình, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc Nguyên niên (1884). Ông là chú họ của Cao Văn Trứ (Chú cháu cùng đăng quang). Ông làm quan Tri huyện. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 58).


21. Cao Xuân Dục (1843-1923):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đỗ cử nhân năm 1876. Làm quan đến Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1903) triều Nguyễn, Đông các Đại học sĩ.


22. Cao Xuân Tiếu (1865-1939):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Làm quan đến Thượng Thư, Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán triều Nguyễn.


23. Cao Hữu Dực (Thế kỷ XIX):
Nguyên quán Thanh Hóa. Thượng thư Bộ binh, Tổng Đốc An Hà (An Giang & Hà Tiên) thời Minh Mạng. Ông Đậu Hương Cống năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) - Theo THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ĐỄ NHỊ KỶ, QUYỂN XXXIV. Ông giỏi về văn chương và là người khai sinh Tuồng Ô Thước.


24. Cao Thắng (1864-1893):
Nguyên quán Hà Tĩnh. Tướng của Phan Đình Phùng. Người chế tạo súng trường theo kiểu của Pháp.


25. Cao Quảng Thuận:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869.


26. Cao Văn Hứa:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869


27. Cao Bá Nghi (Thế kỷ XIX):
Đô đốc thành Gia Định dưới thời Minh Mạng (1791-1841). Ông cũng là người giỏi về văn thơ.


28. Cao Văn Lầu (1892-1976):
Nhạc sỹ, tác giả Dạ cổ hoài lang.


29. Cao Quỳnh Cư (1888 -?), Cao Hoài Sang (1901-1971):
Thượng Phẩm, Thượng Sanh của Đạo Cao Đài - (Đạo do người Việt Nam thành lập).


30. Cao Xuân Huy (1900-1983):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).


31. Cao Văn Khánh (1917-1980):
Trung Tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân VN - Bộ Quốc Phòng.


32. Cao Đăng Chiếm (1921-2007):
Thượng Tướng-Thứ trưởng Bộ Công An.


33. Cao Văn Viên (1921-2008):
Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa (dưới thời Ngô Đình Diệm) – Nguyên quán: Hưng Yên (Bắc Việt Nam), sinh tại Viên-chăn (Lào).


34. Cao Tiến Phiếm (1941):
Thiếu Tướng, trợ lý Tổng bí thư; Nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng. Hiện là trưởng Ban liên lạc họ Cao Việt Nam.


35. Cao Xuân Hồng:
Trung Tướng, Phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát QLHC về TTATXH - Bộ Công An.


36. Cao Ngọc Oánh:
Trung Tướng, Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát THAHS & HTTP - Bộ Công An.


37. Cao Phòng (? -1991):
Thiếu Tướng - Nguyên phó cục trưởng cục cảnh sát nhân dân - Bộ Công An.


38. Cao Minh Nhạn:
Thiếu Tướng - Phó Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát PCTP - Bộ Công An.


39. Cao Long Hỷ:
Thiếu Tướng - Cục trưởng cục bảo vệ an ninh quân đội - Bộ Quốc Phòng.


40. Cao Lương Bằng:
Thiếu Tướng - Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy QS tỉnh Hà Tỉnh.


41. Cao Xuân Khuông:
Thiếu Tướng, phó Tư lệnh quân khu 4.


42. Cao Chi (1931):
Nguyên quán ở Quảng Ngãi. GS-TS ngành Vật Lý. Chủ nhiệm 2 đề tài cấp Nhà Nước (tính lò phản ứng; đưa điện nguyên tử vào VN). Huy chương vì Sự Nghiệp KH & CN.


43. Cao Cự Bội (1937):
Giáo sư - Tiến sĩ. Cố vấn tài chính - tiền tệ cho Thủ tướng Việt Nam và Thủ Tướng Lào. Nguyên Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Đại Việt (khen thưởng HC vì Sự nghiệp GD, HC vì Sự nghiệp KH&CN).


44. Cao Sĩ Kiêm (1941):
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (từ năm 1989-1997). Hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ VN.


45. Cao Tiến Huỳnh (1947):
GS-TSKH, Viện trưởng viện tự động hóa Quân sự - Bộ Quốc Phòng.


46. Cao Minh Quang (1953):
Thứ trưởng Bộ Y tế.


4
7. Cao Lại Quang (1955): sinh tại Thanh Hóa. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.


48. Cao Đức Phát (1956):
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.


49. Cao Thị Bảo Vân (1962):
TS-Phó Viện trưởng viện Pasteur Tp.HCM, đạt giải WIPO và giải Vifotec năm 2007.


50. Cao Văn Bổn:
Bộ trưởng Bộ Kinh Tế-Tài Chính, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1969-1976).


51. Cao Xuân Thấn:
Đại sứ Việt Nam tại Ma-rốc.


52. Cao Viết Sinh:
Thứ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư.


53. Cao Đức Thái:
TS-Viện Trưởng, Chủ tịch HĐKH Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Hành chính Quốc Gia HCM.


54. Cao Duy Tiến:
PGS-TS, Viện trưởng Viện KHCN Xây Dựng - Bộ Xây Dựng.


55. Cao Văn Sung:
GS-TSKH, phó Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật.


56. Cao Văn Viên:
TS-Phó Viện trưởng Viện Y Học Lâm Sàng và Các Bệnh Nhiệt Đới (thời gian 1995 – 2006).


57. Cao Minh Châu:
PGS-TS tại ĐH Y Hà Nội, Chủ tịch hội Đông Y HN, UVTV BCHTW hội Đông Y VN.


58. Cao Văn:
PGS-TS Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương.


59. Cao Tiến Đức:
PGS-TS Đại tá – Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý học Bệnh viện Quân y 103 (Hà Đông, Hà Nội).


60. Cao Thế Hà:
PGS-TS tại ĐH KHTN (HN), Phó GĐ TTNC CN & MT.


61. Cao Văn Thịnh:
PGS-TS, BS Trưởng khoa Lồng ngực Mạch máu BV ND 115 HCM, Nhà khoa học VN.


62. Cao Đình Thanh:
TS-Phó Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử VN - Bộ KH & CN.


63. Cao Minh Kiểm:
phó Cục trưởng Cục TT & KH-CN Quốc Gia - Bộ KH & CN.


64. Cao Huy Long:
Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bô - Bộ KH & CN


65. Cao Hữu Trí:
GS-TS. Tổng giám đốc Viện công nghệ cao Sài Gòn tại Mỹ (SAIT)


66. Cao Đình Triều:
PGS-TS. Phó chủ tịch hội Địa chấn Châu Á, Tổng thư ký Hội KH & KT Địa Vật lý VN.


67. Cao Văn Luận (1908-1986):
GS-Thành viên sáng lập và là Viện trưởng viện ĐH Huế (năm 1957-1964) nay là trường ĐH Huế.


68. Cao Văn Tụ (1920):
Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (1987-1988). (Tham gia Cách mạng đổi tên là Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần).


69. Cao Văn Phường (1940):
Nguyên quán tại Cà Mâu. GS-TSKH, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kỹ sư LB Nga (A.M Prokhorov). Hiện là Hiệu trưởng trường Đại Học Bình Dương.


70. Cao Hữu Trượng (1936):
PGS-TS.Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.


71. Cao Minh Thì:
PGS-TS.Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TP HCM.


72. Cao Văn:
GS-TS Hiệu trưởng trường ĐH Hùng Vương (Tỉnh Phú Thọ).


73. Cao Ngọc Thành (1958):
GS-TS, NGƯT Hiệu trưởng trường ĐH Y Dược Huế.


74. Cao Việt Dũng:
TS. Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh.


7
5. Cao Trường Sinh: GS-TS. Phó hiệu trưởng ĐH Y Khoa Vinh.


76. Cao Văn Sâm:
PSG-TS, Phó tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB - XH).


77. Cao Văn Trọng:
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre.


78. Cao Thị Hải:
Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình


79. Cao Thế Dung:
GS-TS, Sử gia nổi tiếng ở Pháp.


80. Cao Huy Thuần:
Nhà nghiên cứu văn hóa sử nổi tiếng ở Pháp.


81. Cao Tiến Lê:
Nhà văn - Giám đốc bảo tàng văn học Việt Nam.


82. Cao Văn Chí:
BSCK II - Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Tây Ninh.


83. Cao Việt Bách:
Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam.


GHI CHÚ:
Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác (ví dụ: Quê quán, năm sinh, năm mất...). Bản danh sách nói trên chỉ là những thống kê bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!


Mọi thư từ trao đổi, vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:

 

CAO BÁ NGHIỆP

Mobile : 0918 028 053 / 0933 392 604.
E-mail :
cbn@caobaquat.com.vn

caonghiep07@gmail.com

 Video tham khảo

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp