• Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA CHỨNG ĐAU NGƯỜI

    Theo quan niệm y học cổ truyền chứng đau người, nhức mỏi cơ thể là bởi huyết không thông, khí không hành. Bộ phận hay bị nhức mỏi là vai, cơ bắp, tứ chi, lưng, khớp xương... người già, phụ nữ sau sinh, người có cơ thể gầy yếu,… thường mắc. Ngoài ra, những người bị thấp tà tích sẵn trong người, khi thời tiết thay đổi thì gây mệt mỏi, đau nhức. Sau đây xin giới thiệu bài thuốc tùy thuộc vào thể trạng của người bệnh mà áp dụng cho phù hợp...

  • Pic Mgmt

    ĐẶC ĐIỂM CỦA DÒNG HỌ NGƯỜI MẠ Ở LÂM ĐỒNG

    Người Mạ là dân tộc thiếu số bản địa ở tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn cư trú của người Mạ nằm trong vùng Trung và Thượng sông Đồng Nai (Đạ Đơng), trong đó tập trung đông nhất là ở thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Ngoài ra người Mạ còn cư trú ở một số huyện phía Nam Lâm Đồng như Đạ Huoai, Đạ Teh, Cát Tiên...

  • Pic Mgmt

    LÀNG VIỆT Ở ĐÔNG ANH

    Đông Anh - một huyện đồng bằng ở phía Bắc thành phố Hà Nội. Đây là vùng đất có bề dày về truyền thống và lịch sử văn hóa, lưu giữ những giá trị của một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc biệt là những di tích, lễ hội liên quan đến Cổ Loa thành, nơi đây còn lưu giữ được nhiều những bộ môn nghệ thuật truyền thống có giá trị như rối nước Đào Thục, ca trù Lỗ Khê, tuồng Lương Quy...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

    Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN MỚI VỀ DI TÍCH BẠCH ĐẰNG, VÂN ĐỒN

    Những phát hiện khảo cổ học quan trọng tại các di tích Bạch Đằng, Vân Đồn (Quảng Ninh), đã góp phần quan trọng vào việc diễn giải chiến lược, quá trình chuẩn bị, quy mô và diễn biến trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của nhà Trần...

  • Pic Mgmt

    LỄ VU LAN: AI CÒN CHA MẸ...XIN ĐỪNG THỜ Ơ !

    Những ngày tháng Bẩy âm lịch lại về, mang theo chút mưa nắng thất thường đan xen vào dòng đời tấp nập. Cũng chính lúc này, nhà nhà đều thành kính bước vào mùa Vu Lan - mùa báo hiếu…Bản chất cuộc đời như con thuyền ngoài biển khơi, có lúc sóng yên gió lặng, thuyền đi êm ả và đích đến dễ dàng đạt được. Nhưng phần lớn trên hành trình ấy, con truyền thường phải đương đầu với muôn vàn sóng gió để cập bờ...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LÀNG NÀNH VỚI NGHỀ THUỐC GIA TRUYỀN

    Làng Nành nổi tiếng nhờ làm thuốc nam, thuốc bắc. Hiện trong làng có tới trên dưới 500 gia đình làm thuốc gia truyền, tập trung chủ yếu ở xóm 8 và xóm 9. Theo thầy giáo Thạch Văn Thân thì nghề chế biến thuốc này đang phát triển rất mạnh...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT, CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay. Có những huyền thoại được sáng tạo ra nhằm thể hiện ước mơ chinh phục như truyền thuyết trăm trứng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, có những huyền thoại để tải câu chuyện hiện tượng tự nhiên, có những huyền thoại để giải thích cứ liệu mờ...

  • Pic Mgmt

    DẤU XƯA Ở NGÔI LÀNG CỔ BÊN BỜ SÔNG MÃ

    Đến với làng cổ Đông Sơn là đến với không gian văn hóa lâu đời, đến với những ngôi nhà cổ có tuổi đời hơn 200 năm. Ẩn chứa trong mỗi ngôi nhà ấy, di tích lịch sử ấy không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc, văn hóa thẩm mỹ mà còn mang trong mình những câu chuyện thú vị và đầy ý nghĩa...

  • Pic Mgmt

    VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

    Sự kỳ vĩ của các hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng (Cinet) – Không chỉ là 1 trong số 7 di sản văn hóa và thiên nhiên được thế giới công nhận tại Việt nam. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống hang động tuyệt đẹp với con sông ngầm dài nhất thế giới. Cách thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình khoảng 50 km, Vườn quốc gia Phong Nhà – Kẻ Bàng là một quần thể rừng và núi đá vôi rộng lớn có diện tích khoảng 200.000 ha...

  • Pic Mgmt

    TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

    Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO

    ...Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT - CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II)

    Xin trân trọng báo tin vui: Năm 2004, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học đã hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP I). Đến nay (2012), sau hơn 8 năm Trung Tâm đã hết sức cố gắng nỗ lực để hoàn thành bộ CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II), cụ thể như sau:...

Chi tiết

HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

Đăng lúc: 2014-06-30 17:53:50 - Đã xem: 11065

CAO BÁ NGHIỆP:

Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!

Nội dung thông tin sẽ luôn luôn được chỉnh sửa, cập nhật mới. Kính mong quý vị, bà con cô bác & bạn đọc gần xa quan tâm theo dõi. Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 3, ngày 22 tháng 9 năm 2014.

Mọi thư từ trao đổi, v
ui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:
E-mail: caonghiep07@gmail.com
Mobile: 0918 028 053 / 0933 392 604

DANH SÁCH MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU HỌ CAO XƯA & NAY 


1. Cao Lỗ (?-179 trước Công nguyên): Danh tướng của Thục Phán An Dương Vương. Người chế tạo nỏ thần & có công xây thành Cổ Loa. Hiện có đền thờ Cao Lỗ Vương ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, thành phố Bắc Ninh.

2. Cao Doãn (năm 40-43): Người chỉ huy thủy quân tài giỏi dưới thời Hai Bà Trưng.


3. Cao Bà Liên Nương (năm 40-43):
(Nàng Sen, Cao Thị Liên), Vị tướng mưu lược của Hai Bà Trưng.


4. Cao Nhự (năm 40-43):
Nữ tướng thủy binh đầu tiên của Hai Bà Trưng.


5. Cao Tiến Đức (Thế kỷ XIII):
Gần đây, mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức – là người đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng.


6. Cao Quýnh (1449-?):
Nguyên quán: làng Lương Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa. Đỗ Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ năm 1475 thời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Đông các đại học sĩ.


7. Cao Đức Uý (1621-1689):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Nhâm Thìn (1652) ông đi thi Hội, trúng Tam Trường, được bổ chức Nho Huấn Đạo phủ Ứng Thiên.


8. Cao Dương Trạc (1690-1753):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729). Ông làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lễ, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.


9. Cao Huy Dật (1707-1749):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đậu Nho sinh trúng thức, chức Phụng Thị Văn Nội Giảng. Ông là cháu ruột, gọi Thượng thư Cao Dương Trạc là chú. Năm 1747, ông được thượng thư Cao Dương Trạc ủy thác viết gia phả họ Cao (CAO DƯƠNG GIA PHẢ TẬP)


10. Cao Tư (thế kỷ XVII):
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Cụ làm quan võ dưới triều Lê trung hưng. Khi mất được phong tước Thái Bảo Thọ Quận Công - Phó Quốc. Tổ phụ cụ Cao Tư di dời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp ở Thành Hóa. Dòng họ cụ Cao Tư có đến 30 võ quan dưới triều Lê trung hưng. Năm 2003, Sở Văn Hóa Thanh Hóa đã cấp bằng công nhận cụ Cao Tư là “Danh nhân văn hóa” của tỉnh và được xây dựng đền thờ tại thôn Hoằng Lộc, Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.


11. Cao Đình Độ (1741-1810) & con trai là Cao Đình Hương:
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Tổ phụ ông di đời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Những người thợ kim hoàn ở miền Trung đều coi hai bố con ông là tổ sư của nghề Kim hoàn, họ lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ. Di tích nhà thờ Tổ nghề kim hoàn được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 168-QĐ/VH, ngày 2/3/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).


12. Cao Huy Diệu (1786-1820):
Danh sĩ Thăng Long. Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Giải Nguyên khoa Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn Gia Long, làm quan đốc học phủ Gia Định (nay là huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ông là tác giả của Cấn trai thi tập và Việt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) hiệu là Vô Song, tự là Hồng Quế Hiên


13. Cao Huy Tố (1803- ?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu vua Gia Long thứ 18 (1819). Cao Huy Tố được bổ làm Huyện Doãn huyện Cẩm Giàng, ông là con trai trưởng danh sĩ Cao Huy Diệu (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 42 ghi: Cha con, anh em cùng đăng khoa).


14. Cao Xuân Nguyên (1808-?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), ông là con trai thứ hai danh sĩ Cao Huy Diệu. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 76).


15. Cao Bá Quát (1809-1865):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh nhân văn hóa. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), và là em song sinh với Cao Bá Đạt. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 77). Làm quan tới chức Giáo thụ phủ Quốc Oai, cáo quan về quê chăm sóc mẹ già 68 tuổi. 
Cao Bá Quát là nhà cách mạng, quân sự của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1854-1855) chống lại triều đình Nhà Nguyễn. Năm 2010, thành phố Hà Nội hoàn thành công trình xây dựng Nhà tưởng niệm Danh nhân Cao Bá Quát tại quê hương ông. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu quốc học thành phố HCM hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (gồm 2 tập). Năm 2013, nhà thờ họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa.


16. Cao Bá Đạt (1809-1855):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh sĩ Thăng Long. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15 (1834), và là anh song sinh với Cao Bá Quát. (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 62 ghi: anh em cùng đăng khoa). Ông làm quan tới chức tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Ông nổi tiếng văn chương, giỏi chính trị. Khi mất, nhân dân lập đền thờ ông ở Thanh Hóa.


17. Cao Văn Tụy (……..):
Quê quán Đoài Giáp, Phúc Thọ, Sơn Tây. Ông đỗ Cử nhân năm Canh Tý, niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840), làm quan đến chức Lang trung Bộ Hộ (hồ sơ số H62/4 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 02, mặt khắc 26).


18. Cao Duy Trân (…….):
Quê quán Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Làm quan đến chức Tri phủ (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


19. Cao Văn Dao (…….):
Quê quán Đông Tác, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Nhiều đời đăng khoa, làm quan tri huyện Yên Lạc. Ông là cháu danh sĩ Cao Huy Diệu, con của Cao Văn Nguyên. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


20. Cao Văn Bính (…….):
Quê quán Phương Đình, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc Nguyên niên (1884). Ông là chú họ của Cao Văn Trứ (Chú cháu cùng đăng quang). Ông làm quan Tri huyện. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 58).


21. Cao Xuân Dục (1843-1923):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đỗ cử nhân năm 1876. Làm quan đến Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1903) triều Nguyễn, Đông các Đại học sĩ.


22. Cao Xuân Tiếu (1865-1939):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Làm quan đến Thượng Thư, Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán triều Nguyễn.


23. Cao Hữu Dực (Thế kỷ XIX):
Nguyên quán Thanh Hóa. Thượng thư Bộ binh, Tổng Đốc An Hà (An Giang & Hà Tiên) thời Minh Mạng. Ông Đậu Hương Cống năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) - Theo THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ĐỄ NHỊ KỶ, QUYỂN XXXIV. Ông giỏi về văn chương và là người khai sinh Tuồng Ô Thước.


24. Cao Thắng (1864-1893):
Nguyên quán Hà Tĩnh. Tướng của Phan Đình Phùng. Người chế tạo súng trường theo kiểu của Pháp.


25. Cao Quảng Thuận:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869.


26. Cao Văn Hứa:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869


27. Cao Bá Nghi (Thế kỷ XIX):
Đô đốc thành Gia Định dưới thời Minh Mạng (1791-1841). Ông cũng là người giỏi về văn thơ.


28. Cao Văn Lầu (1892-1976):
Nhạc sỹ, tác giả Dạ cổ hoài lang.


29. Cao Quỳnh Cư (1888 -?), Cao Hoài Sang (1901-1971):
Thượng Phẩm, Thượng Sanh của Đạo Cao Đài - (Đạo do người Việt Nam thành lập).


30. Cao Xuân Huy (1900-1983):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).


31. Cao Văn Khánh (1917-1980):
Trung Tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân VN - Bộ Quốc Phòng.


32. Cao Đăng Chiếm (1921-2007):
Thượng Tướng-Thứ trưởng Bộ Công An.


33. Cao Văn Viên (1921-2008):
Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa (dưới thời Ngô Đình Diệm) – Nguyên quán: Hưng Yên (Bắc Việt Nam), sinh tại Viên-chăn (Lào).


34. Cao Tiến Phiếm (1941):
Thiếu Tướng, trợ lý Tổng bí thư; Nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng. Hiện là trưởng Ban liên lạc họ Cao Việt Nam.


35. Cao Xuân Hồng:
Trung Tướng, Phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát QLHC về TTATXH - Bộ Công An.


36. Cao Ngọc Oánh:
Trung Tướng, Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát THAHS & HTTP - Bộ Công An.


37. Cao Phòng (? -1991):
Thiếu Tướng - Nguyên phó cục trưởng cục cảnh sát nhân dân - Bộ Công An.


38. Cao Minh Nhạn:
Thiếu Tướng - Phó Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát PCTP - Bộ Công An.


39. Cao Long Hỷ:
Thiếu Tướng - Cục trưởng cục bảo vệ an ninh quân đội - Bộ Quốc Phòng.


40. Cao Lương Bằng:
Thiếu Tướng - Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy QS tỉnh Hà Tỉnh.


41. Cao Xuân Khuông:
Thiếu Tướng, phó Tư lệnh quân khu 4.


42. Cao Chi (1931):
Nguyên quán ở Quảng Ngãi. GS-TS ngành Vật Lý. Chủ nhiệm 2 đề tài cấp Nhà Nước (tính lò phản ứng; đưa điện nguyên tử vào VN). Huy chương vì Sự Nghiệp KH & CN.


43. Cao Cự Bội (1937):
Giáo sư - Tiến sĩ. Cố vấn tài chính - tiền tệ cho Thủ tướng Việt Nam và Thủ Tướng Lào. Nguyên Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Đại Việt (khen thưởng HC vì Sự nghiệp GD, HC vì Sự nghiệp KH&CN).


44. Cao Sĩ Kiêm (1941):
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (từ năm 1989-1997). Hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ VN.


45. Cao Tiến Huỳnh (1947):
GS-TSKH, Viện trưởng viện tự động hóa Quân sự - Bộ Quốc Phòng.


46. Cao Minh Quang (1953):
Thứ trưởng Bộ Y tế.


4
7. Cao Lại Quang (1955): sinh tại Thanh Hóa. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.


48. Cao Đức Phát (1956):
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.


49. Cao Thị Bảo Vân (1962):
TS-Phó Viện trưởng viện Pasteur Tp.HCM, đạt giải WIPO và giải Vifotec năm 2007.


50. Cao Văn Bổn:
Bộ trưởng Bộ Kinh Tế-Tài Chính, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1969-1976).


51. Cao Xuân Thấn:
Đại sứ Việt Nam tại Ma-rốc.


52. Cao Viết Sinh:
Thứ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư.


53. Cao Đức Thái:
TS-Viện Trưởng, Chủ tịch HĐKH Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Hành chính Quốc Gia HCM.


54. Cao Duy Tiến:
PGS-TS, Viện trưởng Viện KHCN Xây Dựng - Bộ Xây Dựng.


55. Cao Văn Sung:
GS-TSKH, phó Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật.


56. Cao Văn Viên:
TS-Phó Viện trưởng Viện Y Học Lâm Sàng và Các Bệnh Nhiệt Đới (thời gian 1995 – 2006).


57. Cao Minh Châu:
PGS-TS tại ĐH Y Hà Nội, Chủ tịch hội Đông Y HN, UVTV BCHTW hội Đông Y VN.


58. Cao Văn:
PGS-TS Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương.


59. Cao Tiến Đức:
PGS-TS Đại tá – Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý học Bệnh viện Quân y 103 (Hà Đông, Hà Nội).


60. Cao Thế Hà:
PGS-TS tại ĐH KHTN (HN), Phó GĐ TTNC CN & MT.


61. Cao Văn Thịnh:
PGS-TS, BS Trưởng khoa Lồng ngực Mạch máu BV ND 115 HCM, Nhà khoa học VN.


62. Cao Đình Thanh:
TS-Phó Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử VN - Bộ KH & CN.


63. Cao Minh Kiểm:
phó Cục trưởng Cục TT & KH-CN Quốc Gia - Bộ KH & CN.


64. Cao Huy Long:
Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bô - Bộ KH & CN


65. Cao Hữu Trí:
GS-TS. Tổng giám đốc Viện công nghệ cao Sài Gòn tại Mỹ (SAIT)


66. Cao Đình Triều:
PGS-TS. Phó chủ tịch hội Địa chấn Châu Á, Tổng thư ký Hội KH & KT Địa Vật lý VN.


67. Cao Văn Luận (1908-1986):
GS-Thành viên sáng lập và là Viện trưởng viện ĐH Huế (năm 1957-1964) nay là trường ĐH Huế.


68. Cao Văn Tụ (1920):
Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (1987-1988). (Tham gia Cách mạng đổi tên là Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần).


69. Cao Văn Phường (1940):
Nguyên quán tại Cà Mâu. GS-TSKH, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kỹ sư LB Nga (A.M Prokhorov). Hiện là Hiệu trưởng trường Đại Học Bình Dương.


70. Cao Hữu Trượng (1936):
PGS-TS.Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.


71. Cao Minh Thì:
PGS-TS.Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TP HCM.


72. Cao Văn:
GS-TS Hiệu trưởng trường ĐH Hùng Vương (Tỉnh Phú Thọ).


73. Cao Ngọc Thành (1958):
GS-TS, NGƯT Hiệu trưởng trường ĐH Y Dược Huế.


74. Cao Việt Dũng:
TS. Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh.


7
5. Cao Trường Sinh: GS-TS. Phó hiệu trưởng ĐH Y Khoa Vinh.


76. Cao Văn Sâm:
PSG-TS, Phó tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB - XH).


77. Cao Văn Trọng:
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre.


78. Cao Thị Hải:
Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình


79. Cao Thế Dung:
GS-TS, Sử gia nổi tiếng ở Pháp.


80. Cao Huy Thuần:
Nhà nghiên cứu văn hóa sử nổi tiếng ở Pháp.


81. Cao Tiến Lê:
Nhà văn - Giám đốc bảo tàng văn học Việt Nam.


82. Cao Văn Chí:
BSCK II - Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Tây Ninh.


83. Cao Việt Bách:
Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam.


GHI CHÚ:
Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác (ví dụ: Quê quán, năm sinh, năm mất...). Bản danh sách nói trên chỉ là những thống kê bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!


Mọi thư từ trao đổi, vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:

 

CAO BÁ NGHIỆP

Mobile : 0918 028 053 / 0933 392 604.
E-mail :
cbn@caobaquat.com.vn

caonghiep07@gmail.com

 Video tham khảo

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp