• Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT BÚT TÍCH & CÂU ĐỐI

    Năm 2007, trong dịp về thăm quê nhá, tôi có đến thăm cụ Nguyễn Huy Thuân, người cán bộ lão thành cách mạng của Làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Cụ đã cho tôi xem tư liệu do cụ lưu giữ 02 vế câu đối là bút tích của danh nhân Cao Bá Quát...

  • Pic Mgmt

    VẺ ĐẸP THANH BÌNH Ở LÀNG QUÊ CỔ CHẤT

    Nằm nép mình bên dòng sông Ninh hiền hòa, trên trục đường đi từ trung tâm thành phố Nam Định ra biển Quất Lâm, làng Cổ Chất nổi tiếng với nghề nuôi tằm, ươm tơ là điểm dừng chân thú vị...

  • Pic Mgmt

    NGÂN HÀNG DỮ LIỆU DI SẢN

    Ý tưởng thành lập Ngân hàng dữ liệu văn hoá phi vật thể các dân tộc Việt Nam đã được manh nha từ đầu những năm 90 với các tác giả như GS.TS Tô Ngọc Thanh, GS. Nhạc sĩ Nguyễn Xinh, TS. Hoàng Sơn... Các giai đoạn thử nghiệm được mở đầu vào năm 1994 với "Chương trình điều tra cơ bản về văn hoá các dân tộc Việt Nam" do Viện nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật nay là Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tiến hành. Đến năm 2004 những điều kiện trong ý tưởng đó đã trở thành hiện thực đó là Trung tâm dữ liệu di sản văn hoá của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước là Viện Văn hoá Thông tin - Bộ Văn hoá Thông tin)...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc. Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    VÀI NÉT VỀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM TRONG SỬ SÁCH CỔ TRUNG QUỐC

    Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia láng giềng gần gũi, do vậy giữa hai nước đã tồn tại quan hệ lịch sử lâu dài. Trải qua quá trình tiếp xúc lịch sử, rất nhiều tư liệu lịch sử về hai quốc gia đã ra đời và tồn tại cho đến ngày nay. Bài viết này giới thiệu vắn tắt về các tư liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến các dữ liệu lịch sử của Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    DỊCH VỤ CỖ CÚNG ONLINE TÍNH BẰNG USD DỊP LỄ VU LAN

    Tại nghĩa trang có ngôi mộ 200m2 giá 5 tỉ đồng ở Hòa Bình, dịp rằm tháng bảy, dịch vụ cúng lễ online giá từ vài trăm đến trên-dưới một triệu đồng mỗi mâm trở nên đắt khách. Anh Hải - nhân viên dự án Lạc Hồng Viên ở Hòa Bình - những ngày này liên tục nhận được điện thoại của khách hàng gọi đến nhờ thắp hương cho phần mộ. “Có những người ở tận miền Nam, dịp Vu Lan không ra Hà Nội được, đã thuê trọn gói dịch vụ này nhưng vẫn không an tâm, nên gọi ra nhắc nhở”- anh Hải cho biết...

  • Pic Mgmt

    VỀ KINH BẮC THĂM ĐỀN ĐÔ

    Được xem là mảnh đất địa linh nhân kiệt, Bắc Ninh đã từng xuất hiện nhiều anh hùng, hiền tài trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Đồng thời, nơi đây còn nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh gắn liền với lịch sử, như nhà thờ họ Nguyễn, đình làng Quan Đình, chùa Chiêu Ứng...

  • Pic Mgmt

    KỲ BÍ LỄ HỘI ĐỀN NƯA - AM TIÊN

    Những ngày này, hàng ngàn người dân, du khách khắp nơi đã tụ họp về Thanh Hóa để tham gia lễ hội truyền thống đền Nưa-am Tiên. Lễ hội đền Nưa- am Tiên gắn với sự tích cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu và những câu chuyện kỳ bí đến nay chưa lý giải được như huyệt đạo thiêng nơi trời đất giao hòa (hay còn gọi là nơi mở cửa trời), giếng Tiên trên đỉnh núi nước không bao giờ vơi cạn và đứng trên cao có thể nhìn thấy được 4 phương 8 hướng...

  • Pic Mgmt

    VŨ ĐÌNH LIÊN, NHỮNG VẦN THƠ LƯU BÚT

    Tôi xin kể một vài kỷ niệm về một người bạn thơ của cố thi sĩ Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994), đó là nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên (1913-1996). Ngày xưa, trong phong trào THƠ MỚI ở Hà Nội, những năm từ 1931-1936, Vũ Đình Liên có bài thơ ÔNG ĐỒ nổi tiếng được những người yêu thơ nhớ mãi đến nay...

  • Pic Mgmt

    THOÁI HÓA KHỚP & CỘT SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

    ...Bệnh thoái hóa khớp và cột sống là bệnh mạn tính do thương tổn ở sụn của khớp và đĩa đệm của cột sống. Sụn và đĩa đệm bị xơ cứng, mỏng, mất tính đàn hồi, nhiều khi còn mọc thêm các gai xương. Sở dĩ có hiện tượng đó là do quá trình lão hóa của mô sụn. Thông thường, bệnh gặp ở người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả lứa tuổi trẻ hơn...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    ...Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên hơn 200 trang tư liệu kèm theo nhiều hình ảnh...

  • Pic Mgmt

    VỤ NHÂN VĂN GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN

    Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật...

  • Pic Mgmt

    PHỐ HIẾN (HƯNG YÊN)

    Sự hình thành và phát triển của các đô thị cổ như Phố Hiến và Hội An vốn không xa lạ với tất cả chúng ta. Nhưng một cái nhìn so sánh giữa chúng với đô thị cổ Malacca của Malaysia là điều mà nhà phê bình Phan Cẩm Thượng muốn chia sẻ với độc giả TT&VH thông qua loạt bài viết này...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH VĂN HÓA ĐÔNG SƠN

    ...Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 90 năm phát hiện nền văn hóa này (1914 - 2014), Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam phối hợp với 6 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hưng Yên, Lào Cai, Nghệ An, Thanh Hóa và Yên Bái tổ chức trưng bày chuyên đề “Văn hóa Đông Sơn” nhằm tôn vinh dòng di sản đặc biệt này...

  • Pic Mgmt

    TIỂU SỬ TÓM TẮT TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THANH BÍCH

    Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích - Thế danh Nguyễn Quang Bích, sinh năm 1912 tại làng Mai Xá, xã Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, trong một gia đình tiểu nông của dòng họ khoa bảng Nguyễn Bá Thị... Sau 22 năm theo thầy vân du học đạo, năm 1940, Trưởng lão trở về ngôi chùa Sủi - Bắc Ninh (nay là Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội), chuyên tâm công phu tu tập Thiền - Tịnh song tu...

Chi tiết

HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

Đăng lúc: 2014-06-30 17:53:50 - Đã xem: 10660

CAO BÁ NGHIỆP:

Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!

Nội dung thông tin sẽ luôn luôn được chỉnh sửa, cập nhật mới. Kính mong quý vị, bà con cô bác & bạn đọc gần xa quan tâm theo dõi. Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 3, ngày 22 tháng 9 năm 2014.

Mọi thư từ trao đổi, v
ui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:
E-mail: caonghiep07@gmail.com
Mobile: 0918 028 053 / 0933 392 604

DANH SÁCH MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU HỌ CAO XƯA & NAY 


1. Cao Lỗ (?-179 trước Công nguyên): Danh tướng của Thục Phán An Dương Vương. Người chế tạo nỏ thần & có công xây thành Cổ Loa. Hiện có đền thờ Cao Lỗ Vương ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, thành phố Bắc Ninh.

2. Cao Doãn (năm 40-43): Người chỉ huy thủy quân tài giỏi dưới thời Hai Bà Trưng.


3. Cao Bà Liên Nương (năm 40-43):
(Nàng Sen, Cao Thị Liên), Vị tướng mưu lược của Hai Bà Trưng.


4. Cao Nhự (năm 40-43):
Nữ tướng thủy binh đầu tiên của Hai Bà Trưng.


5. Cao Tiến Đức (Thế kỷ XIII):
Gần đây, mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức – là người đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng.


6. Cao Quýnh (1449-?):
Nguyên quán: làng Lương Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa. Đỗ Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ năm 1475 thời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Đông các đại học sĩ.


7. Cao Đức Uý (1621-1689):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Nhâm Thìn (1652) ông đi thi Hội, trúng Tam Trường, được bổ chức Nho Huấn Đạo phủ Ứng Thiên.


8. Cao Dương Trạc (1690-1753):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729). Ông làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lễ, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.


9. Cao Huy Dật (1707-1749):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đậu Nho sinh trúng thức, chức Phụng Thị Văn Nội Giảng. Ông là cháu ruột, gọi Thượng thư Cao Dương Trạc là chú. Năm 1747, ông được thượng thư Cao Dương Trạc ủy thác viết gia phả họ Cao (CAO DƯƠNG GIA PHẢ TẬP)


10. Cao Tư (thế kỷ XVII):
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Cụ làm quan võ dưới triều Lê trung hưng. Khi mất được phong tước Thái Bảo Thọ Quận Công - Phó Quốc. Tổ phụ cụ Cao Tư di dời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp ở Thành Hóa. Dòng họ cụ Cao Tư có đến 30 võ quan dưới triều Lê trung hưng. Năm 2003, Sở Văn Hóa Thanh Hóa đã cấp bằng công nhận cụ Cao Tư là “Danh nhân văn hóa” của tỉnh và được xây dựng đền thờ tại thôn Hoằng Lộc, Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.


11. Cao Đình Độ (1741-1810) & con trai là Cao Đình Hương:
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Tổ phụ ông di đời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Những người thợ kim hoàn ở miền Trung đều coi hai bố con ông là tổ sư của nghề Kim hoàn, họ lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ. Di tích nhà thờ Tổ nghề kim hoàn được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 168-QĐ/VH, ngày 2/3/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).


12. Cao Huy Diệu (1786-1820):
Danh sĩ Thăng Long. Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Giải Nguyên khoa Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn Gia Long, làm quan đốc học phủ Gia Định (nay là huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ông là tác giả của Cấn trai thi tập và Việt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) hiệu là Vô Song, tự là Hồng Quế Hiên


13. Cao Huy Tố (1803- ?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu vua Gia Long thứ 18 (1819). Cao Huy Tố được bổ làm Huyện Doãn huyện Cẩm Giàng, ông là con trai trưởng danh sĩ Cao Huy Diệu (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 42 ghi: Cha con, anh em cùng đăng khoa).


14. Cao Xuân Nguyên (1808-?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), ông là con trai thứ hai danh sĩ Cao Huy Diệu. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 76).


15. Cao Bá Quát (1809-1865):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh nhân văn hóa. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), và là em song sinh với Cao Bá Đạt. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 77). Làm quan tới chức Giáo thụ phủ Quốc Oai, cáo quan về quê chăm sóc mẹ già 68 tuổi. 
Cao Bá Quát là nhà cách mạng, quân sự của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1854-1855) chống lại triều đình Nhà Nguyễn. Năm 2010, thành phố Hà Nội hoàn thành công trình xây dựng Nhà tưởng niệm Danh nhân Cao Bá Quát tại quê hương ông. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu quốc học thành phố HCM hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (gồm 2 tập). Năm 2013, nhà thờ họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa.


16. Cao Bá Đạt (1809-1855):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh sĩ Thăng Long. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15 (1834), và là anh song sinh với Cao Bá Quát. (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 62 ghi: anh em cùng đăng khoa). Ông làm quan tới chức tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Ông nổi tiếng văn chương, giỏi chính trị. Khi mất, nhân dân lập đền thờ ông ở Thanh Hóa.


17. Cao Văn Tụy (……..):
Quê quán Đoài Giáp, Phúc Thọ, Sơn Tây. Ông đỗ Cử nhân năm Canh Tý, niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840), làm quan đến chức Lang trung Bộ Hộ (hồ sơ số H62/4 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 02, mặt khắc 26).


18. Cao Duy Trân (…….):
Quê quán Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Làm quan đến chức Tri phủ (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


19. Cao Văn Dao (…….):
Quê quán Đông Tác, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Nhiều đời đăng khoa, làm quan tri huyện Yên Lạc. Ông là cháu danh sĩ Cao Huy Diệu, con của Cao Văn Nguyên. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


20. Cao Văn Bính (…….):
Quê quán Phương Đình, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc Nguyên niên (1884). Ông là chú họ của Cao Văn Trứ (Chú cháu cùng đăng quang). Ông làm quan Tri huyện. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 58).


21. Cao Xuân Dục (1843-1923):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đỗ cử nhân năm 1876. Làm quan đến Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1903) triều Nguyễn, Đông các Đại học sĩ.


22. Cao Xuân Tiếu (1865-1939):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Làm quan đến Thượng Thư, Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán triều Nguyễn.


23. Cao Hữu Dực (Thế kỷ XIX):
Nguyên quán Thanh Hóa. Thượng thư Bộ binh, Tổng Đốc An Hà (An Giang & Hà Tiên) thời Minh Mạng. Ông Đậu Hương Cống năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) - Theo THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ĐỄ NHỊ KỶ, QUYỂN XXXIV. Ông giỏi về văn chương và là người khai sinh Tuồng Ô Thước.


24. Cao Thắng (1864-1893):
Nguyên quán Hà Tĩnh. Tướng của Phan Đình Phùng. Người chế tạo súng trường theo kiểu của Pháp.


25. Cao Quảng Thuận:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869.


26. Cao Văn Hứa:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869


27. Cao Bá Nghi (Thế kỷ XIX):
Đô đốc thành Gia Định dưới thời Minh Mạng (1791-1841). Ông cũng là người giỏi về văn thơ.


28. Cao Văn Lầu (1892-1976):
Nhạc sỹ, tác giả Dạ cổ hoài lang.


29. Cao Quỳnh Cư (1888 -?), Cao Hoài Sang (1901-1971):
Thượng Phẩm, Thượng Sanh của Đạo Cao Đài - (Đạo do người Việt Nam thành lập).


30. Cao Xuân Huy (1900-1983):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).


31. Cao Văn Khánh (1917-1980):
Trung Tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân VN - Bộ Quốc Phòng.


32. Cao Đăng Chiếm (1921-2007):
Thượng Tướng-Thứ trưởng Bộ Công An.


33. Cao Văn Viên (1921-2008):
Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa (dưới thời Ngô Đình Diệm) – Nguyên quán: Hưng Yên (Bắc Việt Nam), sinh tại Viên-chăn (Lào).


34. Cao Tiến Phiếm (1941):
Thiếu Tướng, trợ lý Tổng bí thư; Nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng. Hiện là trưởng Ban liên lạc họ Cao Việt Nam.


35. Cao Xuân Hồng:
Trung Tướng, Phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát QLHC về TTATXH - Bộ Công An.


36. Cao Ngọc Oánh:
Trung Tướng, Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát THAHS & HTTP - Bộ Công An.


37. Cao Phòng (? -1991):
Thiếu Tướng - Nguyên phó cục trưởng cục cảnh sát nhân dân - Bộ Công An.


38. Cao Minh Nhạn:
Thiếu Tướng - Phó Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát PCTP - Bộ Công An.


39. Cao Long Hỷ:
Thiếu Tướng - Cục trưởng cục bảo vệ an ninh quân đội - Bộ Quốc Phòng.


40. Cao Lương Bằng:
Thiếu Tướng - Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy QS tỉnh Hà Tỉnh.


41. Cao Xuân Khuông:
Thiếu Tướng, phó Tư lệnh quân khu 4.


42. Cao Chi (1931):
Nguyên quán ở Quảng Ngãi. GS-TS ngành Vật Lý. Chủ nhiệm 2 đề tài cấp Nhà Nước (tính lò phản ứng; đưa điện nguyên tử vào VN). Huy chương vì Sự Nghiệp KH & CN.


43. Cao Cự Bội (1937):
Giáo sư - Tiến sĩ. Cố vấn tài chính - tiền tệ cho Thủ tướng Việt Nam và Thủ Tướng Lào. Nguyên Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Đại Việt (khen thưởng HC vì Sự nghiệp GD, HC vì Sự nghiệp KH&CN).


44. Cao Sĩ Kiêm (1941):
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (từ năm 1989-1997). Hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ VN.


45. Cao Tiến Huỳnh (1947):
GS-TSKH, Viện trưởng viện tự động hóa Quân sự - Bộ Quốc Phòng.


46. Cao Minh Quang (1953):
Thứ trưởng Bộ Y tế.


4
7. Cao Lại Quang (1955): sinh tại Thanh Hóa. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.


48. Cao Đức Phát (1956):
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.


49. Cao Thị Bảo Vân (1962):
TS-Phó Viện trưởng viện Pasteur Tp.HCM, đạt giải WIPO và giải Vifotec năm 2007.


50. Cao Văn Bổn:
Bộ trưởng Bộ Kinh Tế-Tài Chính, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1969-1976).


51. Cao Xuân Thấn:
Đại sứ Việt Nam tại Ma-rốc.


52. Cao Viết Sinh:
Thứ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư.


53. Cao Đức Thái:
TS-Viện Trưởng, Chủ tịch HĐKH Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Hành chính Quốc Gia HCM.


54. Cao Duy Tiến:
PGS-TS, Viện trưởng Viện KHCN Xây Dựng - Bộ Xây Dựng.


55. Cao Văn Sung:
GS-TSKH, phó Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật.


56. Cao Văn Viên:
TS-Phó Viện trưởng Viện Y Học Lâm Sàng và Các Bệnh Nhiệt Đới (thời gian 1995 – 2006).


57. Cao Minh Châu:
PGS-TS tại ĐH Y Hà Nội, Chủ tịch hội Đông Y HN, UVTV BCHTW hội Đông Y VN.


58. Cao Văn:
PGS-TS Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương.


59. Cao Tiến Đức:
PGS-TS Đại tá – Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý học Bệnh viện Quân y 103 (Hà Đông, Hà Nội).


60. Cao Thế Hà:
PGS-TS tại ĐH KHTN (HN), Phó GĐ TTNC CN & MT.


61. Cao Văn Thịnh:
PGS-TS, BS Trưởng khoa Lồng ngực Mạch máu BV ND 115 HCM, Nhà khoa học VN.


62. Cao Đình Thanh:
TS-Phó Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử VN - Bộ KH & CN.


63. Cao Minh Kiểm:
phó Cục trưởng Cục TT & KH-CN Quốc Gia - Bộ KH & CN.


64. Cao Huy Long:
Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bô - Bộ KH & CN


65. Cao Hữu Trí:
GS-TS. Tổng giám đốc Viện công nghệ cao Sài Gòn tại Mỹ (SAIT)


66. Cao Đình Triều:
PGS-TS. Phó chủ tịch hội Địa chấn Châu Á, Tổng thư ký Hội KH & KT Địa Vật lý VN.


67. Cao Văn Luận (1908-1986):
GS-Thành viên sáng lập và là Viện trưởng viện ĐH Huế (năm 1957-1964) nay là trường ĐH Huế.


68. Cao Văn Tụ (1920):
Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (1987-1988). (Tham gia Cách mạng đổi tên là Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần).


69. Cao Văn Phường (1940):
Nguyên quán tại Cà Mâu. GS-TSKH, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kỹ sư LB Nga (A.M Prokhorov). Hiện là Hiệu trưởng trường Đại Học Bình Dương.


70. Cao Hữu Trượng (1936):
PGS-TS.Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.


71. Cao Minh Thì:
PGS-TS.Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TP HCM.


72. Cao Văn:
GS-TS Hiệu trưởng trường ĐH Hùng Vương (Tỉnh Phú Thọ).


73. Cao Ngọc Thành (1958):
GS-TS, NGƯT Hiệu trưởng trường ĐH Y Dược Huế.


74. Cao Việt Dũng:
TS. Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh.


7
5. Cao Trường Sinh: GS-TS. Phó hiệu trưởng ĐH Y Khoa Vinh.


76. Cao Văn Sâm:
PSG-TS, Phó tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB - XH).


77. Cao Văn Trọng:
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre.


78. Cao Thị Hải:
Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình


79. Cao Thế Dung:
GS-TS, Sử gia nổi tiếng ở Pháp.


80. Cao Huy Thuần:
Nhà nghiên cứu văn hóa sử nổi tiếng ở Pháp.


81. Cao Tiến Lê:
Nhà văn - Giám đốc bảo tàng văn học Việt Nam.


82. Cao Văn Chí:
BSCK II - Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Tây Ninh.


83. Cao Việt Bách:
Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam.


GHI CHÚ:
Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác (ví dụ: Quê quán, năm sinh, năm mất...). Bản danh sách nói trên chỉ là những thống kê bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!


Mọi thư từ trao đổi, vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:

 

CAO BÁ NGHIỆP

Mobile : 0918 028 053 / 0933 392 604.
E-mail :
cbn@caobaquat.com.vn

caonghiep07@gmail.com

 Video tham khảo

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp