• Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH TÌM RA HANG ĐỘNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI CỦA HỒ KHANH

    ...Hồ Khanh, người đàn ông được dân trong vùng họi là “Vua hang động” hiện đã 48 tuổi, dáng cao gầy, rắn rỏi, trú ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Nhớ về chuyến đi rừng năm 1990, ông Khanh kể: “Thời đó, tôi cũng như bao người địa phương, lên rừng tìm kế sinh nhai. Trong lần đi rừng một mình, tôi tình cờ nhìn thấy làn mây trắng đục, có gió lớn kèm tiếng hú thổi ra. Lại gần thì làn gió mát lạnh”...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN CHỮ VIẾT THỜI HÙNG VƯƠNG

    (VTC News) - Ông Vương Duy Trinh, Tổng đốc Thanh Hóa, phát hiện ra một văn bản là một bài thơ viết bằng thứ chữ lạ, vờn lên như ngọn lửa, gọi là hỏa tự. Văn bản chữ lạ này được phiên dịch ra chữ Hán và tựa đề bài thơ đó là “Mời trầu”, có nội dung ca ngợi tình yêu...

  • Pic Mgmt

    SỰ SỈ NHỤC QUỐC GIA QUA BẢN ĐỒ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH THÙ ĐỊA LÝ TRUNG QUỐC

    Bản đồ là một phần quan trọng trong việc tạo dựng và sử dụng hình ảnh quốc gia. Bài viết này nghiên cứu những bản đồ hiện đại của Trung Quốc để chỉ ra cách mà những biên giới rất cụ thể giữa không gian trong và ngoài nước là kết quả tự nhiên của các công trình biểu tượng của địa lý học lịch sử và những quy ước của bản đồ học Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    NGHỀ ĐI BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Từ xa xưa, người Việt đã lập nên kỳ tích chinh phục biển cả. Những điều ấy đã được viết trong các trang sách nước ngoài từ thế kỷ XVII và trước đó nữa...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ BÍ ẨN BÃI CỌC BẠCH ĐẰNG GIANG

    726 năm trước, nước Đại Việt bé nhỏ đã đánh tan tác 600 chiến thuyền và 40 vạn quân Nguyên Mông, trong trận thủy chiến Bạch Đằng. Dòng chảy thời gian hơn 700 năm, đã che phủ nhiều bí ẩn quanh trận thủy chiến oanh liệt này...

  • Pic Mgmt

    DINH THỰ VUA MÈO TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

    Khu dinh thự nằm trên thung lũng được chọn kỹ theo phong thủy. Đây là di tích quốc gia, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng từ ngày 23/7 năm 1993. Chủ dinh thự, ông Vương Chí Sình là người H’mông trong dòng tộc từng được biết đến như “vua người H’mông” khu vực Hà Giang những năm trước cách mạng...

  • Pic Mgmt

    TIỂU SỬ TÓM TẮT TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THANH BÍCH

    Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích - Thế danh Nguyễn Quang Bích, sinh năm 1912 tại làng Mai Xá, xã Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, trong một gia đình tiểu nông của dòng họ khoa bảng Nguyễn Bá Thị... Sau 22 năm theo thầy vân du học đạo, năm 1940, Trưởng lão trở về ngôi chùa Sủi - Bắc Ninh (nay là Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội), chuyên tâm công phu tu tập Thiền - Tịnh song tu...

  • Pic Mgmt

    TRAO ĐỔI VỀ CHỮ VIẾT CỔ CỦA NGƯỜI LẠC VIỆT

    CAO BÁ NGHIỆP: Sau khi đọc các bài viết trên DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG, tôi thấy có nhiều nội dung rất đáng quan tâm. Tuy nhiên, trong diễn đàn này tôi không thấy giới sử học nào tham gia (các GS-TS sử học, các nhà nghiên cứu sử học và các ngành khác có liên quan ...)? Rất tiếc! Tôi xin mạn phép quý vị, được tổng hợp & giới thiệu nội dung các bài biết đáng quan tâm nói trên, như sau:...

  • Pic Mgmt

    CHÙA DÂU (BẮC NINH) - NGÔI CHÙA CỔ NHẤT VIỆT NAM

    ...Chùa Dâu còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân hay Cổ Châu, tọa lạc ngay trung tâm của khu di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây là thủ phủ của quận Giao Chỉ (Giao Châu), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta, bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và Lăng mộ Sỹ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, gốm cổ, phố chợ sầm uất của đô thị Luy lâu,...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA VIỆT NAM

    ...Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH

    Theo thời gian và cũng vì thời đại, chúng ta đã mất nhiều tài liệu và không được tiếp cận với các tài liệu xưa. Vì vậy mà tôi lập Sơn Trung thư trang để làm một thư viện nhỏ với tinh thần vô vị lợi, tôi có thể giữ cho tôi và cống hiến cho moi người. Khi còn ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    LỢI DỤNG BÀI THUỐC XÁO TAM PHÂN

    Sau khi lõm bõm học được vài bí quyết từ người đã chữa lành bệnh cho mình, ông Lê Hăng huy động người thân ráo riết đi đào cây xáo tam phân rồi kiếm tiền trên người bệnh nhờ bài thuốc học lóm chưa đến nơi đến chốn

  • Pic Mgmt

    TÂY NGUYÊN

    Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tây Nguyên là một trong 3 tiểu vùng của miền trung Việt Nam. Tây Nguyên cùng với Bắc Trung Bộ Việt Nam và Nam Trung Bộ Việt Nam hợp thành miền trung của Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM

    Làng cổ Đường Lâm xưa gồm có 9 làng thuộc tổng Cam Gía Thịnh – Huyện Phúc Thọ - Trấn Sơn Tây. Trong đó có 5 làng liền kề nhau, mỗi làng có một cái giếng khơi quanh năm nước đầy và trong được xây bằng đá ong loại tốt nhất. Mỗi cái giếng đều nổi tiếng và được định vị bởi những giai thoại rất thú vị. Một cái giếng có tấm bia khá lớn dựng ngay bên cạnh, đề bốn chữ “Nhất phiến băng tâm” nhắc người đời giữ giếng sạch trong như giữ lòng trong sáng...

  • Pic Mgmt

    HÀ NỘI, CẦU THÊ HÚC, ĐỀN NGỌC SƠN

    ...Nổi bật giữa Hồ Gươm trong xanh, đền Ngọc Sơn được xây dựng trên một đảo nhỏ nằm về phía Bắc của hồ mang vẻ đẹp cổ kính và sang trọng hiếm có. Với thế hệ trẻ ngày nay, ít ai biết rằng, nơi đây từng trải qua bao thăng trầm, biến thiên, để rồi đứng vững vàng, lộng lẫy giữa lòng Hà Nội như ngày nay...

Chi tiết

HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

Đăng lúc: 2014-06-30 17:53:50 - Đã xem: 11222

CAO BÁ NGHIỆP:

Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!

Nội dung thông tin sẽ luôn luôn được chỉnh sửa, cập nhật mới. Kính mong quý vị, bà con cô bác & bạn đọc gần xa quan tâm theo dõi. Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 3, ngày 22 tháng 9 năm 2014.

Mọi thư từ trao đổi, v
ui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:
E-mail: caonghiep07@gmail.com
Mobile: 0918 028 053 / 0933 392 604

DANH SÁCH MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU HỌ CAO XƯA & NAY 


1. Cao Lỗ (?-179 trước Công nguyên): Danh tướng của Thục Phán An Dương Vương. Người chế tạo nỏ thần & có công xây thành Cổ Loa. Hiện có đền thờ Cao Lỗ Vương ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, thành phố Bắc Ninh.

2. Cao Doãn (năm 40-43): Người chỉ huy thủy quân tài giỏi dưới thời Hai Bà Trưng.


3. Cao Bà Liên Nương (năm 40-43):
(Nàng Sen, Cao Thị Liên), Vị tướng mưu lược của Hai Bà Trưng.


4. Cao Nhự (năm 40-43):
Nữ tướng thủy binh đầu tiên của Hai Bà Trưng.


5. Cao Tiến Đức (Thế kỷ XIII):
Gần đây, mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức – là người đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng.


6. Cao Quýnh (1449-?):
Nguyên quán: làng Lương Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa. Đỗ Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ năm 1475 thời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Đông các đại học sĩ.


7. Cao Đức Uý (1621-1689):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Nhâm Thìn (1652) ông đi thi Hội, trúng Tam Trường, được bổ chức Nho Huấn Đạo phủ Ứng Thiên.


8. Cao Dương Trạc (1690-1753):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729). Ông làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lễ, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.


9. Cao Huy Dật (1707-1749):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đậu Nho sinh trúng thức, chức Phụng Thị Văn Nội Giảng. Ông là cháu ruột, gọi Thượng thư Cao Dương Trạc là chú. Năm 1747, ông được thượng thư Cao Dương Trạc ủy thác viết gia phả họ Cao (CAO DƯƠNG GIA PHẢ TẬP)


10. Cao Tư (thế kỷ XVII):
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Cụ làm quan võ dưới triều Lê trung hưng. Khi mất được phong tước Thái Bảo Thọ Quận Công - Phó Quốc. Tổ phụ cụ Cao Tư di dời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp ở Thành Hóa. Dòng họ cụ Cao Tư có đến 30 võ quan dưới triều Lê trung hưng. Năm 2003, Sở Văn Hóa Thanh Hóa đã cấp bằng công nhận cụ Cao Tư là “Danh nhân văn hóa” của tỉnh và được xây dựng đền thờ tại thôn Hoằng Lộc, Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.


11. Cao Đình Độ (1741-1810) & con trai là Cao Đình Hương:
Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Tổ phụ ông di đời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Những người thợ kim hoàn ở miền Trung đều coi hai bố con ông là tổ sư của nghề Kim hoàn, họ lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ. Di tích nhà thờ Tổ nghề kim hoàn được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 168-QĐ/VH, ngày 2/3/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).


12. Cao Huy Diệu (1786-1820):
Danh sĩ Thăng Long. Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Giải Nguyên khoa Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn Gia Long, làm quan đốc học phủ Gia Định (nay là huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ông là tác giả của Cấn trai thi tập và Việt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) hiệu là Vô Song, tự là Hồng Quế Hiên


13. Cao Huy Tố (1803- ?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu vua Gia Long thứ 18 (1819). Cao Huy Tố được bổ làm Huyện Doãn huyện Cẩm Giàng, ông là con trai trưởng danh sĩ Cao Huy Diệu (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 42 ghi: Cha con, anh em cùng đăng khoa).


14. Cao Xuân Nguyên (1808-?):
Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), ông là con trai thứ hai danh sĩ Cao Huy Diệu. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 76).


15. Cao Bá Quát (1809-1865):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh nhân văn hóa. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), và là em song sinh với Cao Bá Đạt. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 77). Làm quan tới chức Giáo thụ phủ Quốc Oai, cáo quan về quê chăm sóc mẹ già 68 tuổi. 
Cao Bá Quát là nhà cách mạng, quân sự của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1854-1855) chống lại triều đình Nhà Nguyễn. Năm 2010, thành phố Hà Nội hoàn thành công trình xây dựng Nhà tưởng niệm Danh nhân Cao Bá Quát tại quê hương ông. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu quốc học thành phố HCM hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (gồm 2 tập). Năm 2013, nhà thờ họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa.


16. Cao Bá Đạt (1809-1855):
Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh sĩ Thăng Long. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15 (1834), và là anh song sinh với Cao Bá Quát. (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 62 ghi: anh em cùng đăng khoa). Ông làm quan tới chức tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Ông nổi tiếng văn chương, giỏi chính trị. Khi mất, nhân dân lập đền thờ ông ở Thanh Hóa.


17. Cao Văn Tụy (……..):
Quê quán Đoài Giáp, Phúc Thọ, Sơn Tây. Ông đỗ Cử nhân năm Canh Tý, niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840), làm quan đến chức Lang trung Bộ Hộ (hồ sơ số H62/4 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 02, mặt khắc 26).


18. Cao Duy Trân (…….):
Quê quán Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Làm quan đến chức Tri phủ (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


19. Cao Văn Dao (…….):
Quê quán Đông Tác, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Nhiều đời đăng khoa, làm quan tri huyện Yên Lạc. Ông là cháu danh sĩ Cao Huy Diệu, con của Cao Văn Nguyên. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 40).


20. Cao Văn Bính (…….):
Quê quán Phương Đình, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc Nguyên niên (1884). Ông là chú họ của Cao Văn Trứ (Chú cháu cùng đăng quang). Ông làm quan Tri huyện. (hồ sơ số H62/6 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 04, mặt khắc 58).


21. Cao Xuân Dục (1843-1923):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đỗ cử nhân năm 1876. Làm quan đến Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1903) triều Nguyễn, Đông các Đại học sĩ.


22. Cao Xuân Tiếu (1865-1939):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Làm quan đến Thượng Thư, Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán triều Nguyễn.


23. Cao Hữu Dực (Thế kỷ XIX):
Nguyên quán Thanh Hóa. Thượng thư Bộ binh, Tổng Đốc An Hà (An Giang & Hà Tiên) thời Minh Mạng. Ông Đậu Hương Cống năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) - Theo THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ĐỄ NHỊ KỶ, QUYỂN XXXIV. Ông giỏi về văn chương và là người khai sinh Tuồng Ô Thước.


24. Cao Thắng (1864-1893):
Nguyên quán Hà Tĩnh. Tướng của Phan Đình Phùng. Người chế tạo súng trường theo kiểu của Pháp.


25. Cao Quảng Thuận:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869.


26. Cao Văn Hứa:
Quan võ. Đỗ phó bảng thời Nguyễn, năm 1869


27. Cao Bá Nghi (Thế kỷ XIX):
Đô đốc thành Gia Định dưới thời Minh Mạng (1791-1841). Ông cũng là người giỏi về văn thơ.


28. Cao Văn Lầu (1892-1976):
Nhạc sỹ, tác giả Dạ cổ hoài lang.


29. Cao Quỳnh Cư (1888 -?), Cao Hoài Sang (1901-1971):
Thượng Phẩm, Thượng Sanh của Đạo Cao Đài - (Đạo do người Việt Nam thành lập).


30. Cao Xuân Huy (1900-1983):
Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).


31. Cao Văn Khánh (1917-1980):
Trung Tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân VN - Bộ Quốc Phòng.


32. Cao Đăng Chiếm (1921-2007):
Thượng Tướng-Thứ trưởng Bộ Công An.


33. Cao Văn Viên (1921-2008):
Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa (dưới thời Ngô Đình Diệm) – Nguyên quán: Hưng Yên (Bắc Việt Nam), sinh tại Viên-chăn (Lào).


34. Cao Tiến Phiếm (1941):
Thiếu Tướng, trợ lý Tổng bí thư; Nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng. Hiện là trưởng Ban liên lạc họ Cao Việt Nam.


35. Cao Xuân Hồng:
Trung Tướng, Phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát QLHC về TTATXH - Bộ Công An.


36. Cao Ngọc Oánh:
Trung Tướng, Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát THAHS & HTTP - Bộ Công An.


37. Cao Phòng (? -1991):
Thiếu Tướng - Nguyên phó cục trưởng cục cảnh sát nhân dân - Bộ Công An.


38. Cao Minh Nhạn:
Thiếu Tướng - Phó Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát PCTP - Bộ Công An.


39. Cao Long Hỷ:
Thiếu Tướng - Cục trưởng cục bảo vệ an ninh quân đội - Bộ Quốc Phòng.


40. Cao Lương Bằng:
Thiếu Tướng - Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy QS tỉnh Hà Tỉnh.


41. Cao Xuân Khuông:
Thiếu Tướng, phó Tư lệnh quân khu 4.


42. Cao Chi (1931):
Nguyên quán ở Quảng Ngãi. GS-TS ngành Vật Lý. Chủ nhiệm 2 đề tài cấp Nhà Nước (tính lò phản ứng; đưa điện nguyên tử vào VN). Huy chương vì Sự Nghiệp KH & CN.


43. Cao Cự Bội (1937):
Giáo sư - Tiến sĩ. Cố vấn tài chính - tiền tệ cho Thủ tướng Việt Nam và Thủ Tướng Lào. Nguyên Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Đại Việt (khen thưởng HC vì Sự nghiệp GD, HC vì Sự nghiệp KH&CN).


44. Cao Sĩ Kiêm (1941):
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (từ năm 1989-1997). Hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ VN.


45. Cao Tiến Huỳnh (1947):
GS-TSKH, Viện trưởng viện tự động hóa Quân sự - Bộ Quốc Phòng.


46. Cao Minh Quang (1953):
Thứ trưởng Bộ Y tế.


4
7. Cao Lại Quang (1955): sinh tại Thanh Hóa. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.


48. Cao Đức Phát (1956):
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.


49. Cao Thị Bảo Vân (1962):
TS-Phó Viện trưởng viện Pasteur Tp.HCM, đạt giải WIPO và giải Vifotec năm 2007.


50. Cao Văn Bổn:
Bộ trưởng Bộ Kinh Tế-Tài Chính, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1969-1976).


51. Cao Xuân Thấn:
Đại sứ Việt Nam tại Ma-rốc.


52. Cao Viết Sinh:
Thứ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư.


53. Cao Đức Thái:
TS-Viện Trưởng, Chủ tịch HĐKH Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Hành chính Quốc Gia HCM.


54. Cao Duy Tiến:
PGS-TS, Viện trưởng Viện KHCN Xây Dựng - Bộ Xây Dựng.


55. Cao Văn Sung:
GS-TSKH, phó Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật.


56. Cao Văn Viên:
TS-Phó Viện trưởng Viện Y Học Lâm Sàng và Các Bệnh Nhiệt Đới (thời gian 1995 – 2006).


57. Cao Minh Châu:
PGS-TS tại ĐH Y Hà Nội, Chủ tịch hội Đông Y HN, UVTV BCHTW hội Đông Y VN.


58. Cao Văn:
PGS-TS Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương.


59. Cao Tiến Đức:
PGS-TS Đại tá – Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý học Bệnh viện Quân y 103 (Hà Đông, Hà Nội).


60. Cao Thế Hà:
PGS-TS tại ĐH KHTN (HN), Phó GĐ TTNC CN & MT.


61. Cao Văn Thịnh:
PGS-TS, BS Trưởng khoa Lồng ngực Mạch máu BV ND 115 HCM, Nhà khoa học VN.


62. Cao Đình Thanh:
TS-Phó Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử VN - Bộ KH & CN.


63. Cao Minh Kiểm:
phó Cục trưởng Cục TT & KH-CN Quốc Gia - Bộ KH & CN.


64. Cao Huy Long:
Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bô - Bộ KH & CN


65. Cao Hữu Trí:
GS-TS. Tổng giám đốc Viện công nghệ cao Sài Gòn tại Mỹ (SAIT)


66. Cao Đình Triều:
PGS-TS. Phó chủ tịch hội Địa chấn Châu Á, Tổng thư ký Hội KH & KT Địa Vật lý VN.


67. Cao Văn Luận (1908-1986):
GS-Thành viên sáng lập và là Viện trưởng viện ĐH Huế (năm 1957-1964) nay là trường ĐH Huế.


68. Cao Văn Tụ (1920):
Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (1987-1988). (Tham gia Cách mạng đổi tên là Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần).


69. Cao Văn Phường (1940):
Nguyên quán tại Cà Mâu. GS-TSKH, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kỹ sư LB Nga (A.M Prokhorov). Hiện là Hiệu trưởng trường Đại Học Bình Dương.


70. Cao Hữu Trượng (1936):
PGS-TS.Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.


71. Cao Minh Thì:
PGS-TS.Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TP HCM.


72. Cao Văn:
GS-TS Hiệu trưởng trường ĐH Hùng Vương (Tỉnh Phú Thọ).


73. Cao Ngọc Thành (1958):
GS-TS, NGƯT Hiệu trưởng trường ĐH Y Dược Huế.


74. Cao Việt Dũng:
TS. Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh.


7
5. Cao Trường Sinh: GS-TS. Phó hiệu trưởng ĐH Y Khoa Vinh.


76. Cao Văn Sâm:
PSG-TS, Phó tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB - XH).


77. Cao Văn Trọng:
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre.


78. Cao Thị Hải:
Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình


79. Cao Thế Dung:
GS-TS, Sử gia nổi tiếng ở Pháp.


80. Cao Huy Thuần:
Nhà nghiên cứu văn hóa sử nổi tiếng ở Pháp.


81. Cao Tiến Lê:
Nhà văn - Giám đốc bảo tàng văn học Việt Nam.


82. Cao Văn Chí:
BSCK II - Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Tây Ninh.


83. Cao Việt Bách:
Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam.


GHI CHÚ:
Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác (ví dụ: Quê quán, năm sinh, năm mất...). Bản danh sách nói trên chỉ là những thống kê bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!


Mọi thư từ trao đổi, vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:

 

CAO BÁ NGHIỆP

Mobile : 0918 028 053 / 0933 392 604.
E-mail :
cbn@caobaquat.com.vn

caonghiep07@gmail.com

 Video tham khảo

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp