• Pic Mgmt

    TRỐNG ĐÔNG SƠN Ở THANH HÓA

    Những chiếc trống đồng ở nước ta lần đầu tiên được sử sách ghi nhận cách đây hơn 2000 năm lịch sử, qua việc ghi chép về “thành tích” của Mã Viện. Sau khi đánh bại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, tên tướng xâm lược của thời Đông Hán này đã thu gom các trống đồng của người Lạc Việt đất Giao Chỉ, đưa về kinh đô Lạc Dương để phá hủy, lấy nguyên liệu đúc ngựa đồng...

  • Pic Mgmt

    TỘC "TRÀ", NƠI VÙNG ĐẤT "SINH TỤ"

    Đồng Dương xưa vốn là kinh đô cổ, là “trái tim” của vương quốc Chămpa với quy mô bề thế của một Trung tâm Thiền viện Phật giáo bậc nhất của khu vực Đông Nam Á...

  • Pic Mgmt

    LÀNG VIỆT Ở ĐÔNG ANH

    Đông Anh - một huyện đồng bằng ở phía Bắc thành phố Hà Nội. Đây là vùng đất có bề dày về truyền thống và lịch sử văn hóa, lưu giữ những giá trị của một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc biệt là những di tích, lễ hội liên quan đến Cổ Loa thành, nơi đây còn lưu giữ được nhiều những bộ môn nghệ thuật truyền thống có giá trị như rối nước Đào Thục, ca trù Lỗ Khê, tuồng Lương Quy...

  • Pic Mgmt

    NGÂN HÀNG DỮ LIỆU DI SẢN

    Ý tưởng thành lập Ngân hàng dữ liệu văn hoá phi vật thể các dân tộc Việt Nam đã được manh nha từ đầu những năm 90 với các tác giả như GS.TS Tô Ngọc Thanh, GS. Nhạc sĩ Nguyễn Xinh, TS. Hoàng Sơn... Các giai đoạn thử nghiệm được mở đầu vào năm 1994 với "Chương trình điều tra cơ bản về văn hoá các dân tộc Việt Nam" do Viện nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật nay là Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tiến hành. Đến năm 2004 những điều kiện trong ý tưởng đó đã trở thành hiện thực đó là Trung tâm dữ liệu di sản văn hoá của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước là Viện Văn hoá Thông tin - Bộ Văn hoá Thông tin)...

  • Pic Mgmt

    DIỆN TÍCH NƯỚC VIỆT CỔ LỚN GẤP 10 LẦN NGÀY NAY

    Vùng đất phía Bắc của người Bách Việt từng lên đến tận phía Nam sông Dương Tử (hay Trường Giang), tới khu vực Hồ Động Đình (tức tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay). Việc này không chỉ được ghi nhận lại trong các truyền thuyết mà còn nằm trong những chứng tích của lịch sử...

  • Pic Mgmt

    KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

    Cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây Bắc, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Đây là một di tích lịch sử quốc gia cấp từ năm 1962. Năm 2013, khu di tích này được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt...

  • Pic Mgmt

    THĂM NHÀ THỜ THÁM HOA CAO QUÝNH

    ...Ngày 9 tháng 2 năm 2012, trong chuyến đi về Nghệ An dự GIỖ TỔ HỌ CAO chúng tôi đã đến thăm gia đình anh Cao Nguyên Hùng, hậu duệ của cụ tổ Thám Hoa Cao Quýnh, hiện nay gia phả cụ tổ Cao Quýnh vẫn còn lưu giữ tại nhà thờ ở Diển An, Diễn Châu, Nghệ An...

  • Pic Mgmt

    HỊCH TƯỚNG SĨ THẾ KỶ 21

    Ta cùng các ngươi, Sinh ra phải thời bao cấp. Lớn lên gặp buổi thị trường...

  • Pic Mgmt

    ĐÊM TÔN VINH CA TRÙ VỚI NGHỆ NHÂN KIM ĐỨC

    Ngày 13/6 vừa qua tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội. Nghệ nhân ca trù Phó Thị Kim Đức đã cùng các truyền nhân của mình trình diễn đêm "Ca trù đàn hát khuôn". Ở tuổi 82, nghệ nhân Phó Thị Kim Đức vẫn là mẫu mực của thể loại âm nhạc dân gian này. Bà là một bậc thầy lớn của cổ nhạc Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

    Sự kỳ vĩ của các hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng (Cinet) – Không chỉ là 1 trong số 7 di sản văn hóa và thiên nhiên được thế giới công nhận tại Việt nam. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống hang động tuyệt đẹp với con sông ngầm dài nhất thế giới. Cách thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình khoảng 50 km, Vườn quốc gia Phong Nhà – Kẻ Bàng là một quần thể rừng và núi đá vôi rộng lớn có diện tích khoảng 200.000 ha...

  • Pic Mgmt

    THƠ CAO BÁ QUÁT

    Cao Bá Quát (Chu Thần, 1809 – 1854) quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông chỉ đỗ đến cử nhân nhưng trên thực tế, Cao Bá Quát đã trở thành một nho sĩ kiệt hiệt của thời đại...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ CỦA SƯ TRỤ TRÌ LÀM LỄ CẦU AN CHO ĐẠI TƯỚNG

    Là người có mặt từ rất sớm tại nhà riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (số 30 Hoàng Diệu) để cầu an cho Đại tướng, Đại đức Thích Thanh Phương – trụ trì chùa Sủi (Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội) chia sẻ: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một biểu tượng của dân tộc. Người ra đi là một sự mất mát lớn lao và để lại niềm tiếc thương cho toàn thể nhân dân, trong đó có cả phía Phật giáo”.

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN

    Đối với người Việt Nam, gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên. Từ xa xưa, phong tục thờ cúng tổ tiên đã trở thành một nét đẹp truyền thống trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt Nam. Việc thờ cúng tổ tiên là thể hiện lòng tri ân của con cháu đối với công ơn của các bậc tiền nhân...

  • Pic Mgmt

    VÌ SAO THANH HÓA LÀ “CÁI NÔI” SẢN SINH VUA CHÚA VIỆT?

    Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu, tức Thanh Hóa được xem là nơi phát tích của hầu hết các dòng họ vua, chúa Việt xưa. Vì sao vậy?...

Chi tiết

HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

Đăng lúc: 2015-08-18 16:19:45 - Đã xem: 11884

CAO BÁ NGHIỆP: 


Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị! Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 6, ngày 07 tháng 9 năm 2015.


DANH SÁCH MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU HỌ CAO XƯA & NAY 


1. Cao Lỗ (?-179 trước Công nguyên): Danh tướng của Thục Phán An Dương Vương. Người chế tạo nỏ thần & có công xây thành Cổ Loa. Hiện còn đền thờ Cao Lỗ Vương ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, thành phố Bắc Ninh.

2. Cao Doãn (năm 40-43): Người chỉ huy thủy quân tài giỏi dưới thời Hai Bà Trưng.

3. Cao Bà Liên Nương (năm 40-43): (Nàng Sen, Cao Thị Liên), Vị tướng mưu lược của Hai Bà Trưng.

4. Cao Nhự (năm 40-43): Nữ tướng thủy binh đầu tiên của Hai Bà Trưng.

5. Cao Tiến Đức (Thế kỷ XIII): Gần đây, mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức – là người đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng.

6. Cao Quýnh (1449-?): Nguyên quán: làng Lương Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa. Đỗ Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ năm 1475 thời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Đông các đại học sĩ.

7. Cao Đức Uý (1621-1689): Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Nhâm Thìn (1652) ông đi thi Hội, trúng Tam Trường, được bổ chức Nho Huấn Đạo phủ Ứng Thiên.

8. Cao Dương Trạc (1690-1753): Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729). Ông làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lễ, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.

9. Cao Huy Dật (1707-1749): Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đậu Nho sinh trúng thức, chức Phụng Thị Văn Nội Giảng. Ông là cháu ruột, gọi Thượng thư Cao Dương Trạc là chú. Năm 1747, ông được thượng thư Cao Dương Trạc ủy thác viết gia phả họ Cao (CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ & CAO DƯƠNG HẬU PHẢ TẬP)

10. Cao Tư (thế kỷ XVII): Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Cụ làm quan võ dưới triều Lê trung hưng. Khi mất được phong tước Thái Bảo Thọ Quận Công - Phó Quốc. Tổ phụ cụ Cao Tư di dời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp ở Thành Hóa. Dòng họ cụ Cao Tư có đến 30 võ quan dưới triều Lê trung hưng. Năm 2003, Sở Văn Hóa (Tỉnh Thanh Hóa) đã cấp bằng công nhận cụ Cao Tư là “Danh nhân văn hóa” của tỉnh và được xây dựng đền thờ tại thôn Hoằng Lộc, Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

11. Cao Đình Độ (1741-1810) & con trai là Cao Đình Hương: Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Tổ phụ ông di đời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Những người thợ kim hoàn ở miền Trung đều coi hai bố con ông là tổ sư của nghề Kim hoàn, họ lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ. Di tích nhà thờ Tổ nghề kim hoàn được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 168-QĐ/VH, ngày 2/3/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).

12. Cao Huy Diệu (1786-1820): Danh sĩ Thăng Long. Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Giải Nguyên khoa Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn Gia Long, làm quan đốc học phủ Gia Định (nay là huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ông là tác giả của Cấn trai thi tậpViệt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) hiệu là Vô Song, tự là Hồng Quế Hiên.

13. Cao Huy Tố (1803- ?): Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân năm Kỷ Mão, niên hiệu vua Gia Long thứ 18 (1819). Cao Huy Tố được bổ làm Huyện Doãn huyện Cẩm Giàng, ông là con trai trưởng danh sĩ Cao Huy Diệu (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 42 ghi: Cha con, anh em cùng đăng khoa).

14. Cao Xuân Nguyên (1808-?): Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), ông là con trai thứ hai danh sĩ Cao Huy Diệu. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 76).

15. Cao Bá Quát (1809-1865): Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh nhân văn hóa. Ông đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), và là em song sinh với Cao Bá Đạt. (hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 77). Làm quan tới chức Giáo thụ phủ Quốc Oai, sau cáo quan về quê chăm sóc mẹ già 68 tuổi. Cao Bá Quát là nhà cách mạng, quân sự của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1854-1855) chống lại triều đình Nhà Nguyễn. Năm 2010, thành phố Hà Nội hoàn thành công trình xây dựng Nhà tưởng niệm Danh nhân Cao Bá Quát tại quê hương ông. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu quốc học thành phố HCM hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (gồm 2 tập). Năm 2013, nhà thờ họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia…

16. Cao Bá Đạt (1809-1855): Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Danh sĩ Thăng Long. Ông đỗ Cử nhân năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15 (1834), và là anh song sinh với Cao Bá Quát. (trong KHOA BẢNG THĂNG LONG HÀ NỘI – QUA TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN, trang 62 ghi: anh em cùng đăng khoa). Ông làm quan tới chức tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Ông nổi tiếng văn chương, giỏi chính trị. Khi mất, nhân dân lập đền thờ ông ở Thanh Hóa.

17. Cao Xuân Dục (1843-1923): Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đỗ cử nhân năm 1876. Làm quan đến Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1903) triều Nguyễn, Đông các Đại học sĩ.

18. Cao Xuân Tiếu (1865-1939): Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Làm quan đến Thượng Thư, Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán triều Nguyễn.

19. Cao Hữu Dực (1799-1858): Nguyên quán làng Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Còn có tên Cao Hữu Bằng, người làng Thế Chí Tây (Thừa Thiên-Huế). Ông Đậu Hương Cống năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) - Năm 1826, làm Hành tẩu phòng văn thư. Năm 1833, làm Án sát Hà Tĩnh, rồi Thự bố chính. Năm 1837, được chọn làm Thị Lang bộ Binh, sung hiệp tán ở Trấn Tây. Từng dâng sớ điều trần các việc trị an nơi đây. Năm 1840, tình hình biến động, ông bị giáng làm Viên ngoại lang bộ Binh, vẫn giữ công việc hiệp tán. Năm 1841, quân triều đình rút khỏi Trấn Tây, ông về làm Bố chánh An Giang, rồi bị truy lỗi, giáng xuống Tư vụ nhưng lãnh Án sát An Giang. Năm 1843, đổi về Gia Định rồi thăng thự tuyên phủ sứ Tây Ninh. Ông đã chiêu dụ dân Khmer an cư, lập ấp, cấp cho họ trâu bò, nông cụ để giữ vững biên cương. Năm 1845, được về kinh thăng hàm Thị lang bộ Binh, làm Thự Tuần phủ An Giang, rồi Tuần phủ Hà Tiên. Năm 1852, thăng Thự Tổng đốc An Hà, đóng góp nhiều công sức trong việc chiêu dụ nhân dân yên ổn làm ăn, trồng trọt. Năm 1859, ông lâm bệnh mất tại chức. Vua truy tặng Hiệp biện đại học sĩ, sai đưa quan tài về quê và cử quan đến tế. Con trai ông là Cao Hữu Sung làm quan đến Tuần phủ hưu trí. Cháu nội là Cao Hữu Lương đỗ khoa thi hương. Đây cũng là một vọng tộc ở làng Thế Chí Tây. 

Theo THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ĐỄ NHỊ KỶ, QUYỂN XXXIV. Cao Hữu Dực giỏi về văn chương và là người khai sinh Tuồng Ô Thước. 

20. Cao Thắng (1864-1893): Nguyên quán Hà Tĩnh. Tướng của Phan Đình Phùng. Người chế tạo súng trường theo kiểu của Pháp.

21. Cao Bá Nghi (Thế kỷ XIX): Đô đốc thành Gia Định dưới thời Minh Mạng (1791-1841). Ông cũng là người giỏi về văn thơ.

22. Cao Văn Lầu (1892-1976): Nhạc sỹ, tác giả Dạ cổ hoài lang.

23. Cao Quỳnh Cư (1888 -?), Cao Hoài Sang (1901-1971): Thượng Phẩm, Thượng Sanh của Đạo Cao Đài - (Đạo do người Việt Nam thành lập).

24. Cao Xuân Huy (1900-1983): Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).

25. Cao Văn Khánh (1917-1980): Trung Tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - Bộ Quốc Phòng.

26. Cao Đăng Chiếm (1921-2007): Thượng Tướng-Thứ trưởng Bộ Công An. Nguyên trưởng ban liên lạc họ Cao khu vực phía Nam đến năm 2001.

33. Cao Văn Viên (1921-2008): Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa (dưới thời Ngô Đình Diệm) – Nguyên quán: Hưng Yên (Bắc Việt Nam), sinh tại Viên-chăn (Lào).

34. Cao Tiến Phiếm (1941): Thiếu Tướng, nguyên trợ lý Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nông Đức Mạnh; Nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng. Hiện là trưởng Ban liên lạc họ Cao Việt Nam.

35. Cao Xuân Hồng: Trung Tướng, Phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát Quản Lý Hành Chính về Trật Tự An Toàn Xã Hội - Bộ Công An.

36. Cao Ngọc Oánh: Trung Tướng, Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát Thi Hành Án Hình Sự & HTTP - Bộ Công An.

37. Cao Phòng (? -1991): Thiếu Tướng - Nguyên phó cục trưởng cục cảnh sát nhân dân - Bộ Công An.

38. Cao Minh Nhạn: Thiếu Tướng - Phó Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát Phòng Chống Tội Phạm - Bộ Công An.

39. Cao Long Hỷ: Thiếu Tướng - Cục trưởng cục bảo vệ an ninh quân đội - Bộ Quốc Phòng.

40. Cao Lương Bằng: Thiếu Tướng - Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy Quân Sự tỉnh Hà Tĩnh.

41. Cao Xuân Khuông: Thiếu Tướng, phó Tư lệnh quân khu 4.

42. Cao Chi (1931): Nguyên quán ở Quảng Ngãi. GS-TS ngành Vật Lý. Chủ nhiệm 2 đề tài cấp Nhà Nước (tính lò phản ứng; đưa điện nguyên tử vào VN). Huy chương vì Sự Nghiệp Khoa Học & Công Nghệ.

43. Cao Cự Bội (1937): Giáo sư - Tiến sĩ. Cố vấn tài chính - tiền tệ cho Thủ tướng Việt Nam và Thủ Tướng Lào. Nguyên Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Đại Việt (khen thưởng Huy Chương vì Sự nghiệp Giáo Dục, Huy Chương vì Sự nghiệp Khoa Học & Công Nghệ).

44. Cao Sĩ Kiêm (1941): Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (từ năm 1989-1997). Hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ VN.

45. Cao Tiến Huỳnh (1947): GS-TSKH, Viện trưởng Viện tự động hóa Quân sự - Bộ Quốc Phòng.

46. Cao Minh Quang (1953): Thứ trưởng Bộ Y tế.

47. Cao Lại Quang (1955): sinh tại Thanh Hóa. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.

48. Cao Đức Phát (1956): Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

49. Cao Thị Bảo Vân (1962): TS-Phó Viện trưởng viện Pasteur Tp.HCM, đạt giải WIPO và giải Vifotec năm 2007.

50. Cao Văn Bổn: Bộ trưởng Bộ Kinh Tế-Tài Chính, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1969-1976).

51. Cao Xuân Thấn: Đại sứ Việt Nam tại Ma-rốc.

52. Cao Viết Sinh: Thứ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư.

53. Cao Đức Thái: TS-Viện Trưởng, Chủ tịch Hội Đồng Khoa Học Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Hành chính Quốc Gia Tp.HCM.

54. Cao Duy Tiến: PGS-TS, Viện trưởng Viện Khoa Học Công Nghệ Xây Dựng - Bộ Xây Dựng.

55. Cao Văn Sung: GS-TSKH, phó Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật.

56. Cao Văn Viên: TS-Phó Viện trưởng Viện Y Học Lâm Sàng và Các Bệnh Nhiệt Đới (thời gian 1995 – 2006).

57. Cao Minh Châu: PGS-TS tại ĐH Y Hà Nội, Chủ tịch hội Đông Y HN, Uỷ Viên Thường Vụ Ban Chấp Hành TW hội Đông Y Việt Nam.

58. Cao Văn: PGS-TS Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương.

59. Cao Tiến Đức: PGS-TS Đại tá – Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý học Bệnh viện Quân y 103 (Hà Đông, Hà Nội).

60. Cao Thế Hà: PGS-TS tại Đại Học Khoa Học Tự Nhiên (HN), Phó GĐ Trung Tâm Nghiên Cứu Công Nghệ & Môi Trường.

61. Cao Văn Thịnh: PGS-TS, BS Trưởng khoa Lồng ngực Mạch máu Bệnh Viện Nhân Dân 115 Tp.HCM.

62. Cao Đình Thanh: TS-Phó Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam - Bộ Khoa Học & Công Nghệ.

63. Cao Minh Kiểm: phó Cục trưởng Cục Thông Tin & Khoa Học-Công Nghệ Quốc Gia - Bộ Khoa Học & Công Nghệ.

64. Cao Huy Long: Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bô - Bộ Khoa Học & Công Nghệ

65. Cao Hữu Trí: GS-TS. Tổng giám đốc Viện công nghệ cao Sài Gòn tại Mỹ (SAIT)

66. Cao Đình Triều: PGS-TS. Phó chủ tịch hội Địa chấn Châu Á, Tổng thư ký Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Địa Vật lý Việt Nam.

67. Cao Văn Luận (1908-1986): GS-Thành viên sáng lập và là Viện trưởng viện Đại Học Huế (năm 1957-1964) nay là trường Đại Học Huế.

68. Cao Văn Tụ (1920): Nguyên Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (1987-1988). (Tham gia Cách mạng đổi tên là Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần).

69. Cao Văn Phường (1940): Nguyên quán tại Cà Mâu. GS-TSKH, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kỹ sư Liên Bang Nga (A.M Prokhorov). Hiện là Hiệu trưởng trường Đại Học tư thục Bình Dương.

70. Cao Hữu Trượng (1936): PGS-TS Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.

71. Cao Minh Thì: PGS-TS.Phó hiệu trưởng trường Đại Học Sư phạm TPHCM.

72. Cao Văn: GS-TS Hiệu trưởng trường Đại Học Hùng Vương (Tỉnh Phú Thọ).

73. Cao Ngọc Thành (1958): GS-TS, NGƯT Hiệu trưởng trường ĐH Y Dược Huế.

74. Cao Việt Dũng: TS. Hiệu trưởng trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh.

75. Cao Trường Sinh: GS-TS. Phó hiệu trưởng Đại Học Y Khoa Vinh.

76. Cao Văn Sâm: PSG-TS, Phó tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ Lao Động Thương Binh & Xã Hội).

77. Cao Văn Trọng: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre.

78. Cao Thị Hải: Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình

79. Cao Thế Dung: GS-TS, Sử gia nổi tiếng ở Pháp.

80. Cao Huy Thuần: Nhà nghiên cứu văn hóa sử nổi tiếng ở Pháp.

81. Cao Tiến Lê: Nhà văn - Giám đốc bảo tàng văn học Việt Nam.

82. Cao Văn Chí: BSCK II - Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Tây Ninh.

83. Cao Việt Bách: Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam. Chỉ huy trưởng dàn nhạc của Uỷ Ban phát thanh & truyền hình Việt Nam.


GHI CHÚ:
 Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách nói trên chỉ là những thống kê bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị!


Mọi thư từ trao đổi, vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ thư điện tử:

 

CAO BÁ NGHIỆP
Giám đốc Trung tâm Kết nối Dòng họ Việt

Mobile : 012 12494183/012 8963 2119
E-mail :
 cbn@caobaquat.com.vn
cbnghiep@gmail.com


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp