• Pic Mgmt

    VẬN NƯỚC RỒI SẼ RA SAO ?

    Thượng tọa Thích Viên Như là sư trụ trì chùa Linh Sơn, Đà Lạt. Tình cờ tôi đọc được bài viết của Thầy nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long với tiêu đề VẬN NƯỚC RỒI SẼ RA SAO? Nhận thấy nội dung bài viết này của Thầy Viên Như có ý nghĩa nhân văn rất cụ thể. Tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết này để quý vị & bạn đọc gần xa tham khảo, nếu có duyên. Mọi ý kiến phản hồi, xin liên lạc trực tiếp với Thầy theo số điện thoại: 0919 389 379

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC CỦA MINH TRIẾN VIỆT & SUY NGHĨ VỀ MINH TRIẾT VIỆT HIỆN ĐẠI

    Xưa nay dân tộc và đất nước thịnh suy đều có quan hệ đến sự thăng trầm của Minh triết. Việt Nam cũng vậy, sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước đã có bộ mặt khác trước nhiều. Nhưng nhìn vào thực trạng kinh tế, xã hội, văn hoá hiện nay thì người ta không rõ Minh triết Việt đang thăng hay trầm ra sao?...

  • Pic Mgmt

    BIA CỔ GẦN 700 TUỔI ĐỘC NHẤT XỨ THANH

    Bảo vật quốc gia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Bi (Lam Kinh, Thanh Hóa) được khởi dựng hơn 500 năm trước. Nặng 13 tấn, tấm bia khắc ghi công trạng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, bậc mẫu nghi thiên hạ, tài đức vẹn toàn...

  • Pic Mgmt

    KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA

    Cao Bá Nghiệp: Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) - Tôi xin kể cho bà con cô bác nội ngoại dòng họ Cao cùng quý vị & các bạn gần xa nghe tôi kể về những kỷ niệm xưa, về một thời không thể nào quên...

  • Pic Mgmt

    CHẠM TAY TỚI 5000 NĂM LỊCH SỬ

    ...Tháng 4 năm 2017, chúng tôi lớp hậu duệ Việt tộc quyết định đi tìm cho ra sự thật: Có hay không có Thiên Đài nơi khởi nguồn, nơi Tổ tiên đã tuyên ngôn lập quốc Văn Lang....

  • Pic Mgmt

    NGÔI ĐỀN LƯU GIỮ NHIỀU BÍ ẨN

    Đền Cao thuộc thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương toạ lạc trên một ngọn đồi cùng vành đai với 99 quả đồi nổi danh từ câu ca huyền thoại về đàn chim nhạn của người dân nơi đây: “Chín mươi chín con theo mẹ dòng dòng/Một cô con gái phải lòng bên kia”...

  • Pic Mgmt

    VỀ VIỆC "THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG"

    ...Xung quanh những vấn đề Báo Thanh niên nêu ra trong thời gian vừa qua, cho rằng đó là những phát hiện lịch sử của Thiền sư Lê Mạnh Thát và cần viết lại lịch sử dân tộc, phóng viên Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Phan Huy Lê (ảnh) – Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI MINANGKABAU, HẬU DUỆ CỦA CÁC TƯỚNG LĨNH CỦA HAI BÀ TRƯNG Ở SUMATRA-INDO

    ...Các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Indonesia cho rằng người Minangkabau có nguồn gốc từ người Việt và hiện chiếm tới 80% trong tổng số 4,5 triệu dân của tỉnh Tây Sumatra...Theo các nhà sử học, mùa Xuân năm 43, một số tướng lĩnh của Hai Bà Trưng cùng những người không chịu khuất phục giặc phương Bắc, đã chạy về phương Nam và cuối năm đó họ tiếp tục lên thuyền ra biển...

  • Pic Mgmt

    BẾ MẠC LIÊN HOAN CA TRÙ TOÀN QUỐC 2014

    Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2014 có sự góp mặt của 26 Câu lạc bộ thuộc 12 tỉnh, thành phố, tham gia biểu diễn hơn 100 tiết mục được đầu tư bài bản, thể hiện 3 xu hướng chính: sự trao truyền biểu diễn cho lớp trẻ; khôi phục vốn cổ; phóng tác nhằm mục đích làm phong phú hơn nghệ thuật hát Ca trù...

  • Pic Mgmt

    THĂM NHÀ THỜ THÁM HOA CAO QUÝNH

    ...Ngày 9 tháng 2 năm 2012, trong chuyến đi về Nghệ An dự GIỖ TỔ HỌ CAO chúng tôi đã đến thăm gia đình anh Cao Nguyên Hùng, hậu duệ của cụ tổ Thám Hoa Cao Quýnh, hiện nay gia phả cụ tổ Cao Quýnh vẫn còn lưu giữ tại nhà thờ ở Diển An, Diễn Châu, Nghệ An...

  • Pic Mgmt

    HIỂU ĐÚNG VỀ PHONG TỤC ĐI LỄ CHÙA ĐẦU NĂM

    Đi lễ chùa đầu năm là một trong những nét văn hóa truyền thống không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đại đa số người Việt. Tuy nhiên, nhiều người đi chùa nhưng không biết lễ Phật thế nào, dâng lễ ra sao, xin cung cấp một số thông tin nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng việc đi lễ chùa đầu năm này...

  • Pic Mgmt

    LĂNG ÔNG TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT Ở TRÀ ÔN

    Tiền quân Thống chế Điều bát tên thật là Thạch Duồng, quê ở làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Do có công với triều Nguyễn nên ông được ban quốc tính - họ Nguyễn và lấy tên là Nguyễn Văn Tồn. Ông được nhân dân Trà Ôn tôn kính như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi vùng đất Trà Ôn...

  • Pic Mgmt

    CÔNG TRÌNH SƯ NGUYỄN AN, NGƯỜI VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CỐ CUNG Ở TRUNG QUỐC (Bài viết của Tân An)

    Cố Cung, vốn có tên nữa là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là một quần thể kiến trúc cổ, quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất của Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc 15 của triều Minh (1417) vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1421), vua Minh tiến hành kế hoạch di chuyển Thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng, lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó, được tiếp tục triển khai với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ cực kỳ nguy nga, đồ sộ...

  • Pic Mgmt

    VĂN MINH VIỆT CỔ "BỊ ĐÁNH CẮP" NHƯ THẾ NÀO?

    Những cứ liệu trong lịch sử Trung Quốc chứng tỏ người Việt có nhiều phát minh vĩ đại, trong đó, lịch rùa chứng minh Việt Nam ra đời trước Trung Quốc. GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông, đã tìm ra những chứng cứ về những phát minh lý thú của người Việt trong thời kỳ dựng nước bị kẻ xâm lược cố tình xóa bỏ và đánh tráo. Đó là nền văn hóa nhân bản-là nền văn minh "Lịch toán-Nông nghiệp"...

Chi tiết

CHUNG LINH ĐẤT SỦI AI BÌ, THƯỢNG THƯ MỘT NGÕ BỐN VÌ HIỂN VINH

Đăng lúc: 2014-01-21 15:35:49 - Đã xem: 1874

 

Bên trái: Ông Cao Bá Nghiệp (TpHCM) và cụ Nguyễn Huy Kha (Ban Quản Lý Di Tích). Bên phải: Cụ Nguyễn Huy Thuân (Nhà nghiên cứu) và nhà văn Xuân Cang - (Hình minh họa)


“CHUNG LINH ĐẤT SỦI AI BÌ, THƯỢNG THƯ MỘT NGÕ BỐN VÌ HIỂN VINH’’
                                        (Bài viết của cụ Nguyễn Huy Thuân)


Đó là lời truyền tụng trong dân gian được ghi lại trong “Kinh bắc phong thổ diễn quốc sự” cách đây khoảng 150 năm. Thật vậy Sủi hay Phú Thị (Gia Lâm) 300 năm về trước là một vùng đất học, một trong 21 làng của cả nước có 10 tiến sĩ nho học trở lên, một địa danh không chỉ về mặt văn hoá mà cả về chính trị được cả nước biết đến.


Qua những tư liệu lịch sử ở Khu di tích Đình-Đền-Chùa, trên những đôi câu đối cổ cũng như các bài văn, bia và tộc phả cách đây vài trăm năm còn cho thấy đây là đất ngàn năm văn hiến, nơi địa linh nhân kiệt.“Bát bách dư niên kỳ phúc, nhập xuất tịch, khai lai kế vãng mỹ dân phong” nghĩa là: (Hơn tám trăm năm phúc lành, vào ra tiệc mở, tiếp nối thuần phong mỹ tục). Đó là một vế câu đối trước đây treo ở Đình Thừa Lương (Đình chợ làm cách đây 300 năm), nói lên sinh hoạt văn hoá đã mở mang ở đất này từ nghìn năm rồi. Bởi chính nơi đây là Trang Thổ Lỗi khi xưa, nơi đặt quân doanh của Tây vị đại vương, tướng quân Đào Liên Hoa dẹp loạn 12 xứ quân, chém đầu Lý Khuê (chiếm giữ vùng Siêu loại) giúp nhà Đinh dựng nghiệp đế vương đã trở thành nơi thờ ngài làm Thần Hoàng khi ngài qua đời “Cung đài long phụng tự, tương truyền Thổ Lỗi cựu quân dinh” đó là một minh chứng để khẳng định Sủi (chữ Nôm) tức trang Thổ Lỗi (chữ Hán) khi xưa đúng như lời truyền tụng trong dân gian và một số nhà nghiên cứu lịch sử đã xác định Sủi là Thổ Lỗi khi nói về quê hương Ỷ Lan Nguyên Phi. Trải qua các triều đại, đất này có năm tên gọi khác nhau: Trước tiên là Sủi (tiếng Nôm), Thổ Lỗi (chữ Hán). Năm 1068, được vua Lý Thái Tông đổi thành Hương Siêu Loại (Sau khi Nguyên Phi Ỷ Lan sinh thái tử Càn Đức). Tên xã “Phú Thị” được ghi trong bia Đại dương tự bi ký, năm Dương hoà thứ 2 (1636) và đến năm 1746, làng được mang danh hiệu Trung Nghĩa do người dân đất Sủi có thành tích đánh giặc gìn giữ quê hương và nhiều nơi khác được Vua ban biển vàng 3 chữ “Trung Nghĩa Lý”. (1)


Phú Thị vốn là đất Gia Lâm mà Gia Lâm xưa thuộc quận Tượng, rồi huyện Long Biên. Thời Lý thuộc Phủ Thiên Đức, thời Trần thuộc Lộ Bắc Giang, thời hậu Lê thuộc Phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc.(2) Thời Nguyễn là tỉnh Bắc Ninh. Đến năm 1961, Gia Lâm trở thành huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội và Phú Thị là một trong năm thôn của xã Phú Thị ngày nay.


Phú Thị nằm trên trục đường lớn từ Thăng Long đi qua Aí Mộ, Bồ Đề, Cổ Bi. Phú Thị đi vào Dâu và Luy Lâu (Thủ phủ thời Bắc thuộc, hồi đầu công nguyên), giao thông thuỷ bộ thuận lợi. Lỵ sở phân phủ Thuận Thành hoặc Lỵ sở huyện Gia Lâm đã từng đặt ở Phú Thị. Năm Gia Long thứ 2 (1803), Lỵ sở huyện Gia Lâm mới chuyển sang Ái Mộ. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) triều đình đã xây dựng một loạt đồn binh ở các huyện thuộc Bắc Ninh, trong đó có đồn Phú Thị, bởi đây là môi trường hoạt động liên tiếp của nhiều toán nghĩa quân. (3) Khi Pháp vào xâm chiếm nước ta, chúng cũng lập ba đồn binh ở Phú Thị, Bần Yên Nhân và Gủ (phía Thuận Thành )… Sau khi bình định xong Bắc kỳ, Pháp mới chuyển thành Trường Kiêm bị Phú Thuỵ (4) (Nên mới có tên gọi là Trường Đồn).


Đứng về địa lý mà nói thì phía bắc giáp xã Đặng Xá và sông Đuống, phía Nam giáp xã Dương Xá, phía đông là sông Thiên Đức, phía Tây là quốc lộ 5, quãng cây số 15,8 có đường nhựa qua khu công nghiệp vừa và nhỏ Phú Thị ở cánh đồng làng chạy thẳng vào chợ Sủi, nối với đường 179 và đường 182 đi Keo-Dâu. Bia niên hiệu Đức Long năm thứ 5 (1633) ghi làng ở phía sau Chùa. Các cụ cao niên cho biết đó là vùng Rặng ổi (5) và vùng Vườn Lều, sau chuyển ra vùng bãi bồi của dòng Thiên Đức như hiện nay.(6) Phong thuỷ ở đây khá đẹp, người đời từng ca ngợi là nơi “Sơn kỳ thuỷ tú”.


Trước mặt làng có Gò và Hồ Thiên Mã - dấu tích của nhánh sông Thiên Đức bị san lấp, chia cắt thành từng đoạn, tạo nên một loạt hồ ao; có cánh đồng thẳng cánh cò bay, lại có núi Thọ Chương (7) (được chúa Trịnh ban danh), có cả dấu tích chân luỹ thành quách xưa - ruộng bậc thang Đường Hai (hay còn gọi là Đường Thành) chạy dài từ Mả Nàng xuống quốc lộ 5 phía cánh đồng Yên Bình (Dương Xá) (8). Phía sau giáp luỹ tre làng là dòng Thiên Đức trong xanh – Bắt nguồn từ Xuân Canh qua Yên Thường, Phù Ninh, Cổ Bi chảy về – nơi các Vua, Chúa thời Lý, Trần thường du ngoạn từ Thăng Long tới vùng này, đến nay còn để lại nhiều truyền thuyết, dấu tích ở các làng ven sông từ thời Hùng Vương đến Lý, Trần (9). "Khoa bảng kim tòng Chương lĩnh xuất “ (câu đối họ Cao – Phú Thị) hay như "Chương sơn vượng khí" (Hòanh phi ở nhà thờ họ Nguyễn Huy ở làng Hạ Thái, Thường Tín - GC: Núi Thọ Chương do Chúa Trịnh ban danh, còn gọi là gò Phượng Chủy. Mỏ Phượng, thơ Cao Bá Quát. Mộ tổ họ Nguyễn Xuân để ở mắt Phượng, đỉnh Thọ Chương. mà cha ông tổ nghiệp ghi lại để nhắc nhở con cháu đời sau nhớ đến cội nguồn của mình (10) được trời đất chung đúc, cho nên mới sản sinh ra nhiều danh nhân đất nước, đất địa linh nhân kiệt, mà tổ tiên đã chọn nơi đây để sinh cơ lập nghiệp. Phú Thị từ rất lâu đã là một làng lớn, đã là đơn vị xã, dân số năm 1927 đã có trên 900 nhân khẩu, hiện có 458 hộ/1800 khẩu, lớn nhất xã và có ba thế mạnh trong việc xây dựng cuộc sống:


- Đất rộng, ruộng đất vượt quốc lộ 5 sang giáp Đa Tốn – Ấp Sủi (nay là thôn Kiên Thành) sinh tử gia thú địa bạ đều thuộc Phú Thị – đồng ruộng phì nhiêu, lại có thêm nghề phụ nổi tiếng, chăn nuôi gia súc gia cầm, làm bánh đa, tương ăn và có cả nghề thêu dệt tằm tơ.


- Có chợ lớn 1 tháng 12 phiên, thương nghiệp phát triển.


- Đặc biệt hơn nhiều nơi khác là nghề học để làm thầy và làm viên chức nhà nước, không chỉ nhà giàu mà nhà nghèo cũng cố gắng cho con đi học, có thể nói hầu hết nam thanh niên đất Sủi đều biết chữ. Từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 nơi đây đã sản sinh ra trên 300 tiểu trung, đại khoa, một trong 5 làng của Hà Nội có 10 tiến sĩ nho học trở lên, nơi có gần 30 vị tri phủ, tri huyện, tri châu, nhất là có Tứ Thượng thư đồng triều (từ 1735-1740 triều đình có 6 Bộ mà cùng một lúc làng Sủi có bốn vị Thượng Thư trông giữ 4 Bộ, là: Nguyễn Huy Nhuận, Bộ Lễ; Đoàn Quang Dung, Bộ Hình; Cao Dương Trạc, Bộ Binh và Trịnh Bá Tương, Bộ Công). Có Nguyễn Huy Lượng người nổi tiếng hàng đầu về văn thơ Nôm, cuối thế kỷ 18; Có Cao Bá Quát tài văn thơ vào hàng kiệt xuất, đến mức vua Tự Đức phải thốt lên: Văn như Siêu Quát vô tiền Hán (Văn như ông Siêu, ông Quát thì tiền Hán không còn đáng kể nữa), nhân dân tôn ông là bậc thánh thơ, và lại còn là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương; Nhà nghiên cứu văn hoá Đông Phương ở hải ngoại là ông Đào Mộng Nam, đầu năm 2000 khi về thăm nhà thờ họ Cao đã đánh giá Cao Bá Quát là “Bậc thi bá duy nhất đã tập đại thành cả 3 ngàn năm tư tưởng thi ca Á Đông, thi sĩ, chiến sĩ cách mạng”… Qủa là những điều hiếm có trong lịch sử nước nhà.


Về nghề dạy học: Ngoài vài chục cụ đồ, thầy giáo kế tiếp nhau qua các thế hệ dạy con em trong làng và các vùng lân cận, còn có nhiều cụ là Đông Các Đại học sĩ, hàm Hàn Lâm, tư nghiệp ở Quốc Tử Giám, giám khảo kì thi cử nhân, thi hội … cả trường võ, lại mở trường dạy hàng nghìn học trò khắp các tỉnh đến học như trường Phương Am của tiến sĩ Nguyễn Huy Cẩn ở Phú Thị, trường Vũ Thạch ở Thăng Long của cụ Nguyễn Huy Đức; trường Gia Định (Gia Bình-Lang Tài) của cụ Cao Huy Diệu, đã có nhiều người đỗ cao, làm quan to, có danh tiếng, trong đó có tiến sĩ Nguyễn Nghiễm ở Tiên Điền (cha đẻ của Nguyễn Du), Cử nhân Lương Văn Can lãnh tụ Đông Kinh Nghĩa Thục. (GC: Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm học tiến sĩ Nguyễn Huy Cẩn. Cử nhân Lương Văn Can học cụ Nguyễn Huy Đức)… đóng góp lớn vào sự nghiệp trồng người, đào tạo nhân tài cho đất nước. Để mô tả cảnh phồn thịnh của quê hương, tiến sĩ Nguyễn Huy Cẩn, trong bản "Tuyên văn mục lục" cách đây chừng 240 năm (GC: Xưa kia, bản "Tuyên văn mục lục" thường được treo ở trước hậu cung Đình làng và trong các Lễ hội vào tháng 3 hàng năm, đều có lễ thức thi "Tuyên văn mục lục" rất là trang trọng.), đã có những lời ca đậm nét chữ tình về những nét đặc sắc của quê hương mà ít nơi có được:


“Trâu dê súc vật đề da
Đàn ăn đàn ngủ trông ra đầy đồng
Thợ thêu mực thước lương công
Cửa hàng buôn bán thường không kém người”

Và nhất là đất này được trời phú cho:

“Giáng sinh những bậc anh kỳ
Thiếu gì khuê bích thiếu gì đống lương”.

(GC: Đống lương nghìa là làm quan).


Đi đôi với việc xây dựng kinh tế mở mang kiến thức, cha ông còn xây dựng những công trình văn hoá đẹp, có ý nghĩa lịch sử văn hoá xã hội và nhân dân sâu sắc. Ngoài ngôi Đình thờ tướng quân Đào Liên Hoa rộng lớn, thoáng mát còn có:


- Chùa Đại Dương Sùng Phúc - Ngôi chùa do Nguyên Phi Ỷ Lan, cô gái làng về cầu tự đắc phúc sinh được Thái Tử Càn Đức, bà đã cho xây dựng lại Chùa và hoàn thành vào năm 1115 – Thời ấy là ngôi chùa “Đẹp nhất nước Nam” khách vãng lai không ai là không yêu mến, rất nhiều cung tần về đây cúng lễ và công đức.


- Đền thờ Đức Lý Thái Hậu Ỷ Lan, một công trình kiến trúc cổ 8 mái tuyệt đẹp, tượng Đức bà mang vương miện Phật bà quan âm cùng hai mũ Hoàng đế bằng đồng (một to, một nhỏ) tượng trưng cho hai lần bà nhiếp chính thay chồng và con.


Để tỏ bày một sự ngưỡng mộ, sự tôn kính và để nhắc nhở con cháu đời sau chăm lo mở mang nghiệp học, làng xây Văn Chỉ (GC: Nơi thờ Tiên sư và đồ đệ Nho giáo, thường xây bệ thờ ngoài trời để thờ cúng, không che lợp gì), xây nhà thờ phụng 167 vị tiên hiền của quê hương từ Nho sinh đến Tiến sĩ, Đông các đại học sĩ, khắc bia “Từ Vũ Bi” để lại cho muôn đời sau, ngoài ra còn trên 40 câu đối treo ở các nơi công cộng và hàng chục bia đá, trong đó có 2 bia chân rùa: Bia Từ Vũ Bi (Cảnh hưng thứ 24 – 1763) hiện để ở trước cổng đình và bia Trung Nghĩa Lý Bi (Cảnh hưng thứ 25 – 1764) để ở nhà văn bia, 2 bài văn bia do tiến sĩ Nguyễn Huy Cẩn biên soạn. Đây là những di vật chứa đựng những sử liệu quý, nên khu di tích Đình, Đền, Chùa Sủi đã được Nhà nước xếp hạng từ năm 1989.


Đó là vinh dự, là niềm tự hào của người dân đất Sủi. Con cháu ngày nay đã và đang tiếp bước cha ông giữ gìn và phát huy truyền thống chăm học chăm làm, sống có văn hoá, có nghĩa tình, trung với nước, hiếu với cha mẹ, phấn đấu tiến lên theo kịp thời đại mới - thời đại khoa học kỹ thuật hiện đại – để góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, xứng đáng với tấm gương sáng và ân đức của tổ tiên xưa... khi Nhật vào xâm chiếm Đông Dương, dân làng Phú Thị đã chứng kiến cảnh phát xít Nhật bắt dân làng chặt ngô trồng đay. Một tên lính Nhật đã đánh chết 1 nông dân làng Tô Khê, ngay tại sân nhà ông giáo Bảo ở Sủi, chứng kiến cảnh dân tình chết đói hàng loạt người năm 1945. Do đó khi có cách mạng về, chính những thanh niên có học vấn của làng, đã sớm tiếp thu lời kêu gọi khởi nghĩa đánh Pháp đuổi Nhật. Tháng 5/1945, Cao Huy Bình và Nguyễn Xuân Kiện, đã đứng lên lập đoàn thanh niên cứu quốc, gồm: Đoàn Như Lạc, Nguyễn Huy Bôi, Đoàn Như Tiềm, Đoàn Như Đồng, Nguyễn Huy Hỗ, Cao Huy Thúc, Trần Huy Hảo, Trần Huy Đại, Nguyễn Huy Thuân...có đốc học Trần Trọng Ngà tham dự, cổ vũ và động viên. tổ chức quyên góp cứu đói, dạy bình dân học vụ, tuyên truyền lòng yêu nước, lập đội tự vệ, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.


Ngay sau những ngày đầu cách mạng tháng 8 thành công, trước tấm gương hi sinh anh dũng của thanh niên đất Sủi, như: Nguyễn Thế Tong và Cao Bá Giá (cuối năm 1945), phong trào tòng quân giết giặc bảo vệ chính quyền cách mạng càng sôi nổi hơn bao giờ hết, đã có 04 người tham gia bộ đội Nam tiến từ những đợt đầu, gồm: Cao Bá Khuyến, Cao Huy Thúc, Nguyễn Dương Tiềm và Nguyễn Xuân Tấn. Nhiều gia đình 2-3 người gia nhập quân đội.


Tiếp đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, Phú Thị lại là vùng diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và địch. Địch lập bốt ở đầu làng và giữa làng, nhiều người bị địch bắt, bắn chết trong đó có cả đảng viên, như Nguyễn Huy Kha và Cao Huy Hội..., nhưng nhiều cán bộ đảng viên vẫn bám đất, bám dân hoạt động đánh giặc cùng với lực lượng của xã, huyện phá tan đồn bốt địch bảo vệ xóm làng. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, biết bao thanh niên đất Sủi lại hăng hái tình nguyện lên đường giết giặc, vào Nam chiến đấu, xóm làng vắng bóng nam thanh niên thì giới phụ nữ và giới lão ông lại đi đầu trong việc sản xuất tăng gia và chống cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ. Hợp tác xã nông nghiệp Phú Thị luôn là lá cờ đầu của xã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, mọi nghĩa vụ được Thủ tướng Chính Phủ khen, có khối lượng tài sản lớn nhất xã góp vào quỹ hợp tác xã; nhà nhà giúp đỡ các đơn vị bộ đội, cơ quan, bệnh viên, trường học sơ tán về địa phương.


Phú Thị luôn là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, về đóng góp sức người và của cải cho đất nước và cho việc xây dựng xã. Đã có 48 liệt sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến, số thương binh cũng hàng chục; hàng trăm cán bộ, bộ đội và gia đình được thưởng huân, huy chương các loại; có nữ anh hùng trong sản suất công nghiệp Cao Thị Ngoãn và nhiều cán bộ trung cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội. Không ít người được giữ các vị trí quan trọng trong sự nghiệp trồng người, đào tạo nhân tài cho đất nước: Nguyễn Minh Tụng, trưởng Ty giáo dục tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Xuân Giá, hiệu trưởng trường Đảng tỉnh Hà Bắc; Nguyễn Thế An, hiệu trưởng trường hành chính Thái Nguyên; Nguyễn Huy Thuân, hiệu trưởng trường Cao đẳng kiểm sát trung ương. Trên lĩnh vực văn hóa có nhà văn Xuân Cang, tổng biên tập báo Lao động; Nguyễn Quốc Việt, Tổng biên tập báo Kinh tế- Đô thị...


Thời kỳ cả nước đi lên CNXH, phong trào học tập rầm rộ. Tới nay số người có bằng cử nhân trên 220 người, trong đó có 7 tiến sĩ, 15 thạc sĩ và số người làm nghề dạy học là 200 vị. Nổi bật là giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết, đại biểu Quốc hội khoá 11, uỷ viên trường trực UBKH và Môi Trường của Quốc Hội, Tổng thư ký Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt - Pháp, được chính phủ Pháp tặng huy chương Cành Cọ Hàn lâm và tiến sĩ Cao Hoàng Trụ, con trai ông Cao Bá Vũ ở TpHCM, người đỗ đầu 3 cấp học vị về điện toán, được đăng tiểu sử trong tuyến tập các nhà khoa học quốc tế xuất bản ở Anh Quốc. Bước vào thời kỳ đổi mới lại có nữ doanh nghiệp trẻ Đinh Thị Liên, con dâu dòng họ Cao Bá, được NXB Hội Nhà Văn VN nêu gương điển hình trong tập Doanh nhân Việt Nam, năm 2001. Đảng bộ Phú Thị nhiều năm liền đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh, phong trào nhiều mặt luôn đứng vào hàng đầu của xã....


Từ khi khu di tích lịch sử Đình-Đền-Chùa Sủi được nhà nước xếp hạng, nhờ sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, nhất là sự đóng góp tích cực của các cán bộ đảng viên nghỉ hưu...cùng Đại đức Thích Thanh Phương (sư trụ trì chùa Sủi), đã giành nhiều công sức lo việc bảo vệ, tu sửa khu di tích; sưu tầm tư liệu lịch sử; xây dựng mới nhà văn bia; khu nội tự; phục hồi tục Bông Sòng và Lễ thức thi Tuyên văn mục lục trong Lễ hội Đền đức Thái Hậu Ỷ Lan; Xây dựng Hương ước...


Câu lạc bộ thơ Cao Bá Quát được thành lập trên 10 năm nay, 3 lần đọat giải Nhất thi thơ toàn huyện Gia Lâm; mỗi năm in một tuyển tập thơ của CLB.


Năm 2003, Hội khuyến học Phú Thị được thành lập, đã phát thưởng cho 90 học sinh giỏi...Nhiều nhà nghiên cứu, phóng viên báo chí, đài truyền hình, các sinh viên đã về Phú Thị sưu tầm tư liệu, làm phim giới thiệu về truyền thống văn hóa, lịch sử của Phú Thị xưa và nay. Đã có 03 cuốn phim truyền hình là:


  1. Cảm giác Luy Lâu (Đài VTV 2 phát sóng năm 1997, Đạo diễn Bích Thủy)
  2. Phú Thị, một vùng đất học (Đài VTV1 phát sóng năm 1998, Đạo diễn Thanh Bình)
  3. Đất thánh thơ 3 bồ chữ (Đài PT-TH Hà Nội phát sóng năm 2000)
  4. Cây chè Việt Nam (Đài VTV 2 phát sóng năm 2002, quay cảnh uống trà tại nhà thờ họ Cao ở Phú Thị)
  5. Cao Bá Quát tinh hoa và khí phách (chuyên mục KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN)
  6. Thi thánh họ Cao (chuyên mục DANH NHÂN ĐẤT VIỆT)


Địa danh Phú Thị đã được tiến sĩ sử học Xuân Đính dùng làm đề tài nghiên cứu khoa học, ghi trong chương trình 01-X-12 "Giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long-Hà Nội". Đề tài này đã được Sở VH-TT Hà Nội nghiệm thu ngày 13/12/2001.


Đã có trên 40 bài báo của 33 tác giả, đăng trên 25 tờ báo viết và báo hình - về vùng đất học Phú Thị, quê hương của Nguyên Phi Ỷ Lan, của đại thi hào Cao Bá Quát...


Ngày 31 tháng 12 năm 2003

BAN BIÊN TẬP

Chủ biên: NGUYỄN HUY THUÂN


CHÚ THÍCH:

(1) Bia Trung Nghĩa Lý lập năm 1764 (Hiện còn ở Nhà Văn Bia trong Cụm di tích Đình-Đền-Chùa Sủi).
(2) Gia phả họ Trần ở Phú Thị (mục nguyên quán & địa lý hành chính Kinh Bắc của Nguyễn Văn Huyên).
(3) Theo Nguyễn Nghiệp, tác giả cuốn sách viết về Cao Bá Quát (NXB Văn Hóa HN in năm 1982).
(4) Phú Thụy là tiếng đọc chệch từ Phú Thị, cũng như Gia Thụy đọc chệch từ Gia Thị.
(5) Theo Bùi Khiết: Thổ Lỗi, Lỗi Hương hay Ổi Lỗi là một.
(6) Gia phả họ Nguyễn Huy ở Dương Đình ghi tổ tiên của chi này trước ở vùng bãi bối (xưa gọi là Sủi, nay là Phú Thị).
(7) Mục nguyên quán - Gia phả họ Trần ghi cách đây 150 năm.
(8) Có truyền thuyết nói rằng, dấu tích thành Cổ Bi thời chúa Trịnh. Có tài liệu nói là dấu vết đồn lũy do Dương Trọng Tế cho xây đắp từ Như Kinh đến Phú Thị (Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí - tập 2 trang 9, NXB Văn Hóa HN in năm 1984).
(9) Cuối đời nhà Trần cho đào sông Đuống, nên sông Thiên Đức bị cắt đoạn ở Cổ Bi & Đặng Xá.


Nguồn tin và ảnh: Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp