• Pic Mgmt

    VĂN MINH VIỆT CỔ "BỊ ĐÁNH CẮP" NHƯ THẾ NÀO?

    Những cứ liệu trong lịch sử Trung Quốc chứng tỏ người Việt có nhiều phát minh vĩ đại, trong đó, lịch rùa chứng minh Việt Nam ra đời trước Trung Quốc. GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông, đã tìm ra những chứng cứ về những phát minh lý thú của người Việt trong thời kỳ dựng nước bị kẻ xâm lược cố tình xóa bỏ và đánh tráo. Đó là nền văn hóa nhân bản-là nền văn minh "Lịch toán-Nông nghiệp"...

  • Pic Mgmt

    VỊ THẾ ĐỊA - VĂN HÓA NGHÌN XƯA

    ..."Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sau sông trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong nhiều tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất (thượng đô) của vương đế Muôn Đời"...

  • Pic Mgmt

    CHÙA VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

    Tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là một mặt của văn hóa. Văn hóa còn bao gồm nhiều mặt khác. Nhưng ngôi chùa cũng không phải chỉ biểu hiện cho tín ngưỡng. Ngôi chùa phản ánh nhiều mặt khác của văn hóa...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN & NỀN NÔNG NGHIỆP CỔ ĐẠI

    Niềm hãnh diện lớn nhứt của dân tộc Việt ở Châu Á là sự xuất hiện nền văn hóa trống đồng Đông Sơn rực rỡ thời Cổ Đại trên đất Lạc Việt, trải dài cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Đó là nhờ sự ra đời của kim loại đồng và thành quả phát triển kỹ nghệ luyện kim trong nhiều thế kỷ trước đó, qua các nền văn hóa từ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu và Gò Mun trên lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ DỊCH LÍ & CHỮ VUÔNG...

    …những bằng chứng cho thấy rằng chính người Lạc Việt đã sáng tạo nên hệ thống dịch lí và chữ vuông. Do hoàn cảnh lịch sử, câu chuyện ấy đã được kể lại hoặc là mơ hồ hoặc là dưới tên của dân tộc khác. Tuy nhiên, tổ tiên người Việt đã khéo léo cất dấu cái văn hóa huyền vĩ của mình dưới những cách thức khác nhau của ngôn ngữ…

  • Pic Mgmt

    GIAI THOẠI VỀ NGÔI MỘ PHÁT TÍCH CỦA NHÀ TRẦN

    Vùng đất phát tích nhà Trần thuộc lưu vực sông Phổ Đà (tức sông Luộc) và nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay). Tương truyền lúc bấy giờ, hai dòng họ nổi tiếng nhất sinh sống ở đây là họ Lý và họ Tô. Họ Trần mãi sau này mơi đến định cư và kết giao được với họ Tô thông qua đám cưới giữa Trần Lý với người con gái họ Tô...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT - CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay...

  • Pic Mgmt

    LỄ DÂNG HƯƠNG DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT...

    Nằm trong chuỗi hoạt động của Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III, Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương lần thứ II, sáng 06/03/2015, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức lễ dâng hương danh nhân Cao Bá Quát tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    LÀNG SỦI

    Theo các nhà nghiên cứu thì “Sủi” có gốc từ âm Việt cổ “S lủi”, qua phiên âm tiếng Hán là Thổ Lỗi, sau đó đổi thành Siêu Loại. Thế kỷ XVI- XVII, văn bia trong chùa ghi tên làng là Phú Thị, từ đó tên gọi này được dùng cho đến nay. Làng Sủi là một làng cổ trong địa bàn cư trú của người Việt cổ xưa thời Hùng Vương...

  • Pic Mgmt

    ĐÊM TÔN VINH CA TRÙ VỚI NGHỆ NHÂN KIM ĐỨC

    Ngày 13/6 vừa qua tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội. Nghệ nhân ca trù Phó Thị Kim Đức đã cùng các truyền nhân của mình trình diễn đêm "Ca trù đàn hát khuôn". Ở tuổi 82, nghệ nhân Phó Thị Kim Đức vẫn là mẫu mực của thể loại âm nhạc dân gian này. Bà là một bậc thầy lớn của cổ nhạc Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY CUỐN GIA PHẢ HỌ CAO Ở PHÚ THỊ

    Gần đây, chúng tôi tìm lại được cuốn gia phả của họ CAO ở Phú Thị, nay thuộc xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Cuốn gia phả này viết bằng chữ Hán, gồm 91 trang (mất 2 trang 17 và 18), trong đó lời dẫn 4 trang, còn lại là nội dung gia phả...

  • Pic Mgmt

    ĐI TÌM DIỆN MẠO LINH VẬT VIỆT

    Làm sao phân biệt sư tử đá VN và sư tử “ngoại lai”? Linh vật gì được cho là thuần Việt? Các câu hỏi đó ngày càng cần có lời giải đáp, nhất là khi các làng nghề chuyên chế tác sư tử đá lâm vào cảnh “sống dở chết dở” (Tuổi Trẻ ngày 16 và 17-9). Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến của những nhà nghiên cứu, bước đầu đi tìm diện mạo của những linh vật “phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

Chi tiết

HOÀNG THÁI HẬU Ỷ LAN...

Đăng lúc: 2014-01-22 10:43:13 - Đã xem: 1816

Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và sự nghiệp của hai vị vua anh kiệt


://www.giacngo.vn/lichsu/2009/11/16/7B4441/


Hoàng Thái hậu Ỷ Lan - triều Lý - là một nhân vật lịch sử, một nhà Phật học nổi tiếng của Việt Nam. Tên tuổi cũng như cuộc đời bà gắn chặt với sự nghiệp của hai vị vua anh kiệt là Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông.



Vương miện của Nguyên phi Ỷ Lan hiện còn lưu giữ tại Cụm di tích Đình-Đền-Chùa Sủi, Phú Thị, Gia lâm, Hà Nội. Photo: Cao Bá Nghiệp (TpHCM)


Có hai bộ sử viết về Hoàng Thái hậu Ỷ Lan chính thức và sớm nhất là Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thư, nhưng đều không chép tên thật của bà. Bởi vậy, từ xưa đến nay, trong một số công trình nghiên cứu sử học, văn học, các tác giả chỉ ghi là: Bà Lê Thị Ỷ Lan, tên thật và năm sinh chưa rõ. Gần đây, nhà sử học Tạ Ngọc Liên đã nêu việc tác giả Trương Thị Ngọc Trong (người thôn Lê Xá, xã Như Kinh, là một cung tần trong phủ Chúa Trịnh) từ năm 1760 đã có một diễn ca Nôm dài 606 câu tựa đề là Lý triều đệ tam Hoàng Thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca văn. Bài diễn ca văn này chép trong cuốn Kinh Bắc, Như Quỳnh, Trương Thị Quý Thích Thế Phả. Trong văn bản Nôm này, bà Trương Thị Ngọc Trong ghi rõ, bà soạn bài diễn ca để phụng thờ ở đền thờ bà Ỷ Lan tại thôn Ngọc Kinh.


thể nói, bài diễn ca Nôm của bà Trương Thị Ngọc Trong là một sử liệu quý, cho ta biết khá cụ thể, đầy đủ thân thế bà Ỷ Lan:“Lỗi hương chốn ấy có nhà họ Lê…”. Lỗi hương, là hương Thổ Lỗi thuở xưa xa, qua các đời đã thay đổi tên gọi, thành Siêu Loại, rồi Ngọc Kinh, rồi Ngọc Quỳnh thuộc Như Quỳnh. Ở Lỗi Hương có nhà họ Lê đã:


Hoài thai đầy đủ mười trăng
Dốc sinh một gái xem bằng tiên nga
Phương phi mày liễu mặt hoa
Má đào mũi hạnh da ngà lưng ong…
… Lạch trong như nước như gương
Song thân mới đặt Khiết nàng nga linh…


Theo diễn ca của bà Trương Thị Ngọc Trong thì Lê Thị Khiết, tức Hoàng Thái hậu Ỷ Lan sau này, sinh ngày mồng 7 tháng Ba năm Giáp Thân (1044) tại hương Thổ Lỗi, mới lọt lòng đã có dáng vẻ xinh đẹp. Khi bà 12 tuổi thì thân mẫu qua đời. 4 năm sau, thân phụ bà, một người có học vấn, làm việc nơi cung đường, lấy vợ kế. Nhưng không lâu sau đó, ông cũng tạ thế. Lê Thị Khiết sống cùng mẹ kế, hai người nương tựa nhau như mẫu tử ruột rà.


Với hai vị vua anh kiệt




Nguyên phi Ỷ Lan được sử sách truyền tụng có lẽ bắt đầu từ sự kiện năm 1069. Năm đó Lý Thánh Tông đem quân đi đánh giặc phương Nam. Ở nhà, bà Ỷ Lan tham gia việc triều chính và làm được nhiều việc khiến nước nhà yên ổn, lòng dân yên vui. Trong khi đó, Lý Thánh Tông đánh trận không thắng, nên rút quân về. Trên đường trở về, vua nghe tin Nguyên phi làm được nhiều việc tốt đẹp nên dân chúng rất quý trọng, Vua bèn nói: “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông thì chẳng làm được việc gì!” Và rồi, vua Thánh Tông đem quân quay lại, đánh thắng và bắt được vua Chiêm Thành. Lý Thánh Tông (1023-1072) được sử sách khen là bậc vua có công giữ yên đất nước, mở mang kinh tế, phát triển văn hóa và giàu lòng thương yêu dân chúng. Trong sự nghiệp chấn hưng đất nước của Lý Thánh Tông, thực sự có vai trò không nhỏ của Nguyên phi Ỷ Lan.


Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, đó là Lý Nhân Tông, ông vua có những công tích hiển hách nhất thời nhà Lý. Giúp Nhân Tông chấp chính những năm đầu, và nhiều năm sau này nữa, bà Ỷ Lan có vai trò nổi bật trong đời sống cung đình. Thời Lý Nhân Tông, nước thái bình, dân giàu có, đông đúc; đối ngoại thì nước lớn nể sợ, nước nhỏ mến phục. Đương thời, dân chúng nhiều người nghèo khổ phải bán thân, làm thuê làm mướn; con trai nhiều người không lấy nổi vợ; con gái nhiều người phải làm nô tỳ, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan đã lấy tiền trong ngân khố vương triều để chuộc thân cho những cô gái, rồi gả họ cho người nghèo khó không cưới nổi vợ. Việc này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thái hậu Ỷ Lan đã đổi mệnh cho họ”. Bà còn theo dõi, chăm lo cho nông dân và nghề nông với mối quan tâm sâu sắc...


Tác gia Phật học thời Lý – Trần


Hoàng Thái hậu Ỷ Lan có công rất lớn trong việc chăm sóc Phật giáo, cho xây dựng hàng trăm ngôi chùa, trong đó có chùa Từ Kính là muốn gửi lại lâu dài cho quê hương mình. Tại đền thờ bà ở thôn Như Quỳnh còn lưu giữ đôi câu đối của danh sỹ Cao Bá Quát: Nhất bát thượng tiền duyên, trường ký cố hương Từ Kính tự/ Bát lăng thành quá mộng, bất tri hà xứ Thượng Dương cung. (Tạm dịch: Duyên trước hâm mộ một cái bát (của nhà Phật), gửi lại mãi quê nhà ngôi chùa Từ Kính. Như giấc mộng tàn tám lăng mộ (của nhà Lý), không biết chỗ nào có cung Thượng Dương).


Hoàng Thái hậu Ỷ Lan am hiểu sâu sắc về Phật học. Các thư tịch cổ còn ghi lại cuộc tọa đàm về Phật học giữa bà Ỷ Lan với các vị Đại sư tại Thăng Long năm 1096. Trong buổi tọa đàm này, bà Ỷ Lan đã đặt ra hàng loạt câu hỏi về Phật học nói chung và Phật học ở nước ta nói riêng cho các Đại sư uyên bác ứng giải. 


Ngoài những hiểu biết sâu xa về Phật học, bà Ỷ Lan còn viết một bài kệ nổi tiếng: Sắc thị không, không tức sắc/ Không thị sắc, sắc tức không/ Sắc không câu bất quản/ Phương đắc khế chân tông. (Nghĩa là: Sắc là không, không tức sắc/ Không là sắc, sắc tức không/ Sắc, không đều chẳng quản/ Mới hợp được chân tông). Với bài kệ này, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan được thế giới ghi nhận là một tác gia Phật học thời Lý – Trần.


Anh Chi (Đại Biểu Nhân Dân)

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp