• Pic Mgmt

    NGƯỜI MIÊU: LỊCH SỬ CỦA MỘT DÂN TỘC LƯU VONG

    Sắc tộc Hmong, mà ta hay gọi là Miêu tộc hay người Mèo, ước tính hiện có khoảng hơn 6 triệu dân trên thế giới, mà đại đa số lại sống ở Trung quốc. Số còn lại sống rãi rác ở miền bắc các nước Việt, Lào, Thái và Miến điện. Có khoảng 80 ngàn người đã được định cư tại Hoa Kỳ. Đã có khá nhiều sách báo Tây phương, nhất là Mỹ nghiên cứu về sắc dân này...

  • Pic Mgmt

    LĂNG ÔNG TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT Ở TRÀ ÔN

    Tiền quân Thống chế Điều bát tên thật là Thạch Duồng, quê ở làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Do có công với triều Nguyễn nên ông được ban quốc tính - họ Nguyễn và lấy tên là Nguyễn Văn Tồn. Ông được nhân dân Trà Ôn tôn kính như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi vùng đất Trà Ôn...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO

    Cuốn sách TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM đã chính thức ra mắt bà con cô bác, từ ngày 15 tháng 01 năm 2017. Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên 200 trang, kèm theo gần 100 hình minh họa. Sách in giấy tốt, khổ A4. Giá bán nội bộ là 150.000đ00/cuốn (hình ảnh đen trắng) và 350.000đ00/cuốn (hình ảnh mầu)...

  • Pic Mgmt

    CẦN KHẲNG ĐỊNH KINH DƯƠNG VƯƠNG LÀ THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT NAM

    Lời người viết: Dăm năm trước, để phản bác ý tưởng “Từ những dấu vết ngữ pháp Việt trong cổ thư Trung Hoa có thể nhận ra tiếng Việt là cội nguồn của ngôn ngữ Hán” của GS. Lê Mạnh Thát, ông Trần Trọng Dương có bài “Lâu đài cất bằng hơi nước.”. Là người có sử dụng tư liệu của học giả họ Lê cho tiểu luận “Tiếng Việt chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán,” tôi có bài “Lâu đài trên mây hay dự cảm sáng suốt” nói lại. Ông Trần Trọng Dương đáp lại bằng bài “Một lần và lần cuối thưa chuyện với ông Hà Văn Thùy”. Khi biết tác giả là Thạc sĩ Hán Nôm rất trẻ, tôi nhận ra mình dại...

  • Pic Mgmt

    NGHIÊN CỨU, SƯU TẦM SỐ HÓA TÀI LIỆU HÁN-NÔM

    ...Đình Thủ Lễ thuộc làng Thủ Lễ huyện Quảng Điền là một ngôi đình với trên 200 năm tồn tại, mang phong cách kiến trúc, kiểu dáng, mỹ thuật triều Nguyễn. Đình Thủ Lễ là nơi lưu giữ nhiều sắc phong và các văn bản tư liệu Hán - Nôm của vua Nguyễn thể hiện rất rõ qua 57 sắc phong các đời Vua nhà Nguyễn từ Minh Mạng cho đến Khải Định,...

  • Pic Mgmt

    CĂN NGUYÊN Ý THỨC HỆ DÂN TỘC THỜI LÝ

    Nhà Lý khởi nghiệp từ vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, một vận hội mới mà các sử gia về sau xem như là một trong các thời đại hoàng kim của lịch sử nước ta. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng đế nghiệp cho nhà Lý, đất nước ta có nhiều thay đổi lớn: dời đô về Thăng Long, đặt ra các định chế chính trị và mô thức xã hội mới...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ ĐẤT PHÁT VƯƠNG CỦA NHÀ TRẦN

    Đất phát vương của nhà Trần nằm ở phía đông của thượng nguồn sống Phổ Đà. Nếu cơ nghiệp nhà Lý mở đầu bởi vị hoàng đế xuất thân từ vùng địa linh Cổ Pháp (Lý Công Uẩn) thì đất phát vương của nhà Trần lại nằm cách đó khá xa, về phía đông của thượng nguồn sông Phổ Đà...

  • Pic Mgmt

    TRUNG Y HAY VIỆT Y

    ...Đây là bài kinh ba chữ cho các thầy thuốc Đông y học để biết được nguồn gốc, sự phát triển ban đầu của y học phương Đông. Tuy nhiên, vấn đề ít được các y sinh, y sư biết là những tác giả, những vị thần y khởi nguồn của y học phương Đông được bộ kinh này nhắc tới hóa ra đều là những người Việt...

  • Pic Mgmt

    LỄ GẮN BIỂN ĐƯỜNG NGUYỄN HUY NHUẬN, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Sáng ngày 19/01/2014, UBND Huyện Gia Lâm phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội và các đơn vị liên quan tổ chức Lễ gắn biển đường Nguyễn Huy Nhuận...

  • Pic Mgmt

    TIẾT LỘ GÂY SỐC VỀ HOA ĐÀ...

    Hoa Đà qua đời cách nay gần 1.800 năm, mọi người đều ngưỡng mộ danh tiếng ông, cũng như không ai nghi ngờ ông không phải là người Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ DUY NHẤT CÓ NGHỀ LÀM GIẤY SẮC PHONG

    Cách đây 300 năm, dòng họ Lại ở Nghĩa Đô, ngoại thành Hà Nội được chúa Trịnh Tráng giao cho đặc ân làm giấy sắc. Nguyên liệu là cây dó Lâm Thao, qua nhiều công đoạn chế biến cầu kỳ trở thành loại giấy đẹp có sức bền hàng trăm năm. Ngày nay, dòng họ làm giấy sắc vinh quang một thời chỉ còn lại hai nghệ nhân là cụ Lại Thị Phượng và cụ Lại Thế Bàn đều ở tuổi xưa nay hiếm...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

    Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ...

  • Pic Mgmt

    CỔ LOA – TÒA THÀNH CỔ CÓ MỘT KHÔNG HAI

    Cổ Loa - tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ...Cổ Loa từng là kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời kỳ An Dương Vương (thế kỷ III TCN) và của nước Đại Việt thời Ngô Quyền (thế kỷ X) mà thành Cổ Loa là một di tích còn lại cho đến ngày nay. Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"...

  • Pic Mgmt

    THƯ MỜI CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO HẢI PHÒNG

    Ban liên lạc họ Cao Việt Nam (bà Thanh Loan) xin trân trọng chuyển nội dung thư mời về việc Ban liên lạc họ cao Hải Phòng sẽ tổ chức Lễ dâng hương thánh tổ Cao Lỗ Vương năm 2014 với nội dung cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG KHÁM PHÁ BÍ ẨN VỀ CỘT ĐÁ CHÙA DẠM Ở BẮC NINH

    Chùa Dạm, tên chữ là Cảnh Long Đồng Khánh tự hay Đại Lãm Tự là ngôi chùa cổ ngàn năm tuổi nằm ven sườn phía nam núi Đại Lãm (xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh). Dù trải bao biến cố thời gian, chùa vẫn giữ được những vết tích gợi nhắc về một công trình kiến trúc từng được mệnh danh là đại danh lam thắng cảnh thời nhà Lý...

Chi tiết

PHÚ THỊ - LÀNG CỔ, LÀNG KHOA BẢNG

Đăng lúc: 2018-01-05 08:53:15 - Đã xem: 419

"Chung lưng đất Sủi ai bì Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh" (Kinh Bắc phong thổ kí diễn quốc sự) Làng Phú Thị, tên Nôm là làng Sủi, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, đầu thời Nguyễn thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Theo các nhà nghiên cứu thì Sủi có gốc từ âm Việt cổ "Slủi" hay "Tlủi", sau này phiên âm ra chữ Hán là Thổ Lỗi. Từ thời Lý, đây là trung tâm của hương Thổ Lỗi. Không rõ từ bao giờ, làng được đổi tên thành Phú Thị.
 
Tên xã Phú Thị xuất hiện sớm nhất trong lời văn của tấm bia lập ngày tốt tháng tư năm Đoan Thái thứ tư (1589) là tấm  bia cổ nhất trong 17 bia hiện đang lưu giữ tại nhà bia của làng. Khoảng 5 năm đầu niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1745), làng Sủi bị giặc giã nhiều lần quấy nhiễu, nhưng nhờ phòng thủ tốt đã đẩy lùi được các đợt tấn công của giặc. Do vậy, năm 1746, chúa Trịnh đã ban cho làng ba chữ “Trung Nghĩa lí” (làng Trung Nghĩa). Từ đó làng Sủi còn được gọi là làng Trung Nghĩa. Tấm bia dựng ngày tốt tháng 6 năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764) hiện còn dựng trước cửa đình cho biết điều đó.

Sủi là vùng đất cổ, nằm ở một vị trí giao thông thuận lợi, là giao điểm của nhiều con đường từ Thăng Long - Hà Nội đi về phía Bắc và Đông Bắc(1). Ngoài ra, về đường thuỷ, xưa kia làng có sông Thiên Đức nối với sông Đuống chạy qua. Nay sông đã bị bồi lấp, chỉ còn vết tích một số đoạn.

Theo các cụ cao niên trong làng Sủi thì họ Nguyễn Kim và họ Đinh là những họ đầu tiên đến lập làng và vị trí ban đầu của làng ở phía sau chùa (giáp với làng Yên Bình - thuộc Dương Xá). Khu đất này xưa vốn là một rừng ổi, do vậy làng Sủi xưa còn có tên là ổi Lỗi. Về sau, dân cư đông đúc, làng mới chuyển dịch dần về phía dòng sông Thiên Đức và cố định ở vị trí hiện nay. Như vậy, ngoài việc “Tlủi” biến âm thành “Thổ Lỗi” thì cũng có khả năng “ổi Lỗi” biến thành “Thổ Lỗi”. Và làng Sủi - Thổ Lỗi chính là làng “trung tâm” của hương Thổ Lỗi thời Lý mà sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rõ "năm Thiên Huống Bảo Tượng (1068) đổi hương Thổ Lỗi thành hương Siêu loại vì đó là quê của Nguyên phi Ỷ Lan"(2). Thời Lý, làng Sủi còn được biết đến qua một ghi chép ngắn của Việt sử lược: “Tháng 3 năm Ất Mùi (1115), chùa Sùng Phúc ở hương Siêu loại làm xong”(3). GS. Trần Quốc Vượng - dịch giả cuốn sách này còn chua thêm dòng “(là quê của Linh Nhân  - tức Ỷ Lan - TQV)” ở ngay trước hai chữ “làm xong”. GS. Trần rất chú ý đến bản dập bia “Đại Dương tự bi kí” (niên đại Dương Hoà thứ hai - 1636) ở chùa Sủi (Đại Dương Sùng Phúc tự) và ghi ở mặt sau: "Tấm bia này rất quan trọng vì nó ghi được tên chùa là Đại Dương Sùng Phúc tự, mà Việt Lược sử chép năm 1115, chùa Sùng Phúc ở hương Siêu Loại được hoàn thành. Đó là chùa Đức Bà xây dựng ở quê mình”. Trong thực tế, tại nhà văn bia trong khu di tích Phú Thị, còn hai tấm bia khác đều có chữ “Đại Dương Sùng Phúc tự”(4). Tư liệu này cùng với truyền thuyết, hệ thống bia, bản khai thần tích và đặc biệt là lễ thức “Bông, Sòng” trong ngày hội, là cơ sở đáng tin cậy để có thể cho rằng, làng Sủi là “chính quê” của Ỷ Lan(5).
 
Nói đến Phú Thị, người ta không chỉ nói đến một vùng đất cổ, ở vị trí "hiểm" nhưng lại tiện lợi về giao thông, kinh tế khá phát đạt mà còn là làng có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Theo các sách đăng khoa lục, dưới thời phong kiến, làng Sủi có 10 người đỗ đại khoa, tất cả đều là "Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân”(6) và là một trong 21 làng có từ 10 Tiến sĩ trở lên của cả nước. Trong truyền thống khoa bảng của người làng Sủi có mấy điều đáng lưu ý:

-  Một là, thành đạt về mặt khoa bảng tương đối muộn: mãi đến khoa thi Quý Mùi, niên hiệu Chính Hòa (1703) mới có người đỗ đại khoa đầu tiên là Nguyễn Huy Nhuận (hay Quang Nhuận).
- Hai là, cả 10 tiến sĩ đỗ đạt trong khoảng thời gian hơn 7 thập kỷ, dưới triều Lê - Trịnh, từ năm 1703 đến năm 1779.
- Ba là, có 2 khoa thi (Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái - 1721 và Kỉ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng - 1779), làng Sủi có hai Tiến sĩ về vinh quy bái tổ.
- Bốn là, trong 10 vị đại khoa của làng Sủi, họ Nguyễn Huy chiếm đông nhất: năm người; số còn lại thuộc các họ: Cao, Đoàn, Trịnh, Trần, Nguyễn Xuân.

Về sự thành đạt khoa bảng của họ Nguyễn, theo bản gia phả lập năm đầu Gia Long (Nhâm Tuất - 1802), cụ tổ thứ hai của họ là Đức Hữu có ba người con trai là Đôn Thận, Đôn Tập, Siêu Lang. Khi cụ mất, các con theo lời thầy địa lí, chôn cụ tại một đám đất hình Mộc tinh xứ Mả Cả, sát một vũng trâu đầm. Được hơn nửa tháng, con cháu trong nhà lần lượt ốm đau, mắc bệnh, nghĩ rằng mộ cha bị động nên di đi nơi khác. Khi đang đào, thì trời nổi mưa gió không thể đào tiếp được. Từ trong tiếng mưa gió gào thét, bỗng vang lên tiếng trẻ trâu hát rằng: "Biết đâu đã hẳn hơn đâu, có chốn thì cầu, có chốn thì vong". Các con bèn bàn nhau: "Mộ cha chúng ta chôn ở đây phải chăng đã được thần xá khẩu, để làm phúc cho con cháu"; bèn thôi không đào nữa, chỉ đắp thêm rồi ra về. Từ sau đấy, gia đình hết ốm đau, bệnh tật, làm ăn lại phát đạt và con cháu học hành tấn tới, rồi được thành đạt về khoa cử. Đó là Nguyễn Huy Nhuận (con ông Đôn Thận), Nguyễn Huy Mãn (con ông Phúc Tập) và Nguyễn Huy Thuật (con ông Siêu Lang) mà người mở đầu là Nguyễn Huy Nhuận. Gia phả khẳng định: "Họ ta được hiển đạt tiếp phúc nhờ ngôi mộ này". Hiện nay, dân làng còn có một thuyết khác về lí do thành đạt của dòng họ này. Thuyết này cho rằng, các ông Đôn Thận, Phúc Tập và Siêu Lang vốn đã nghèo, nhưng lại hay uống rượu! Khi cụ Đức Hữu mất, thay vì lo mai táng chu đáo cho cha, các ông vẫn còn say bét nhè, đến nỗi, khi đưa cữu cha ra đến đồng thì trời tối, lại mưa gió nên không kịp chôn cha, đành bỏ về nhà. Sáng hôm sau, khi các con chôn cất thì chỗ để cữu đã trở thành một đống mối to. Ba người con biết cha đã được táng vào đất tốt nên để nguyên. Từ sau đấy, các ông chu chí vào làm ăn, nuôi con cái học hành. Và con cái các ông sau đều chăm học và học giỏi. Về sau mỗi người đều có một người con đỗ tiến sĩ - như đã nói ở trên.
 
Về họ Cao: đáng tiếc là sau khi Cao Bá Quát nổi dậy chống triều đình và bị trả thù vào giữa thế kỉ XIX, con cháu họ Cao chạy đi các nơi, nên bản gia phả gốc của họ không còn. Hiện chỉ còn một bản gia phả mới được chắp ghi lại từ một bản cũ, do Cao Huy Dật ghi năm 1747, theo ý chỉ của quan Thượng thư Cao Dương Trạc (1690-1753). Theo đó, họ Cao vốn từ làng Bút Sơn (huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá) chuyển cư ra Bắc; lúc đầu sống ở làng Thuận Quang (nay thuộc xã Dương Xá), sau di sang Phú Thị (khoảng đầu thế kỉ XVII), tính đến Cao Bá Quát là khoảng 10 đời. 

Sau khi Cao Bá Quát khởi nghĩa chống triều đình và bị triều đình truy nã, con cháu họ Cao làng Sủi chạy tứ tán đi khắp nơi. Một thời gian sau, một số người trong họ lại trở về làng. Con cháu dần đông lên và một ngôi nhà thờ họ được dựng, như để khẳng định sự trường tồn của dòng họ tài hoa văn học này. Trên báng của nhà thờ "Cao tộc đại tôn" này - dù đã được tu bổ lớn vào năm Kỉ Mão (1999) vẫn còn hàng chữ: “Tự Đức, Mậu Dần, trọng Đông, cát nhật, lương thời, kiên trụ thượng lương đại cáo" (ngày lành, tháng 11 năm Mậu Dần đời Tự Đức - 1878 đặt thượng lương". Điều đó chứng tỏ, cho đến thời điểm này, con cháu họ Cao lại về hồi hương tương đối đông đúc. Hiện tại họ Cao vẫn lấy Tiến sĩ, Thượng thư Cao Dương Trạc làm thủy tổ. Mặc dầu vậy, những ghi chép trong chính sử cùng lưu truyền dân gian ở làng Sủi cho người đời sau biết được, họ Cao Phú Thị một thời từng là dòng họ khoa bảng, tài hoa, với 1 Tiến sĩ thời Lê, 5 Cử nhân thời Nguyễn, có nhiều người nổi tiếng về thơ văn.

Về họ Trịnh: theo lưu truyền dân gian ở làng Sủi thì tổ của họ Trịnh ở đây là Trịnh Bá Tướng, quê ở Đô Lương (Nghệ An), được bố đưa ra học Nguyễn Huy Nhuận (là chỗ quen biết của bố ông) rồi lập nghiệp ở quê thầy. Khi ra học Huy Nhuận, Trịnh Bá Tướng đã bước sang tuổi 16 nhưng chưa hề nhận biết mặt chữ. Bố ông nói với Nguyễn Huy Nhuận: "Nhà tôi ăn mặc may cũng vừa đủ, chỉ có điều có đứa con trai đã 16 tuổi mà chưa biết chữ, sau này dễ bị người khác lừa. Tôi đem gửi nó cho anh, xin cho nó được ăn mày dăm ba chữ, để mong khi làm giấy tờ khỏi phải điểm chỉ". Với trí thông minh, ham học, lại được thầy giỏi chỉ bảo, Trịnh Bá Tướng đã nhanh chóng vượt qua được các chương trình học. Mười bốn năm sau, dự kì thi Hội, ông đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái đời Lê Dụ Tông (1721). Sau khi đỗ, ông rời làng đi làm quan. Hiện ở làng vẫn còn nhà thờ và sắc phong của ông.
 
Về họ Trần: Theo Thế ngọc đường gia phả tựa, chép ngày mồng 1 tháng Năm, năm Kỉ Mùi đời Tự Đức (1859), sao lại vào năm Nhâm Ngọ (Bảo Đại 17 - 1942) thì họ Trần vốn thuộc dòng dõi Trần Quốc Tuấn (?), sau này phát triển đông đúc ở nhiều nơi. Cụ thủy tổ đến làng Phú Thị tên là Trần Quốc Thạch, lấy con gái họ Nguyễn Xuân (mà Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hàn hay Nguyễn Hàn sau này là hậu duệ, được gia phả họ Nguyễn Xuân xác nhận). Hai ông bà sống bằng nghề cáng thuê. Một lần, hai ông bà đi làm, đến ngã tư ấp Sủi, thấy có một người ốm yếu nằm bên đường. Động lòng thương, ông bà đưa người đó về nhà cho ăn cơm, uống thuốc. Được vài ngày, bệnh tình người đó không thuyên giảm. Biết không thể sống được nữa, người đó nói với ông bà rằng: "Tôi vốn là một thầy địa lí cao tay người Tàu, không may gặp phải nạn này. Ông bà quả là người giàu lòng nhân đức, không biết lấy gì để tạ ơn, tôi chỉ xin được đặt chỗ đất tốt để ông bà đặt mộ sau này, con cháu sẽ phát đạt". Rồi ông địa lí người Tàu lấy bút vẽ sơ đồ chỗ đất để táng mộ về sau. Vẽ xong, người ấy lịm dần. Lo mai táng cho thầy địa lí người Tàu xong, ông bà bỏ nghề cáng thuê, chuyển sang buôn bán, tần tảo nuôi các con ăn học. Trước khi mất, ông bà dặn lại các con chôn mình đúng nơi thầy địa lí người Tàu chỉ dẫn. Mộ được toạ Quý, hướng Đinh, đằng trước có ruộng trũng, dáng như một nghiên mực, đằng sau - phía xa xa có gò tựa cái lọng che, hai bên cạnh mộ có hai dải đất tựa dải mũ, xa hơn một chút là các gò voi phục, ngựa quỳ. Đúng như lời thầy địa lí người Tàu, ông bà có 3 người con trai đều trở thành huyện quan, sau phát triển thành các chi phái đông đúc và hầu hết đều khá giả, thành đạt, trong đó Trần Huy Liễn (cháu nội của ông bà thuỷ tổ Trần Quốc Thạch đỗ tiến sĩ (1779). 

Trong các Tiến sĩ của làng Sủi, nhiều người đã đảm nhận các trọng trách trong bộ máy chính quyền Nhà nước phong kiến các cấp, cả chức vụ cao trong triều đình. Nếu họ Nguyễn Huy có "nhất môn tam tiến sĩ" (một nhà có ba bố con ông cháu đỗ tiến sĩ, cũng có thể hiểu có ba anh em đỗ như đã nêu trên) thì cả làng lại có " Đồng triều tứ thượng thư" (bốn người cùng làm Thượng thư trong triều là các Tiến sĩ: Nguyễn Huy Nhuận, Cao Dương Trạch, Trịnh Bá Tướng và Đoàn Bá Dung). Điều đặc biệt, ít thấy trong lịch sử khoa cử và quan trường Việt Nam là cả bốn người đều ở một ngõ. Câu thơ trong Kinh Bắc phong thổ diễn quốc sự:

    Chung linh đất Sủi ai bì
   Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh.

Sử cũ ghi nhận, Nguyễn Huy Nhuận, Cao Dương Trạc, Đoàn Quang Dung, Trịnh Bá Tướng đều là người Phú Thị, đều đỗ Tiến sĩ, cùng tham gia vào những chính sách lớn của triều đình Lê - Trịnh trong hơn 10 năm từ thập kỉ 30 đến thập kỉ 40 thế kỉ XVIII. Lưu truyền dân gian kể lại rằng, thời kì làng Sủi có 4 thượng thư trong triều, lại thêm Phạm Khiêm ích (người làng Then tức Kim Sơn cùng tổng Kim Sơn với làng Sủi) là Thượng thư bộ Lễ nữa, chiếm gần hết quan đầu triều nên mỗi khi họp triều đình, chúa Trịnh thường nói vui là “họp bàn chuyện hàng tổng Kim Sơn"!

Nổi bật nhất trong các Tiến sĩ làng Sủi là Nguyễn Huy Nhuận (1678 - 1758), làm quan Thượng thư các bộ: Công, Lễ, Hộ, cao nhất là Tham tụng (Tể tướng), được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh. Tháng chín năm Mậu Thân (1728), Nguyễn Huy Nhuận được cử lên Tuyên Quang, cùng với Tế tửu Quốc tử giám Nguyễn Công Thái, nhận vùng đất có mỏ đồng Tụ Long cho ta và lập mốc giới ở khu vực sông Đồ Chú. Sách Cương mục cho biết, thổ ti phủ Khai Hoá (nhà Thanh) muốn ăn chặn lấy các sách ở Bảo Sơn, nên chỉ sai vị trí sông Đồ Chú. Nhưng các sứ thần nhà Lê - Trịnh đã xông pha lăn lộn những nơi lam chướng, hiểm trở, đi qua các xưởng bạc, xưởng đồng, nhận ra đúng chỗ sông Đồ Chú, rồi dựng bia ở nơi giáp giới. Văn bia do Nguyễn Huy Nhuận soạn có nội dung: "Giới mốc châu Vị Xuyên, trấn Tuyên Quang, nước An Nam, lấy sông Đồ Chú làm căn cứ. Ngày 18 tháng 9, năm Ung Chính thứ 6 (1728). Chúng ta là Nguyễn Huy Nhuận, tả thị lang bộ Binh, và Nguyễn Công Thái, tế tửu Quốc tử Giám, được triều đình uỷ sai, vâng theo chỉ dụ, lập bia đá này” (7). Đầu năm Ất Sửu (1745), sau khi đã về nghỉ được hai năm, ông lại được chúa Trịnh vời ra giúp triều chính. Bấy giờ, bốn phương không yên, giặc giã nổi dậy, giấy tờ việc binh bề bộn. Nguyễn Huy Nhuận nắm giữ cả việc quân sự và hành chính, cai quản tướng sĩ, khuyên bảo quan lại dẹp giặc yên dân. Ông là một trong năm vị "Phụng thị ngũ lão" (về hưu mà vẫn được vời ra giúp triều chính) của triều Lê - Trịnh.

Ngoài 10 tiến sĩ, làng Sủi còn có một số người đỗ hương cống (thời Lê), cử nhân (thời Nguyễn). Riêng họ Nguyễn Huy thời Lê có 10 người đỗ hương cống, họ Cao có 5 người đỗ cử nhân thời Nguyễn. Những người đỗ trung khoa của làng Sủi nổi tiếng về mặt văn học. Tiêu biểu là hương cống Nguyễn Huy Lượng được người cả nước biết đến với kiệt tác Phú Tây Hồ. Cao Bá Quát lừng danh bởi thơ ca.

Vì sao làng Sủi có nhiều người đỗ đạt và trở thành làng khoa bảng ?
Trước hết
, làng Sủi xưa thuộc Kinh Bắc - vùng đất có truyền thống hiếu học và thành đạt về mặt khoa cử nhất trong "tứ trấn" bao quanh Thăng Long. Quanh làng Sủi có một vệt làng cũng rất thành đạt về học hành như làng Kim Sơn với dòng họ Nguyễn (của Nguyễn Mậu Tài), làng Lạc Đạo với dòng họ Dương, tạo ra sự ganh đua học hành cùng người các làng khác. 
 
Thứ hai, nằm trên vị trí giao thông thuận lợi, làng Sủi có điều kiện để phát triển kinh tế. Ngoài nông nghiệp ruộng mùa, thêm một vụ màu (ngô, khoai lang, đậu đỗ các loại) tương đối chắc ăn, dân làng còn buôn bán khá phát đạt, tạo cho kinh tế gia đình tương đối đầy đủ cho con em ăn học.
 
Thứ ba, làng Sủi nằm trên đường Thiên lí từ kinh đô Thăng Long đi về hướng Đông Bắc, cách Thăng Long chỉ khoảng 20km, rất thuận lợi cho người làng việc đi học và nhất là đi thi.
 
Thứ tư, truyền thống tạo điều kiện thuận lợi, thậm chí là sự hi sinh của các bậc cha mẹ, đối với việc học của con cái. Bố của Trịnh Bá Tướng lặn lội từ Đô Lương (Nghệ An) đưa con ra tận Phú Thị, theo học Nguyễn Huy Nhuận với mục đích khiêm tốn là để con sau này “không phải điểm chỉ vào đơn từ và không bị người ta lừa”. Gia phả họ Nguyễn Huy cho biết thêm: khi lâm bệnh, sợ mình không qua nổi, ông Đôn Thận đã dặn con trưởng là Nguyễn Huy Nhuận rằng: "Nhà ta hiện không còn gì, ngoài 3 sào ruộng để cho con chi phí đèn sách. Sau khi cha mất, chỉ cần đắp cho cha nấm mộ là được, không cần phải mua quan tài. Con mà không làm theo lời thì cha không yên tâm ở dưới suối vàng". Có lẽ đây là một trong những gương điển hình nhất về sự hi sinh của các bậc cha mẹ đối với việc học của con cái khi xưa.

Các dòng họ ở Phú Thị còn có truyền thống dạy nhau học hành thành đạt mà trường hợp họ Nguyễn Huy là tiêu biểu nhất. Bắt đầu từ Nguyễn Huy Nhuận, sau khi đỗ, ngoài việc hành chính ở công đường, ông dành hầu hết thì giờ, tâm huyết vào việc dạy các em (con nhà chú) là Nguyễn Huy Mãn, Nguyễn Huy Thuật. Rồi đến lượt Huy Mãn và Huy Thuật lại dạy các cháu mình. Anh dạy em, cha dạy con, chú bác dạy cháu..., nhờ đó mà dòng họ này chỉ trong hơn bảy thập kỉ đã có 5 tiến sĩ và 7 hương cống.

Một yếu tố khác tạo nên truyền thống khoa bảng của các dòng họ ở làng Sủi, là việc tạo ra mối liên kết dòng họ - thông gia: những gia đình, dòng họ khoa bảng, quan lại, thường đi tìm mối quan hệ thông gia với nhau, nhằm tạo ra cơ sở kinh tế vững chắc, mối quan hệ xã hội rộng rãi, tạo những điều kiện thuận lợi cho con cái học hành và hơn nữa, tạo ra những đứa con thông minh, trên cơ sở hoà huyết giữa các dòng họ đó. Có thể thấy điều này qua trường hợp họ Nguyễn Huy. Từ gia phả, chúng tôi đã thống kê được những mối quan hệ thông gia “môn đăng hộ đối” như sau: 

- Nguyễn Huy Nhuận: có vợ cả là con gái Hiến sát sứ Nguyễn Cộng, làng Tử Đình, xã Cổ Linh (Gia Lâm), vợ thứ là con gái Hữu Tham nghị, xã Bất Căng, huyện Nông Cống. Ông lại là thông gia với Hộ bộ Thượng thư, Lâm Quận công Cao Dương Trạc, đẻ ra Nguyễn Huy Dận.
- Nguyễn Huy Thuật: là thông gia với Lễ bộ Thượng thư, Phụ Quận công Đoàn Bá Dung. 
- Nguyễn Huy Mãn: lấy con gái Dương Đài - Hiến sát sứ người xã Lạc Đạo (Văn Lâm, HưngYên), đến lượt con là Nguyễn Huy Bá lại lấy con gái Siêu Quận công Nguyễn Gia Châu.

Và còn nhiều trường hợp khác.

Trước khi trở thành làng khoa bảng, Sủi là một làng cổ, mang những nét đặc trưng của làng Việt cổ truyền, vùng châu thổ Bắc Bộ và Kinh Bắc. Làng có ba xóm: Trên, Dưới và Giữa. Tuy nhiên, xóm không có vai trò gì trong tổ chức thực hiện các công việc của làng, mà phải nhường cho giáp - thiết chế theo lớp tuổi của nam giới trong làng.

Làng có 7 giáp, với tên gọi có yếu tố đầu gắn với tên làng “Phú”, và yếu tố sau mang đặc trưng của một làng quê văn hiến: Phú Văn, Phú An, Phú Lương, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Vinh và Phú Ân. Con trai đẻ ra biện một cơi trầu và nộp 3 hào (tiền những năm 30 của thế kỉ trước trở đi) vào quỹ của giáp, được trở thành thành viên của giáp. Một trong những nghĩa vụ quan trọng, mà trong đời người phải thực hiện theo đơn vị giáp, là làm đăng cai giáp. Theo lệ, mỗi năm mỗi giáp có hai người đăng cai, một người vào dịp lệ tháng ba, một người vào dịp lệ tháng bảy. Ai đến lượt đăng cai (độ tuổi cụ thể  phụ thuộc vào số đinh từng giáp) phải làm bánh và nuôi lợn thờ. Cụ thể:

+ Về bánh: gồm bánh xu xê (200 cái) và bánh tẻ đường (100 cái), nếu làm đăng cai tháng bảy, thì phải thêm 50 phẩm oản. Từ năm 1921, thực hiện cải lương hương chính, số bánh xu xê và bánh tẻ đường, giảm xuống còn một nửa.
Nuôi lợn: nuôi một con lợn nặng khoảng 70 cân ta (tương đương với 45kg hiện nay). Ngoài ra, đương cai còn phải sửa hai bữa cơm lệ (bắt buộc) mời hàng giáp với đầy đủ các món; nếu khá giả, còn mời giáp bốn bữa thảo. Dù đang sống ngụ cư ở đâu, nhưng còn đăng kí tên ở giáp thì đến lượt đăng cai vẫn phải gánh nghĩa vụ.
 
Đến nay làng Sủi vẫn còn giữ được một hệ thống đình - chùa - đền tương đối hoàn chỉnh. Cả đình, chùa, đền đều thờ Đức Lý Thái hậu, tức Ỷ Lan phu nhân. Đình làng còn thờ Đào Liên Hoa, một bộ tướng có công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước.

Lễ hội truyền thống của làng Sủi gồm ba kì chính:
- Lễ hội Đền Đức Lý Thái Hậu từ mồng 1 đến 15 tháng ba, là kì hội chính trong năm
- Lễ giỗ Đức Lý Thái Hậu: ngày 25 tháng bảy
- Giỗ Đức thành hoàng Tây vị đại tướng quân Đào Liên Hoa: ngày 25 tháng Chạp.

Trong kì lễ chính tháng ba, theo thần phả, ngày mồng 1 là ngày Khánh hạ, ngày mồng 7 là ngày sinh Đức Thái hậu Nguyên phi Ỷ Lan. Tháng ba theo lưu truyền của dân làng cũng là tháng hoàn thành chùa Sùng Phúc - một trong hàng trăm ngôi chùa do Nguyên phi Ỷ Lan xây dựng thời Lý.

Trong hội Đền của làng Sủi xưa kia, có hai lễ thức độc đáo, có thể coi là nét riêng trong nét văn hoá truyền thống của làng.

Lễ thức thứ nhất là lễ giải oan cho Bông Sòng. Lễ này đã được Ngô Đức Thịnh khảo tả và giải mã trong một bài viết tại Hội nghị Thông báo văn hoá dân gian năm 2002(8)

Lễ thức độc đáo thứ hai, thường chỉ có ở các hội của các làng quê có bề dày truyền thống văn học như Phú Thị. Đó là thi đọc "Mục lục", được tiến hành vào ngày 7 tháng ba. Tác giả của bài Mục lục này là Tiến sĩ Nguyễn Huy Cận. Bài Mục lục gồm 90 câu, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Phần Hán viết dưới thể phú, phần Nôm chuyển thành thể thơ lục bát. Nội dung của Mục lục diễn tả phong thổ, con người, nghề nghiệp, truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng, khuyên răn người làng nên chăm chỉ lao động, ăn ở kỉ cương, hiếu nghĩa... Dưới đây là đoạn ca ngợi sự thành đạt về mặt khoa bảng và hoạn lộ vào giữa thế kỉ XVII - khi làng có bốn Thượng thư đồng triều, ba vị về trí sĩ:

         Triều đình sáu bộ Thượng thư
        Làng ta được bốn, từ xưa mấy làng?
          Bầu hoa chén rượu cúc vàng
        Ba quan hưu trí cẩm đường tiêu dao
          Rừng nho nối gót vân tiêu
       Trâm anh lần lượt biết bao nhiêu người.

 
Hay nói về sự trù phú của làng:

Sĩ nông vui nghiệp trong nhà
Xa phân đàn lũ thật là cổ phong
Thợ thêu mực thước lương công
Cửa hàng buôn bán thường không kém người


Và khuyên mọi người sống theo kỉ cương, nhân nghĩa, chăm lao động, kính già yêu trẻ:

Tôn ti chia bậc chỉnh tề
 Mũ trên dép dưới giữ lề xưa nay
 Nền nhân cửa nghĩa đã xây
 Nên noi theo "Lễ" mảy may không nhầm
 Nói năng chớ có ầm ầm
 Người nào việc ấy phải chăm chớ lười
 Trong làng quý nhất tuổi trời
 Tôn như xin cứ theo lời châu thư.

 
Theo lệ xưa kia, trong ngày mồng 7 tháng ba thi đọc Mục lục. Mọi người trong làng đều có quyền tham dự, hoặc đọc bài phú, hoặc bài diễn Nôm. Ai đọc đúng mỗi câu thì được đánh một tiếng "tùng"; ai đọc ngắc ngứ hay quên ở đoạn nào thì bị gõ một tiếng "cắc" vào tang trống. Nếu bị 3 tiếng "cắc" thì bị loại, để người khác vào chơi. Ai đọc đúng toàn bài, đọc hay thì được thưởng. Mọi người ở ngoài phải im lặng, lắng nghe, vừa để theo dõi, vừa thể hiện tính nghiêm túc. Sự im lặng đó làm cho người dự thi phải cố gắng, nhưng cũng không ít người luống cuống dẫn đến quên, đọc hỏng.

Sau mấy chục năm bị lãng quên, giờ đây, tục đọc Mục lục trong hội Đền Sủi - một hình thức sinh hoạt văn hoá độc đáo, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, biểu dương tinh thần khuyến học, đang được các cụ và dân làng Sủi cho phục hồi. Ngành văn hoá huyện Gia Lâm và Thành phố Hà Nội nên nghiên cứu, ủng hộ chủ trương này bằng việc làm cụ thể và thiết thực.
___________
Chú thích:

1. Gồm Quốc lộ 5 Hà Nội -  Hải Phòng; đường 179 từ Quốc lộ 5 chạy qua làng đi Phù Đổng - Cầu Đuống; đường 181 ở đầu làng đi Đông Côi - Hồ (Thuận Thành). Theo sách Phong thổ Hà Bắc thời Lê (Ty Văn hoá Hà Bắc, 1971, tr. 56) thì Sủi nằm trên con đường Thiên lí từ Bồ Đề - Cổ Bi - Phú Thị (Gia Lâm) đi Bảo Khám, Bảo Triện qua Đại Bái đến Nhị Trai vào đầu địa giới tỉnh Hải Dương. Đây là một trong con đường thông thương từ bờ Bắc kinh thành Thăng Long đi các tỉnh miền Đông và Đông Bắc.
2. Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1983, tr. 286.
3. Việt sử lược, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr. 227.
4. Đó là các bia: “Cúng  Phật sản bi” lập ngày 15 tháng hai năm Đức Long thứ năm (1633), thác bản bia tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu N. 3161; “Đại Dương Súng Phúc tự ký”, lập ngày tốt tháng 8 năm Khánh Đức 3 (1651), thác bản bia số N. 3159.
5. Bùi Xuân Đính - Lê Thị Thu Hà: “Trở lại vấn đề quê hương Ỷ Lan”, Thông báo Văn hóa dân gian 2002, tr.1005 - 1014
6. Mười tiến sĩ Nho học của làng Sủi (theo trình tự thời gian thi đỗ) là: Nguyễn Huy Nhuận (đỗ năm 1703 khi 25 tuổi, tuổi mụ); Đoàn Quang Dung (1710, khi 29 tuổi), Cao Dương Trạc (1715, khi 34 tuổi), Trịnh Bá Tướng, (1721, khi 30 tuổi), Nguyễn Huy Mãn (1721, khi 34 tuổi, em con chú Huy Nhuận), Nguyễn Huy Thuật (1733, khi 44 tuổi, em con chú Huy Nhuận và Huy Mãn), Nguyễn Huy Dận (1748, khi 41 tuổi, con Huy Nhuận), Nguyễn Huy Cận (1760, khi 32 tuổi, con Huy Dận,), Trần Huy Liễn (1779, khi 34 tuổi) và Nguyễn Xuân Hàn, (1779,  khi 24 tuổi).
7. Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 467 - 469.
8. Ngô Đức Thịnh: “Thử giải mã hội Bông Sòng ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội”, Thông báo Văn hoá dân gian 2002, tr481 – 486

Nguồn: hoidantochoc.org.vn (31/08/05)
 
Tác giả bài viết: Bùi Xuân Đính - Lê Thị Thu Hà

CBN sưu tầm & giới thiệu
 

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp