• Pic Mgmt

    SỰ THÂM THÚY ẨN CHỨA TRONG BÀI CA TRÙ "HỒNG HỒNG TUYẾT TUYẾT"

    ...Từ trước đến nay, khoảng trên dưới 100 năm, những nhà nghiên cứu văn học và yêu thích nghê thuật ca trù đã biết khá rõ những bài thơ nói của tiến sĩ Dương Khuê (1839-1902) trong toàn bộ di sản văn chương và thơ ca của cụ ở nửa thế kỉ XIX trong thiên niên kỉ trước, nhưng ít ai đánh giá đúng giá trị đích thực phẩm chất Dương Khuê trong mảng văn chương được thể hiện bằng loại ca trù, đặc biệt là bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”...

  • Pic Mgmt

    DANH NHÂN TRƯƠNG HÁN SIÊU

    Trương Hán Siêu quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên (nay là phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình). Trương Hán Siêu xuất thân là môn khách của Trần Quốc Tuấn, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm. Ông tham dự cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba. Năm 1308, ông được vua Trần Anh Tông bổ Hàn lâm học sĩ. Đời Trần Minh Tông giữ chức Hành khiển...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

  • Pic Mgmt

    VI HIỀN NHÂN NGƯỜI VIỆT CHINH PHỤC CẢ TRƯỜNG AN, LÀM TỂ TƯỚNG TRUNG QUỐC

    Vào triều đại nhà Đường của Trung Hoa, nước Việt vẫn đang nằm trong thời kỳ Bắc thuộc, nhưng không phải vì thế mà chúng ta thiếu đi nhân tài. Trong lịch sử có ghi chép về câu chuyện hai anh em họ Khương ở xứ An Nam sang tận kinh đô nhà Đường khảo thí cùng các anh tài của Trung Quốc thời bấy giờ. Cả hai đều đỗ tiến sĩ, trong đó có một người đỗ đầu trên bảng vàng, rồi làm quan cho nhà Đường tới chức tể tướng...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi ra mắt cuốn sách “CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ" và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    THAO THAO (1909-1994)

    Cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (tên thật là Cao Bá Thao), sinh ngày 11 tháng 6 năm 1909 [tức là ngày 24 tháng 4 Kỷ Dậu], tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thuộc tỉnh Bắc Ninh xưa (nay thuộc Hà Nội). Ông mất ngày 07 tháng 02 năm 1994 [tức là ngày 27 tháng 12 năm Quý Dậu], thọ 86 tuổi...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG THAY ĐỔI MỚI VỀ CÁCH NHÌN NHẬN LỊCH SỬ VN !

    Ngày 22/2/2017 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” do GS.NGND Phan Huy Lê - chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trình bày...

  • Pic Mgmt

    CHÙA VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

    Tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là một mặt của văn hóa. Văn hóa còn bao gồm nhiều mặt khác. Nhưng ngôi chùa cũng không phải chỉ biểu hiện cho tín ngưỡng. Ngôi chùa phản ánh nhiều mặt khác của văn hóa...

  • Pic Mgmt

    HỒ TÂY : TRUYỀN THUYẾT VÀ HUYỀN THOẠI

    Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương Mịt mù khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.

  • Pic Mgmt

    KỲ TÀI NGƯỜI CHỮA KHỎI BỆNH VÔ SINH...

    Cô Quách Thị Huệ ở thôn Xuân Phong xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa) nổi tiếng khắp vùng quê với những bài thuốc gia truyền hay trị hiếm muộn, bệnh gút, xương khớp. Đến xã Hải Vân hỏi thăm cô Huệ thuốc nam, từ đứa trẻ đến người già đều nhiệt tình chỉ dẫn. Cô Huệ trước là Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Hải Vân. Từ lúc mới vài tuổi, cô đã theo bà, theo mẹ lên rừng tìm cây thuốc. Năm 1991, khi mẹ đẻ của cô bị tai nạn ốm yếu, cô bắt đầu thay mẹ đảm nhận việc bốc thuốc gia truyền...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG SUÝT LÀM MÂM CƠM

    Cổ vật đặc biệt như trống đồng nhóm II Heger, niên đại vào khoảng những năm đầu Công nguyên, được tình cờ phát hiện khi một người dân định mang về nhà làm… mâm dọn cơm...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng nam sông Dương Tử xuống hết phía nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay...

  • Pic Mgmt

    CHẠM TAY TỚI 5000 NĂM LỊCH SỬ

    ...Tháng 4 năm 2017, chúng tôi lớp hậu duệ Việt tộc quyết định đi tìm cho ra sự thật: Có hay không có Thiên Đài nơi khởi nguồn, nơi Tổ tiên đã tuyên ngôn lập quốc Văn Lang....

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH

    Theo thời gian và cũng vì thời đại, chúng ta đã mất nhiều tài liệu và không được tiếp cận với các tài liệu xưa. Vì vậy mà tôi lập Sơn Trung thư trang để làm một thư viện nhỏ với tinh thần vô vị lợi, tôi có thể giữ cho tôi và cống hiến cho moi người. Khi còn ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    HOAN HÔ CHI HỌ CAO VĂN (HOẰNG HÓA, THANH HÓA)

    Ông Cao Văn Nga, đại diện một số chi họ Cao ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa cho biết: Sau khi đọc tin trên website caobaquat.com.vn và được biết về Lễ Hội kỷ niệm 2290 năm Thánh Tổ Cao Lỗ Vương lần này sẽ được khai mạc trọng thể tại Gia Bình, Bắc Ninh từ ngày 18-19/4/2013...

Chi tiết

LỜI HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG CỦA CAO BÁ QUÁT

Đăng lúc: 2014-03-27 14:21:50 - Đã xem: 3683


Ngày 10/12/2010, tôi có dịp cùng đi với bạn Ngô Thế Long đến thăm ông Phan Văn Dốp - Giám đốc Thư Viện Khoa Học Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, tôi đã tìm thấy toàn văn bản dịch HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG của Cao Bá Quát được đăng trong KỶ YẾU THÔNG TIN UNESCO VIETNAM, số 7 tháng 12 năm 1964 (Chủ nhiệm kiêm chủ bút: NGUYỄN ĐÌNH HÒA. Thư ký kiêm quản lý: NGUYỄN QUỲNH).




Trong cuốn kỷ yếu nói trên, tác giả Nguyễn Quỳnh đã viết một bài về Cao Bá Quát gồm 23 trang (từ tr.161 đến tr.184), giới thiệu thân thế, sự nghiệp và cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát ở Mỹ Lương. Trong đó, có bài hịch kêu gọi khởi nghĩa của Cao Bá Quát (từ tr.175 đến tr.178), toàn văn bản dịch như sau:

          
Hỡi các tướng-sĩ:


Người xưa có nói:”Thiên chi sinh vật, tất nhân kỳ tài nhi đốc yên, cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi”. Nghĩa là: trời sinh muôn vật, hễ vật nào có tài lực thì vun đắp cho tốt lên, vật nào kém hèn nghiêng lệch thì làm cho đổ nát đi. Lại có câu: “Bất tri mệnh vô dĩ quân tử giả”. Không biết mệnh trời không phải là người quân tử.

Xét qua hai câu này thì phàm đã là kẻ thức giả tất phải biết cái lẽ “ThuậnNghịch” ! Ở đời, thuận hay nghịch đều do thiên mệnh, cho nên khi trời đã bày ra cảnh thuận, tức như vạch một con đường hay để người tài bồi vun đắp cho cảnh thuận cứ thuận mãi. Nhưng khi trời đã bày ra cảnh nghịch, khác nào gây sự hỗn loạn, nghiêng ngửa thì con người phải theo ý muốn của trời mà san-phẳng nghịch-cảnh. Do đó, ta có thể ngắm cảnh-tượng của tạo-hóa mà biết được việc trước sau, xét việc của người mà đoán trước được lẽ biến-hóa của trời đất vậy...

Nay thử lần giở trang sử nước nhà để tìm hiểu thế nào là cảnh thuận, thế nào là cảnh nghịch, ngõ-hầu vạch một con đường chính-nghĩa cho mọi người noi theo.


Kể từ khi họ Hồng-Bàng lập quốc, dân ta đã có hệ-thống phong-tục tập-quán thuần-mỹ, tình cha con, nghĩa vợ chồng được coi như căn-bản của đạo-lý. Trải qua đời Thục, đời Triệu, luân-thường vẫn không bị xâm-phạm mà còn vun giồng tươi tốt thêm. Như vậy có thể gọi là cảnh thuận. Đến khi đất nước biến-chuyển, giang-sơn bị lệ-thuộc vào Trung-quốc, hệ-thống luân-lý cổ truyền bị làn sóng đô-hộ biến-thể nhưng chưa mất hẳn bản-sắc, cho nên tới ngày nay, ở một vài nơi ta còn thấy những tục lệ tốt-đẹp của thời xưa. Kịp khi Ngô-Vương-Quyền đánh tan năm vạn quân Nam-Hán ở sông Bạch-Đằng, phục-hồi độc-lập cho đất nước, thì dân ta mới lại được sống trong cảnh thuận, tiếp-diễn qua các triều-đình Lê, Lý, Trần ... Nhưng vẻ-vang hơn hết là vị anh-hùng của đất Lam-Sơn đã nổi lên quét sạch giặc Minh mở một kỷ-nguyên mới cho đất nước, tức như thay trời mà đem lại cảnh thuận cho dân-tộc.

Xem như thế, ta đã biết cảnh thuận và nghịch của lịch-sử xen lẫn nhau, con người luôn luôn theo ý-muốn của trời mà hành-động, người và trời tương-ứng, tương-cảm với nhau trong sự tạo nên vũ-trụ vậy !

Giang sơn ta, cuối đời nhà Trần, như chiếc nhà mục nát chỉ rình đổ, họ Hồ lợi-dụng thời-cơ mưu việc thoán-vị. Kế đến quân Minh mượn danh-nghĩa phù Trần, dầy xéo đất nước, tàn-phá dân ta, bầy ra những trạng-thái vô cùng bi-đát, thì tưởng trăm phần trăm ách nô-lệ lại quàng vào cổ của 20 triệu dân Nam một lần nữa. Nhưng đáng mừng thay đức Lê-Hoàng ở Lam-Sơn lấy nhân-nghĩa mà trị được bạo-tàn, vì nòi-giống mà chịu đựng 10 năm lao-khổ, gây dựng được nền vương-nghiệp tốt đẹp, đem lại cảnh “thuận" cho toàn dân suốt một trăm năm thanh bình thịnh-vượng. Không ngờ họ Mạc làm phản, gây ra cảnh Nam, Bắc-triều, chia thế lực với Triều Lê ta, cam tâm cúi luồn Trung-quốc để tác oai ở miền Bắc. Rồi thì nghịch-cảnh cứ tiếp diễn mãi, hết Trịnh, Mạc tranh giành nhau ảnh-hưởng lại đến Trịnh, Nguyễn chia giới-hạn để cai-trị, sự rối lọan càng nhiều, nhân dân đồ-thán, lưu-vong đến cùng-cực. Tuy-nhiên đất đai này vốn của nhà Lê, công ơn của Vị anh-hùng Lam-Sơn đối với quốc-dân vẫn còn chói-lọi như ánh-sáng của vầng Thái-Dương, cho nên khi vua Tây-Sơn kéo quân ra Bắc chỉ dám nói diệt Trịnh mà không dám xâm-phạm đến một tấc đất của Lê-Triều. Ngờ đâu Nguyễn-Phúc-Ánh nhờ quân Pháp giúp sức đánh lại được Tây-Sơn, không trả lại ngai vàng cho nhà Lê, lại tự lập làm vua, nói là nhà Lê không người thừa-kế trực-hệ.

Người xưa đã nói:”Phú dữ quy thị nhân chi, sở dục giả bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất sử dã”, nghĩa là: “Phú quý thì ai cũng muốn, nhưng không lấy đạo mà được, thì không nhận”. Nguyễn-Phúc-Ánh đã làm việc trái với lẽ phải, không giữ trọn đạo thần-tử đối với nhà Lê, lại có tội đem người Pháp sang nước ta để sau này gây nhiều chuyện rắc- rối. Nghĩ lại ba trăm năm vương-nghiệp triều Lê vô cùng rực-rỡ, thì ta không khỏi căm thù dòng dõi của Nguyễn-Kim đã dại-dột để cho ngoại-bang xen vào nội-bộ của nước ta chỉ vì ham chiếc ngai vàng. Đến khi đắc-chí lại bày ra nhiều trò báo oán nhỏ-nhen, nào là quật chết hai đứa con vô tội của vua Quang-Trung, đào mả ba anh em vua Tây-Sơn lấy thủ-cấp làm đồ đi tiểu, tàn-sát con cháu những cựu-thần nhà Lê đã hợp-tác với quân Tây-Sơn để chống lại cuộc xâm-lăng của nhà Mãn-Thanh. Hơn thế nữa, Ánh lại giết hại những người đã cùng giúp mình làm nên nghiệp lớn như Nguyễn-Văn-Thành, Đặng- Trần-Thường ... ưu đãi bọn Pháp-Lan-Tây, uốn lưng thần-phục Trung quốc là nước thù-địch của ta, tóm lại Nguyễn-Phúc-Ánh đã có những hành-động và tư-tưởng phản-bội lịch-sử. Con là Minh-Mạng lại dâm- dật tàn-ác hơn bố, giết chị dâu và cháu, san phẳng mộ của Lê-Văn-Duyệt và Lê-Chất là những công-thần đã chết, lưu-đầy thân-thuộc của họ và tịch-biên gia-sản sung-công. Kể từ khi Nguyễn-Phúc-Ánh truyền đến con là Minh-Mạng và cháu là Thiệu-Trị, suốt thời gian 45 năm đế-chế, dân-tộc ta đã chịu bao nhiêu sưu cao thuế nặng, ăn bữa tối, lo bữa mai, lụt lội, mùa màng trôi sạch, xóm làng, đường xá tiêu điều. Trong khi đó, bọn tham-quan ô-lại ra sức bóp nặn lương-dân, tụi giặc đói tha hồ đốt nhà cướp của. Than ôi ! Dân ta có tội tình gì mà trời đất gieo tai, rắc vạ như vậy? So với thời thanh bình ở các triều Lê, dân ta dưới chính-sách áp-chế dã-man của họ Nguyễn-Phúc quả đã lâm vào tình-trạng đảo-huyền cơ-cực.

Hỡi các tướng sĩ !


Cái gì tốt đẹp thì vun đắp cho tươi tốt thêm lên, cái gì nghiêng-ngửa thì làm cho đổ nát đi. Nhìn vào kiến-trúc xã-hội ngày nay thì tất cả nền móng xã-hội chính-trị, cơ-cấu kinh-tế, trạng-thái sinh-hoạt đều nghiêng lệch, chỉ rình sụp đổ. Trời đất, quỷ-thần đều oán giận bọn thống trị nên mới bày ra những thảm-cảnh để mọi người trông thấy mà suy nghĩ về tương-lai. Lúc này chúng ta phải theo ý trời mà hành-động, tiêu-diệt cái triều-đại đổ-nát này và xây đắp một xã hội khác tốt đẹp và thịnh-vượng hơn lên. Vả lại nhiệm-vụ lịch-sử của họ Nguyễn Phúc đã chấm-dứt từ khi Thiệu-Trị thở hơi cuối cùng, tên hôn-quân Tự-Đức là dòng-dõi người ngoài, mượn họ Nguyễn-Phúc để lên ngôi vua đó thôi. Hơn nữa, trong trời đất, mọi vật đều biến- chuyển không ngừng, có cái gì là tồn-tại vĩnh-viễn đâu, chiếc ngai vàng kia cũng là của chung thiên-hạ, ai có đức thì được, có phải riêng gì một họ ? Ta dòng dõi của đức Lê-Thái-Tổ, đau xót vì những cảnh khổ mà toàn dân đã chịu đựng ngót nửa thế-kỷ nay, nhất quyết phất cờ khởi-nghĩa, nên mài sẵn gươm thiêng, đúc thêm súng đạn, giải-phóng đất nước khỏi sự áp-bức của bọn phong-kiến sài-lang, xây-đắp một xã-hội công-bình và nhân-đạo.

Quân ta đi đến đâu, một lá rau, hạt thóc, cũng không tơ-hào của nhân-dân, dè dặt từng giọt máu, từng viên đạn, tôn trọng một luống khoai, một nắm cỏ. Kẻ nào giết người vô tội phải đền mạng, bứt một bông hoa phải thường tiền, dẫm nát cây lúa phải phạt trượng.

Hỡi các tướng-sĩ !


Tiếng trống khởi-nghĩa đã bắt đầu rung lên trong cảnh đêm thu. Lòng người đã thức tỉnh và vâng theo mệnh-lệnh quỷ-thần. Hãy trỗi dậy cả lên ! Ai có dáo vác dáo, ai có gậy vác gậy, tiêu-diệt hết bọn quan-lại tham-ô, san-phẳng hết những bất-công của thời-đại và cương-quyết phục-hồi đất nước cho Triều Lê.

 

GHI CHÚ CỦA CAO BÁ NGHIỆP:


Cờ khởi nghĩa Mỹ Lương có thêu 2 dòng chữ:


BÌNH-DƯƠNG, BỒ-PHẢN (
蒲阪) VÔ NGHIÊU THUẤN

MỤC-DÃ, MINH-ĐIỀU HỮU VÕ THANG


Nghĩa là:


Bình-Dương và Bồ Phản
(蒲阪) không có những vua hiền như Nghiêu, Thuấn; thì ở Mục-Dã, Minh Điều phải có những người như Vũ, Thang.


Chú thích:


- Bình Dương là Kinh đô của vua Đường-Nghiêu.

- Bồ Phản (蒲阪) là Kinh đô của vua Ngu-Thuấn. [Lâu nay các sách thường ghi nhầm là Bồ Bản, hoặc Đồ Bản là không đúng]

 


Nguồn tin và ảnh minh họa: Cao Bá Nghiệp
E-mail: cbn@caobaquat.com.vn / caonghiep07@gmail.com
Mobile: 0918 028 053 / 0933 392 604

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp