• Pic Mgmt

    TÌM HIỂU BÍ ẨN KHO CỔ VẬT & NGÔI MỘ 2.000 NĂM CỦA THỦ LĨNH ĐÔNG SƠN

    Các nhà khoa học vừa có một phát hiện ngôi mộ táng thủ lĩnh chôn theo nhiều hiện vật trong một hang đá ở xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Tìm thấy một ngôi mộ của văn hóa Đông Sơn đã khó. Lại khó gấp nhiều lần ở khu Tây Bắc rừng núi trùng điệp. Thế mà vừa có một phát hiện ngôi mộ táng thủ lĩnh chôn theo nhiều hiện vật trong một hang đá ở xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La...

  • Pic Mgmt

    TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

    Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến...

  • Pic Mgmt

    KHO BÁU HUYỀN THOẠI CỦA NGƯỜI MƯỜNG VOONG HƠN 400 NĂM TRƯỚC

    Bốn năm trước, tôi đã từng đi bộ qua hàng chục bản làng của 2 xã Cẩm Tú và Cẩm Quý. Trong cuộc “thám hiểm” ấy, tôi nghe bà con thì thầm bảo nơi đây ẩn giấu một kho báu vô cùng quý giá của tộc người Mường Voong...

  • Pic Mgmt

    VỀ KINH BẮC THĂM ĐỀN ĐÔ

    Được xem là mảnh đất địa linh nhân kiệt, Bắc Ninh đã từng xuất hiện nhiều anh hùng, hiền tài trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Đồng thời, nơi đây còn nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh gắn liền với lịch sử, như nhà thờ họ Nguyễn, đình làng Quan Đình, chùa Chiêu Ứng...

  • Pic Mgmt

    CHẠM TAY TỚI 5000 NĂM LỊCH SỬ

    Lịch sử và Cổ Phả Hùng Vương đều ghi chép rằng: "Đế Minh đi tuần thú phương Nam đến vùng Ngũ Lĩnh đã cho lập Thiên Đài tế cáo trời đất… Ngài phong con thứ tư là Lộc Tục lập nước Xích Quỷ làm vua phương Nam. Đã hơn 5000 năm trôi qua… mảng tối về sự thật Thiên Đài vẫn còn đó ẩn sâu trong lớp bụi thời gian nghiệt ngã!...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN PHO TƯỢNG LẠ Ở CHÙA BỘC

    Không cao lớn kỳ vĩ, cũng không độc đáo về mặt kiến trúc, cũng không được tạc từ những chất liệu quý báu nhưng hàng trăm năm nay, bức tượng Đức Ông ở chùa Bộc vẫn được người ta nói đến là bức tượng lạ, hay bức tượng thiêng. Nguồn gốc của pho tượng này luôn là đề tài khám phá tìm hiểu của không chỉ nhà nghiên cứ lịch sử mà còn của quan quản lý nhà chùa.

  • Pic Mgmt

    PHẢI CHĂNG TIẾNG VIỆT CHỈ CÓ 12.000 NĂM LỊCH SỬ

    Trong Hội thảo Việt học quốc tế lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội năm 1998, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có tham luận nhan đề: “Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt”...

  • Pic Mgmt

    ĐỀN THỜ CAO LỖ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ...Năm 1954, trong số những người Bắc di cư vào Nam, có một số bà con người làng Đại Than, thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh đã đến sinh sống và lập nghiệp tại khu vực chùa Giác Hạnh ngày nay. Năm 1957, do nhu cầu tâm linh nên những người con xa xứ của làng Đại Than ở đây đã cùng nhau góp công sức xây dựng một ngôi đền THỜ CAO LỖ trong khu vực chùa GIÁC HẠNH tại số nhà 51 đường Ông Ích Khiêm, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận được tin trên, tôi đã gửi ngay E-mail báo cho Ban Liên Lạc Họ Cao Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM

    Làng cổ Đường Lâm xưa gồm có 9 làng thuộc tổng Cam Gía Thịnh – Huyện Phúc Thọ - Trấn Sơn Tây. Trong đó có 5 làng liền kề nhau, mỗi làng có một cái giếng khơi quanh năm nước đầy và trong được xây bằng đá ong loại tốt nhất. Mỗi cái giếng đều nổi tiếng và được định vị bởi những giai thoại rất thú vị. Một cái giếng có tấm bia khá lớn dựng ngay bên cạnh, đề bốn chữ “Nhất phiến băng tâm” nhắc người đời giữ giếng sạch trong như giữ lòng trong sáng...

  • Pic Mgmt

    DẤU TÍCH XƯA QUA NHỮNG KINH ĐÔ VIỆT CỔ

    ...Khu di tích Đền Hùng thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng, có độ cao 175 mét so với mặt nước biển, thuộc đất Phong Châu, vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo tạo thành ba đỉnh “Tam sơn cấm địa”...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ "TINH HOA VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI"

    Ở giải Văn hóa Phan Châu Trinh, ban tổ chức đã vinh danh những cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực thuộc bốn hạng mục: “Dịch thuật” (trao cho dịch giả Đào Hữu Dũng), “Vì sự nghiệp Văn hoá và Giáo dục” (trao cho giáo sư Pierre Darriulat và giáo sư Trịnh Xuân Thuận), “Nghiên cứu” (trao cho giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh), “Việt Nam học” (trao cho giáo sư Peter Zinoman)...

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG LÀ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

    Tối 13/4 (tức 4/3 năm Quý Tỵ), tại Trung tâm Lễ hội Khu Di tích Lịch sử đặc biệt quốc gia Đền Hùng, UBND tỉnh Phú Thọ đã long trọng tổ chức Lễ đón bằng UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Khai mạc Lễ hội Đền Hùng năm Quý Tỵ - 2013...

  • Pic Mgmt

    HỘI AN - THƯƠNG CẢNG CỔ XƯA

    Là một trong những di sản văn hóa thế giới nổi tiếng của Việt Nam, Hội An là thành phố nhỏ nằm bên bờ sông Thu Bồn thơ mộng, thuộc địa bàn tỉnh Quảng Nam - cách trung tâm TP.Đà nẵng 30km về phía nam. Nơi đây xưa kia đã từng là một thương cảng thịnh vượng, một trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á trong các thế kỷ 16,17,18 với sự tham gia của các thương nhân đến từ Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hà Lan...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ, CUỐN SỬ VINH DANH NGƯỜI VIỆT

    ...Nhưng ngày nay, với những khám phá mới về nhân học, lịch sử, ta biết rằng, từ hàng vạn năm, trước khi người Hoa Hạ ra đời, toàn bộ đất Trung Hoa là giang sơn của tộc Việt. Người Việt từ Việt Nam lên đã xây dựng ở đây nền văn minh nông nghiệp lúa nước sớm và phát triển nhất hành tinh. Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ từ Tây Bắc vượt Hoàng Hà, xâm lăng đất của người Việt. Tại trung Nguyên, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt sinh ra người Hoa Hạ...

  • Pic Mgmt

    HÀ NỘI, CẦU THÊ HÚC, ĐỀN NGỌC SƠN

    ...Nổi bật giữa Hồ Gươm trong xanh, đền Ngọc Sơn được xây dựng trên một đảo nhỏ nằm về phía Bắc của hồ mang vẻ đẹp cổ kính và sang trọng hiếm có. Với thế hệ trẻ ngày nay, ít ai biết rằng, nơi đây từng trải qua bao thăng trầm, biến thiên, để rồi đứng vững vàng, lộng lẫy giữa lòng Hà Nội như ngày nay...

Chi tiết

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Đăng lúc: 2014-03-27 21:08:58 - Đã xem: 4818


 


NGUYỄN NGỌC QUẬN *

www.hcmussh.edu.vn

 

Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến (1).


Giai đoạn 1945 – 1954 có lẽ do tình hình học thuật nói chung có phần thiếu ổn định, do những tác động chính trị xã hội bấy giờ nên việc nghiên cứu Cao Bá Quát, cũng như nhiều tác gia văn học khác, không có gì đáng kể. Về văn học sử cũng chỉ có vài công trình như Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) của Nghiêm Toản, Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứ XIX (1951) của Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng, trong đó công trình của Nghiêm Toản hầu như không nhắc gì đến Cao Bá Quát, còn Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng xếp Cao Bá Quát vào khuynh hướng hưởng lạc (2), với cách nhìn nhận không có gì mới so với một số nhận định có từ trước Cách mạng tháng Tám.


Giai đoạn 1954 – 1975, đất nước bị chia cắt, nhưng nhìn chung ở cả hai miền, sinh hoạt học thuật đều có bước ổn định và Cao Bá Quát lại được quan tâm nghiên cứu giới thiệu, ở miền Nam có phần sớm hơn.


Một trong những nguyên nhân ở miền Nam Cao Bá Quát được quan tâm sớm hơn, theo chúng tôi, vì ông là tác giả được giảng dạy ở bậc trung học và có trong chương trình thi tú tài. Từ sau 1955, gắn với yêu cầu trên, ở miền Nam hàng loạt những công trình khảo luận, luận đề về Cao Bá Quát phục vụ cho luyện thi tú tài ra đời, tiêu biểu như Luận đề về Cao Bá Quát (1957) của Nguyễn Duy Diễn, Cao Bá Quát, thân thế-văn chương luận đề (1958) của Bằng Phong và Nguyễn Duy Diễn, Khảo luận về Cao Bá Quát (1959) của Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử, Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ (1959) của Lam Giang, Khảo luận thi văn Cao Bá Quát (1959) Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ (1960) của Thuần Phong, Việt Nam văn học giảng bình (1970) của Phạm Văn Diêu…


Những bộ văn sử đáng chú ý của giai đoạn này như Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, quyển II, (1963) của Phạm Thế Ngũ, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng… cũng xét Cao Bá Quát như một tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. Đồng thời, đó là hàng loạt bài viết về Cao Bá Quát trên các tạp chí có tiếng đương thời như: Văn hoá nguyệt san, Bách khoa thời đại, Giáo dục phổ thông, Văn học, Nghệ thuật, Sáng tạo, … với các bài viết của các tác giả Nguyễn Đức Tiếu, Hồng Liên Lê Xuân Giáo, Phạm Văn Sơn, Phan Kim, Thái Bạch, Nguyễn Anh, Tương Huyền, Châu Hải Kỳ, Nguyễn Tử Quang,… Nhìn sơ bộ, có thể nói thư mục nghiên cứu về Cao Bá Quát trong giai đoạn này quả là dồi dào, nhưng đáng tiếc là những đóng góp thật sự về Cao Bá Quát cả về phương diện lịch sử lẫn văn học vẫn chưa có là bao.


Về phương diện tiểu sử - hành trạng Cao Bá Quát, các tác giả không cung cấp thêm gì mới. Điều đáng nói là hầu hết họ đều dựa vào cuốn Cao Bá Quát danh nhân truyện ký (1940) của Trúc Khê, một quyển danh nhân truyện ký có xu hướng tiểu sử hoá giai thoại, để làm căn cứ nhận định, đánh giá về Cao Bá Quát. Có người như Lam Giang đặt vấn đề rất nghiêm túc về việc phê phán tài liệu, nhưng trong tập khảo luận của mình, ông lại sử dụng rất nhiều giai thoại để xác định Cao Bá Quát là một “danh sĩ phong lưu”, một “cuồng sĩ” (3) v.v… Phạm Thế Ngũ trong bộ văn học sử của mình cũng không tránh được vết mòn này. Điều đó cũng phản ánh những hạn chế nhất định về quan điểm và phương pháp nghiên cứu. Phần lớn các tác giả vẫn chịu ảnh hưởng cách nhìn nhận về Cao Bá Quát có từ trước 1945, tách con người hành động và sáng tác thơ văn thành hai hiện tượng riêng biệt, như Phạm Văn Sơn quan niệm “văn thơ là một chuyện, hành động lại là một chuyện khác” (4) và gần như lặp lại nguyên ý tưởng của Lê Thanh từ năm 1940 trong bài Hậu tự  sau cuốn Cao Bá Quát danh nhân truyện ký của Trúc Khê. Phạm Văn Sơn viết tiếp: “Ông có làm loạn chăng nữa thì việc này chỉ là một việc nhỏ trong nhiều việc nhỏ khác mà thôi” (5). Các tác giả Bằng Phong và Nguyễn Duy Diễn cũng viết: “Tài của Cao Bá Quát, ai cũng nhận rằng có, nếu đứng về phạm vi từ chương nghệ thuật… Ấy thế mà vì nhìn nhầm cái tài từ chương văn nghệ, sang cái tài kinh bang tế thế, Cao Bá Quát đã thất bại thảm thương trong cuộc khởi nghĩa” (6)….Quan điểm và phương pháp tư tưởng như trên dẫn đến việc không chú ý đúng mức đến tính tư tưởng của văn thơ Cao Bá Quát và thực tế, các tác giả không tránh được cái nhìn phiến diện về thơ văn ông, cuộc đời ông.
 


Về văn chương, ai cũng nhất trí Cao Bá Quát là một nhà thơ tài năng, độc đáo, nhưng họ chủ yếu đi vào khía cạnh ngông nghênh, tài tử của Cao Bá Quát và dĩ nhiên, các giai thoại văn học về tài ứng đối chơi chữ của ông, lại được xem như những minh hoạ đắc địa. Tính phiến diện cũng thể hiện khá rõ ở sự lúng túng trong việc cố gắng xếp Cao Bá Quát vào một khuynh hướng nào đó: lý tưởng, tình cảm, hoặc kiêu hãnh, nhàn hạ, hưởng lạc, hoặc bi quan, yếm thế, …


Ở một số công trình, các tác giả cố gắng hướng đến một cái nhìn toàn diện nhưng thực ra cũng không tránh được sự lắp ghép từ những mảng, những mảnh rời vụn có tính chất bề ngoài, chẳng hạn như cách viết của Lam Giang mà chúng tôi đã nêu, hoặc như của Phạm Thế Ngũ khi nêu ra mấy khía cạnh tư tưởng Chu Thần qua di văn chữ Nôm: 1. Kiêu ngạo cố cùng; 2. Trào đời phẫn uất; 3. Lãng mạn thanh cao; 4. Hành lạc yếm thế (7). Cách tiếp cận của Phạm Thế Ngũ khá tiêu biểu cho hướng nghiên cứu thơ văn Cao Bá Quát thời kỳ này. Về cuộc đời, tư tưởng và hành động Cao Bá Quát, các tác giả đều tập trung lý giải, đánh giá con đường và tính chất của hành động chống triều đình của Cao Bá Quát. Hầu như ai cũng chú ý đến bối cảnh của thời đại Cao Bá Quát nhưng rất tiếc vẫn thiếu một quan điểm biện chứng lịch sử trong mối quan hệ giữa thơ văn với con người Cao Bá Quát để nhìn nhận đánh giá.

Chung quy có hai hướng nhận định chính: một là coi Cao Bá Quát là người có tài lỗi lạc đến mức ngông nghênh lại không được trọng dụng nên sinh ra chán nản, bực tức và “khởi loạn” (Hà Như Chi, Thái Bạch, Nguyễn Anh…); hai là coi Cao Bá Quát là một nhà cách mạng, coi cuộc dấy binh ở Mỹ Lương là khởi nghĩa (Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Duy Diễn, Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử, Lam Giang…). Cả hai hướng nhận định đều có phần bất cập. Hướng thứ hai có chú ý đến tư tưởng “cách mạng” qua ý thức “Giật mình khi ở xó nhà…” của Cao Bá Quát và lý tưởng “Nghiêu Thuấn”, “Võ Thang” của ông, nhưng lập luận còn thiếu thuyết phục, vì chưa quan tâm đúng mức; hoặc chưa có điều kiện để nghiên cứu có tính hệ thống nhân sinh quan tích cực của Cao Bá Quát dẫn đến hành động khởi nghĩa của ông. Thêm vào đó, cái nhìn của tác giả theo hướng này cũng thiếu tính lịch sử cụ thể, khi lý giải nguyên nhân các cuộc khởi nghĩa hoặc “dấy loạn” trong thời phong kiến.

Thực ra, khi đánh giá, chúng ta không thể bỏ qua những khó khăn thực sự, trước hết về mặt tư liệu rất phức tạp như mọi người đều biết, và cũng không nêu được nhiều công trình khảo luận, vì nó chỉ nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể là phổ biến kiến thức, luyện thi,…nên cũng không vượt quá được tính chất giảng bình, sơ lược. Dù vậy về tổng quan, có thể nói quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Cao Bá Quát ở miền Nam trước 1975, cũng có những đóng góp nhất định.

Vấn đề Cao Bá Quát được đặt ra liên tục và có tình thời sự. Về mặt tư liệu thơ văn Cao Bá Quát, ngoài những bản dịch có từ trước Cách mạng tháng Tám, một số tác giả các công trình khảo luận đã dịch và giới thiệu thêm những tác phẩm khác của ông. Về phương diện này, đáng kể có công trình Cao Chu Thần thi tập trích dịch (1971) của Sa Minh Tạ Thúc Khải - một công trình dịch thuật khá công phu, gồm 234 tác phẩm vừa văn xuôi, vừa thơ. Tiếc rằng vấn đề công tác văn bản không được dịch giả đặt ra nên công trình này chưa hoàn toàn đáp ứng sự mong đợi của độc giả. Dù sao, cơ sở tài liệu này đã hơn hẳn so với trước, tuy nhiên, sau Tạ Thúc Khải vẫn không có ai đặt vấn đề nghiên cứu về Cao Bá Quát nữa.

Ở miền Bắc, giai đoạn 1954 – 1975, cùng với công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1960), có thể nói bài viết của Nguyễn Huệ Chi – Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát (1961) đã đánh dấu một hướng nghiên cứu mới, trên quan điểm marxist, về Cao Bá Quát. Đó là sự khắc phục cái nhìn còn phiến diện có từ trước Cách mạng tháng Tám để trên quan điểm mới “xác định được mối liên hệ vốn rất chặt chẽ giữa thơ văn Cao Bá Quát và cuộc đời chìm nổi của ông”, để tìm hiểu “tư tưởng thống nhất đã chi phối các quá trình khác nhau của cuộc đời ông” (8). Quan điểm nghiên cứu này vừa khoa học vừa có ý thức tích cực trong việc thúc đẩy quá trình nghiên cứu, xử lý tư liệu thơ văn Cao Bá Quát. Điều đó thể hiện rõ qua các bài viết của Tảo Trang - Một số tài liệu về thơ văn Cao Bá Quát (1963), Chu ThiênCao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1963), Hoa BằngCao Bá Quát với cuộc khởi nghĩa chống triều Nguyễn (1969), Một vài tìm tòi về câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát và về bài thơ “Thú Hương Sơn” (1972). Vũ Khiêu- Đọc Cao Bá Quát nhân 160 năm ngày sinh của nhà thơ (1969), bài nói chuyện của Xuân Diệu - Đọc thơ Cao Bá Quát (1971) nhân dịp kỷ niệm 160 năm ngày sinh Cao Bá Quát và lần thứ 100 ngày sinh Trần Tế Xương…

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã rất thận trọng trong việc sử dụng tư liệu thơ văn Cao Bá Quát, nhất là đối với các giai thoại, và xuất phát từ thơ văn Cao Bá Quát, mặc dù khó tránh khỏi vài trường hợp còn vướng mắc, để tìm hiểu nhiều khía cạnh tâm hồn, tư tưởng của Cao Bá Quát, khẳng định sự nổi dậy của Cao Bá Quát là “cuộc khởi nghĩa trăm phần trăm” (Hoa Bằng). Có thể nói, lần đầu tiên Cao Bá Quát được nhìn nhận đúng tầm vóc với tư cách là một nhân vật lịch sử, và lần đầu tiên được hiện diện chân thực, sinh động là một con người “thành thật trong cuộc đời”, “biết yêu, biết ghét đúng mức” (Nguyễn Huệ Chi), là con người “chí khí và tâm huyết” (Xuân Diệu), là nhà thơ có quan niệm văn học đúng đắn và có những đóng góp mới mẻ trong lịch sử văn học dân tộc.  

Năm 1970, đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu, xử lý và công bố tư liệu thơ văn Cao Bá Quát với công trình Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, gồm 156 bài, một công trình tập thể, được biên dịch công phu cùng với lời giới thiệu 40 trang của Vũ Khiêu đánh giá cao Cao Bá Quát trên nhiều phương diện. Giáo sư Nguyễn Lộc xác định: “Chính nhờ giới thiệu rộng rãi thơ chữ Hán của Cao Bá Quát như thế, nên việc đánh giá nhà thơ trong giới nghiên cứu cũng như đông đảo công chúng mới ngày càng được chính xác…” (9). Sáu năm sau, quyển sách được tái bản có bổ sung với số lượng in 20.100 cuốn cũng cho thấy điều đó, dù đây cũng chỉ là công trình bước đầu về tư liệu thơ văn Cao Bá Quát.


Từ sau 1975, trong điều kiện nước nhà thống nhất, Cao Bá Quát được nghiên cứu có quy mô hơn, nhất quán về quan điểm và phương pháp nghiên cứu đã được gợi mở ở miền Bắc trước đó. Những công trình văn học sử cũng có những bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu có tính toàn diện về Cao Bá Quát, tiêu biểu như công trình văn học sử của tập thể tác giả Trường Đại học Sư phạm (1978), của Nguyễn Lộc (1978), của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1980)… Điểm chung ở các công trình văn học sử này là tác giả đã tiếp tục hướng nghiên cứu có từ trước, tiêu biểu là bài viết của Nguyễn Huệ Chi (1961) và lời giới thiệu của Vũ Khiêu trong tập Thơ chữ Hán Cao Bá Quát (1970), đã đi sâu thêm vào những khía cạnh phong phú của con người và thơ văn Cao Bá Quát. Đặc biệt là Nguyễn Lộc đã dành một số trang thích đáng, trong khuôn khổ của một công trình lịch sử văn học, để nghiên cứu về nghệ thuật thơ của Cao Bá Quát một cách có hệ thống từ quan niệm văn học đến những đặc điểm về phong cách nghệ thuật của ông. Đây là đóng góp mới xét trong lịch sử nghiên cứu Cao Bá Quát đến lúc đó.

Về công trình chuyên biệt, không kể tác phẩm Cao Bá Quát (1982) của Nguyễn Nghiệp - một tác phẩm danh nhân truyện ký, nhưng có nhiều đóng góp vì được viết nghiêm túc. Đáng kể, có công trình Cao Bá Quát, con người và tư tưởng (1980) của Nguyễn Tài Thư. Là nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam, trong công trình này, Nguyễn Tài Thư cũng giới hạn “chỉ nghiên cứu về con người và tư tưởng của Cao Bá Quát” (10). Nhưng nghiên cứu con người và tư tưởng Cao Bá Quát qua thơ văn, Nguyễn Tài Thư cũng đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử nghiên cứu Cao Bá Quát trên bình diện sử học, văn học, vì như ông cũng xác định “giải quyết được nó sẽ có điều kiện sáng tỏ những vấn đề khác của Cao Bá Quát” (11). Quan niệm phương pháp nghệ thuật của Cao Bá Quát có nguồn gốc ở phương pháp tư duy chung của ông, tác giả Nguyễn Tài Thư cũng đã chú trọng đi vào nghiên cứu đặc trưng thơ Cao Bá Quát trên bình diện phong cách tư tưởng, sắc thái tình cảm và ngôn ngữ hình tượng. Về phương diện tư tưởng, Nguyễn Tài Thư đã cố gắng xác lập đóng góp của Cao Bá Quát trong sự phát triển của lịch sử dân tộc, tập trung ở khía cạnh là nhà tư tưởng của phong trào nông dân, có quan niệm tiến bộ về lịch sử và nhân sinh …Nhiều vấn đề trong chuyên luận này có lẽ còn phải bàn luận thêm, nhưng nhìn chung, đặt Cao Bá Quát trong tiến trình lịch sử tư tưởng của dân tộc để xác định những nét riêng, những đóng góp mới của Cao Bá Quát là cách làm khoa học, có ý nghĩa phương pháp luận cho nghiên cứu toàn diện Cao Bá Quát.

Một công trình khác rất đáng chú ý dù không phải là công trình chuyên biệt về Cao Bá Quát, đó là công trình Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) của Trần Ngọc Vương. Một Cao Bá Quát – tài tử, đã được nói đến khá nhiều ở miền Nam trước 1975, nhưng với cái nhìn hời hợt, phiến diện. Trần Đình Hượu trước đó và Trần Ngọc Vương trong công trình này đã xác lập được cái nhìn khoa học trên cơ sở khảo sát các tác giả, trong đó có Cao Bá Quát, để nêu ra những đặc trưng có tính đến loại hình của một kiểu tác giả giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Từ góc nhìn này, Trần Ngọc Vương đã ghi nhận “Nguyễn Du và Cao Bá Quát có lẽ là hai tác giả tiêu biểu nhất” cho loại hình nhà Nho “coi tài năng, trước hết là tài năng văn học, là thước đo quan trọng” (12) và họ “chỉ có thể lưu lại tên tuổi mình như và chỉ như những nhà thơ xuất sắc” (13). Đây là hướng tiếp cận đầy triển vọng cho phép đi sâu hơn vào việc nghiên cứu Cao Bá Quát trên nhiều bình diện mà trước hết là một Cao Bá Quát với tư cách là một tác gia văn học có tính tiêu biểu cho một loại hình, một khuynh hướng văn học đặc sắc trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại.

Cao Bá Quát còn được các nhà nghiên cứu ngoài nước quan tâm. Trong bộ Văn học Việt Nam – Sơ thảo (1971), nhà Việt Nam học người Nga N. I. Niculin đánh giá rất cao Cao Bá Quát và xác định một nét đáng chú ý của Cao Bá Quát và coi “Cao Bá Quát (1809 – 1855) là một nhân vật có tính chất tượng trưng thực sự đứng giữa ngưỡng cửa một giai đoạn mới trong lịch sử Việt Nam” (14).

Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp trong Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và nhận thức của ông qua chuyến đi công cán “Vùng Hạ Châu” (1996, 1997) đã sử dụng thêm 7 bản dịch mới, do Cao Bá Quát làm trong khi đi “Dương trình hiệu lực” (Phan Đại Doãn dịch) cùng những bài dịch đã phổ biến để tìm hiểu khá sâu sắc nhận thức của Cao Bá Quát khi tiếp xúc với “vũ trụ bao la”. Vấn đề không mới nhưng đã giúp có cái nhìn toàn diện hơn về một bước chuyển quan trọng trong tư tưởng của Cao Bá Quát trong quá trình tự nhận thức – khám phá của ông.

Khó có thể bao quát hết được các tư liệu đã nghiên cứu về Cao Bá Quát cũng như những vấn đề các nhà nghiên cứu đã đặt ra và giải quyết. Chúng tôi cũng chỉ dám xem những điều nêu trên là có tính phác thảo về một bức tranh khá đa dạng của quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Cao Bá Quát từ sau Cách mạng tháng Tám. Chúng tôi có những nhận xét sơ bộ sau:

- Về tiểu sử - hành trạng Cao Bá Quát: thành quả đáng ghi nhận là càng về sau, theo thời gian, các nhà nghiên cứu, về cơ bản đã gạt bỏ được những tài liệu mang tính dã sử, giai thoại và đi sâu vào thơ văn Cao Bá Quát để tái hiện được tiểu sử - hành trạng của ông ở dạng đáng tin cậy trong tình hình tư liệu còn khá phức tạp về Cao Bá Quát.

- Về tư liệu thơ văn Cao Bá Quát: Một số lượng tác phẩm không nhiều so với những gì còn lại của Cao Bá Quát được giới thiệu rộng rãi, trong đó cũng còn có những tác phẩm bị nhầm lẫn của các tác giả khác, nhưng đã góp phần đặc biệt quan trọng cho việc nghiên cứu Cao Bá Quát khoa học hơn. 

- Về con người và nội dung thơ văn Cao Bá Quát: Có thể nói về cơ bản Cao Bá Quát đã được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ sử học, văn học, triết học, và ở mỗi bình diện đều có những đóng góp đáng ghi nhận, đã góp phần khẳng định được Cao Bá Quát - một nhân vật lịch sử kiệt xuất, một tài năng văn học lỗi lạc…


Tuy nhiên, với tầm vóc một Cao Bá Quát được khẳng định như vậy, rõ ràng những nghiên cứu về Cao Bá Quát vẫn còn là những nghiên cứu có tính chất bước đầu. Cần có nhiều công trình chuyên biệt hơn và trước hết vẫn là vấn đề sưu tầm, xử lý và công bố tư liệu thơ văn Cao Bá Quát, ít ra là phải xử lý và công bố được phần lớn trong số tác phẩm hiện có ở Viện Hán Nôm [14]. Riêng về phương diện văn học, theo chúng tôi, cần có những nghiên cứu sâu hơn trên cơ sở tư liệu thơ văn phong phú hơn, để xác lập vai trò của Cao Bá Quát trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc với tư cách là một tác gia có những đóng góp quan trọng trong tiến trình này. Đó cũng là những vấn đề chúng tôi quan tâm theo đuổi với mong ước có những đóng góp thiết thực trong việc nghiên cứu một trong những tác gia độc đáo nhất trong lịch sử văn học dân tộc.

RESEARCH ON CAO BA QUAT AFTER THE AUGUST REVOLUTION 1945

NGUYEN NGOC QUAN

After the August Revolution 1945, especially during the period 1954 – 1975, Cao Ba Quat became increasingly a major research subject. Based on new methodologies and viewpoints, research in the North made significant contribution to the research on Cao Ba Quat in the fields of history and literary history. They established a basically correct viewpoint on Cao Ba Quat, an outstangding personality and literary author.

Since 1975, besides some comprehensive textbooks of literary history, there have been some specific works on Cao Ba Quat which gave a general assessment and initiated further attempts to explore the life, ideas and the literary works of this great man.

However, for a fuller assessment of Cao Ba Quat, it is necessary that his poetry materials should be further processed and published.

 

CHÚ THÍCH

1. Nguyễn Ngọc Quận: Tình hình nghiên cứu về Cao Bá Quát trước Cách mạng tháng Tám, Tập san KHXH và NV, chuyên san Văn học, số 9/ 1999, Trường Đại học KHXH và NV TP. HCM, tr. 25 – 29.

2. Nguyễn Tường Phượng, Bùi Hữu Sủng: Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứ XIX, Trường Nguyễn Khuyến phát hành, H. 1951, tr, 42, 59 – 67.

3. Lam Giang: Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ, Tân Việt, Sg. 1959, tr. 25 – 32, 43 – 51.

4. Phạm Văn Sơn: Tìm hiểu thêm về Cao Chu Thần, Văn hoá nguyệt san, Sg. tập XV, số 4 và 5, tháng 11 và 12 – 1996, tr. 430.

5. Phạm Văn Sơn, sđd, tr. 432.

6. Bằng Phong, Nguyễn Duy Diễn: Cao Bá Quát, thân thế - văn chương luận đề, Sống mới, Sg. 1958, tr. 142, 143.

7. Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập II, Đồng Tháp tái bản, 1997, tr. 551 – 557.

8. Nguyễn Huệ Chi: Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát, Nghiên cứu văn học, H. số 6 – 1961, tr. 22 – 23.

9. Nguyễn Lộc: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, tập II, ĐH và THCN, H. 1978, tr. 349.

10. Nguyễn Tài Thư: Cao Bá Quát con người và tư tưởng, KHXH, H. 1980, tr.6.

11. Nguyễn Tài Thư, sđd, tr.7.

12. Trần Ngọc Vương: Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam (1995)

13. Trần Ngọc Vương: Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, Giáo dục, H. 1995, tr. 109.

14. N.I. Niculin: Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế, Giáo dục, 2000, tr. 343.


Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp