• Pic Mgmt

    MÃN NHÃN LÀNG CỔ TRĂM TUỔI NỨC TIẾNG XỨ THANH

    Làng Đông Sơn xưa thuộc xã Đông Giang, huyện Đông Sơn (Thanh Hoá), nay thuộc phường Hàm Rồng, TP Thanh Hoá. Đây là một làng cổ nổi tiếng không chỉ ở xứ Thanh. Địa danh Đông Sơn đã được nhiều nhà khoa học phương Tây biết đến từ thế kỷ trước...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    THOÁI HÓA KHỚP & CỘT SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

    ...Bệnh thoái hóa khớp và cột sống là bệnh mạn tính do thương tổn ở sụn của khớp và đĩa đệm của cột sống. Sụn và đĩa đệm bị xơ cứng, mỏng, mất tính đàn hồi, nhiều khi còn mọc thêm các gai xương. Sở dĩ có hiện tượng đó là do quá trình lão hóa của mô sụn. Thông thường, bệnh gặp ở người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả lứa tuổi trẻ hơn...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN CON ĐƯỜNG CỔ NHẤT THẾ GIỚI TẠI HÒA BÌNH

    Những vết mòn trên đá được lặp đi lặp lại một cách có hệ thống. Những vết mòn đó xuất hiện ở những nơi mà con người hiện đại chưa đặt chân tới. Những vết mòn nằm trong địa tầng văn hóa nguyên vẹn chưa bị xáo trộn của văn hóa Hoà Bình...

  • Pic Mgmt

    TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ...

    ...Năm 2005, Chi Hội Gia Phả-Hồi Ký được nâng lên thành Trung Tâm Nghiên Cứu và Thực Hành Gia Phả theo quyết định số 24/QĐ ngày 20/11/2005 của Hội Khoa Học Lịch Sử Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ngọc An được bổ nhiệm làm giám đốc...

  • Pic Mgmt

    ĐẶC ĐIỂM CỦA DÒNG HỌ NGƯỜI MẠ Ở LÂM ĐỒNG

    Người Mạ là dân tộc thiếu số bản địa ở tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn cư trú của người Mạ nằm trong vùng Trung và Thượng sông Đồng Nai (Đạ Đơng), trong đó tập trung đông nhất là ở thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Ngoài ra người Mạ còn cư trú ở một số huyện phía Nam Lâm Đồng như Đạ Huoai, Đạ Teh, Cát Tiên...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HỘP ĐỰNG XÁ LỊ ĐỨC PHẬT BẰNG VÀNG RÒNG Ở NGHỆ AN

    Từ khi phát hiện ra báu vật bằng vàng ròng có một không hai này, rất nhiều cao tăng trong và ngoài nước đã tìm đến dể chiêm bái với tấm lòng thành kính. Trong khi đó các phật tử đều rất muốn được 1 lần được nhìn thấy chiếc hộp quý này....

  • Pic Mgmt

    TRUNG Y HAY VIỆT Y

    ...Đây là bài kinh ba chữ cho các thầy thuốc Đông y học để biết được nguồn gốc, sự phát triển ban đầu của y học phương Đông. Tuy nhiên, vấn đề ít được các y sinh, y sư biết là những tác giả, những vị thần y khởi nguồn của y học phương Đông được bộ kinh này nhắc tới hóa ra đều là những người Việt...

  • Pic Mgmt

    ƯỚC MUỐN KHÔI PHỤC MỘT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

    Cuối tháng 10 năm 2012, ông Lê Đức Chắn, một chủ lán thuyền lớn ở thôn Cống Mương (phường Phong Hải, TX Quảng Yên) đến Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã nộp đơn xin công nhận làng nghề đóng tàu thuyền truyền thống phường Phong Hải...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN 3 BỘ XƯƠNG NGƯỜI VIỆT CỔ NIÊN ĐẠI 5000 NĂM TUỔI Ở HÀ TĨNH

    Ba bộ xương người Việt cổ nằm sát nhau trong ô đất ở núi Rú Điệp (Hà Tĩnh) rộng 6 m2, dưới lớp trầm tích độ sâu 1,8m. Hộp sọ, răng, xương sườn, xương tay, chân còn khá nguyên vẹn...

  • Pic Mgmt

    VỀ NHỮNG VỊ THẦN ĐƯỢC THỜ TRONG ĐÌNH TRUNG CẦN

    Đình Trung Cần, nay thuộc xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, Nghệ An, được xây dựng vào khoảng thời gian nào còn là một câu hỏi. Năm Tân Sửu (1781), theo đề xuất của hai cha con đều là Tiến sỹ của dòng họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần là Nguyễn Trọng Thường và Nguyễn Trọng Đương, nhân dân Trung Cần đã tiến hành trùng tu và nâng cấp đình lần thứ nhất...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT NGƯỜI LẠC VIỆT Ở QUẢNG TÂY

    ...Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Lí Nhĩ Chân cho biết Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt-tỉnh Quảng Tây phát hiện hơn một nghìn tự phì biểu ý của người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây và cho rằng người Lạc Việt cổ đã sáng tạo chữ viết bốn nghìn năm trước (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Sự phát hiện chữ Lạc Việt kỳ này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, vì văn hóa Lạc Việt là một trong những yếu tố trọng đại ở Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG: HỆ Ý THỨC ĐẦU TIÊN CỦA QUỐC GIA DÂN TỘC

    Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều cho rằng thời đại các vua Hùng và kế tiếp là An Dương Vương (khoảng giữa thiên niên kỷ thứ 2 đến thiên niên kỷ thứ 1 trước CN), mà cái nền vật chất của nó là văn minh Đông Sơn, là thời kỳ hình thành tộc người Việt cổ, những nền tảng của văn hóa truyền thống và hình thành quốc gia dân tộc đầu tiên: Văn Lang - Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

    Sự kỳ vĩ của các hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng (Cinet) – Không chỉ là 1 trong số 7 di sản văn hóa và thiên nhiên được thế giới công nhận tại Việt nam. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống hang động tuyệt đẹp với con sông ngầm dài nhất thế giới. Cách thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình khoảng 50 km, Vườn quốc gia Phong Nhà – Kẻ Bàng là một quần thể rừng và núi đá vôi rộng lớn có diện tích khoảng 200.000 ha...

Chi tiết

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Đăng lúc: 2014-03-27 21:08:58 - Đã xem: 3833


 


NGUYỄN NGỌC QUẬN *

www.hcmussh.edu.vn

 

Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến (1).


Giai đoạn 1945 – 1954 có lẽ do tình hình học thuật nói chung có phần thiếu ổn định, do những tác động chính trị xã hội bấy giờ nên việc nghiên cứu Cao Bá Quát, cũng như nhiều tác gia văn học khác, không có gì đáng kể. Về văn học sử cũng chỉ có vài công trình như Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) của Nghiêm Toản, Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứ XIX (1951) của Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng, trong đó công trình của Nghiêm Toản hầu như không nhắc gì đến Cao Bá Quát, còn Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng xếp Cao Bá Quát vào khuynh hướng hưởng lạc (2), với cách nhìn nhận không có gì mới so với một số nhận định có từ trước Cách mạng tháng Tám.


Giai đoạn 1954 – 1975, đất nước bị chia cắt, nhưng nhìn chung ở cả hai miền, sinh hoạt học thuật đều có bước ổn định và Cao Bá Quát lại được quan tâm nghiên cứu giới thiệu, ở miền Nam có phần sớm hơn.


Một trong những nguyên nhân ở miền Nam Cao Bá Quát được quan tâm sớm hơn, theo chúng tôi, vì ông là tác giả được giảng dạy ở bậc trung học và có trong chương trình thi tú tài. Từ sau 1955, gắn với yêu cầu trên, ở miền Nam hàng loạt những công trình khảo luận, luận đề về Cao Bá Quát phục vụ cho luyện thi tú tài ra đời, tiêu biểu như Luận đề về Cao Bá Quát (1957) của Nguyễn Duy Diễn, Cao Bá Quát, thân thế-văn chương luận đề (1958) của Bằng Phong và Nguyễn Duy Diễn, Khảo luận về Cao Bá Quát (1959) của Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử, Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ (1959) của Lam Giang, Khảo luận thi văn Cao Bá Quát (1959) Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ (1960) của Thuần Phong, Việt Nam văn học giảng bình (1970) của Phạm Văn Diêu…


Những bộ văn sử đáng chú ý của giai đoạn này như Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, quyển II, (1963) của Phạm Thế Ngũ, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng… cũng xét Cao Bá Quát như một tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. Đồng thời, đó là hàng loạt bài viết về Cao Bá Quát trên các tạp chí có tiếng đương thời như: Văn hoá nguyệt san, Bách khoa thời đại, Giáo dục phổ thông, Văn học, Nghệ thuật, Sáng tạo, … với các bài viết của các tác giả Nguyễn Đức Tiếu, Hồng Liên Lê Xuân Giáo, Phạm Văn Sơn, Phan Kim, Thái Bạch, Nguyễn Anh, Tương Huyền, Châu Hải Kỳ, Nguyễn Tử Quang,… Nhìn sơ bộ, có thể nói thư mục nghiên cứu về Cao Bá Quát trong giai đoạn này quả là dồi dào, nhưng đáng tiếc là những đóng góp thật sự về Cao Bá Quát cả về phương diện lịch sử lẫn văn học vẫn chưa có là bao.


Về phương diện tiểu sử - hành trạng Cao Bá Quát, các tác giả không cung cấp thêm gì mới. Điều đáng nói là hầu hết họ đều dựa vào cuốn Cao Bá Quát danh nhân truyện ký (1940) của Trúc Khê, một quyển danh nhân truyện ký có xu hướng tiểu sử hoá giai thoại, để làm căn cứ nhận định, đánh giá về Cao Bá Quát. Có người như Lam Giang đặt vấn đề rất nghiêm túc về việc phê phán tài liệu, nhưng trong tập khảo luận của mình, ông lại sử dụng rất nhiều giai thoại để xác định Cao Bá Quát là một “danh sĩ phong lưu”, một “cuồng sĩ” (3) v.v… Phạm Thế Ngũ trong bộ văn học sử của mình cũng không tránh được vết mòn này. Điều đó cũng phản ánh những hạn chế nhất định về quan điểm và phương pháp nghiên cứu. Phần lớn các tác giả vẫn chịu ảnh hưởng cách nhìn nhận về Cao Bá Quát có từ trước 1945, tách con người hành động và sáng tác thơ văn thành hai hiện tượng riêng biệt, như Phạm Văn Sơn quan niệm “văn thơ là một chuyện, hành động lại là một chuyện khác” (4) và gần như lặp lại nguyên ý tưởng của Lê Thanh từ năm 1940 trong bài Hậu tự  sau cuốn Cao Bá Quát danh nhân truyện ký của Trúc Khê. Phạm Văn Sơn viết tiếp: “Ông có làm loạn chăng nữa thì việc này chỉ là một việc nhỏ trong nhiều việc nhỏ khác mà thôi” (5). Các tác giả Bằng Phong và Nguyễn Duy Diễn cũng viết: “Tài của Cao Bá Quát, ai cũng nhận rằng có, nếu đứng về phạm vi từ chương nghệ thuật… Ấy thế mà vì nhìn nhầm cái tài từ chương văn nghệ, sang cái tài kinh bang tế thế, Cao Bá Quát đã thất bại thảm thương trong cuộc khởi nghĩa” (6)….Quan điểm và phương pháp tư tưởng như trên dẫn đến việc không chú ý đúng mức đến tính tư tưởng của văn thơ Cao Bá Quát và thực tế, các tác giả không tránh được cái nhìn phiến diện về thơ văn ông, cuộc đời ông.
 


Về văn chương, ai cũng nhất trí Cao Bá Quát là một nhà thơ tài năng, độc đáo, nhưng họ chủ yếu đi vào khía cạnh ngông nghênh, tài tử của Cao Bá Quát và dĩ nhiên, các giai thoại văn học về tài ứng đối chơi chữ của ông, lại được xem như những minh hoạ đắc địa. Tính phiến diện cũng thể hiện khá rõ ở sự lúng túng trong việc cố gắng xếp Cao Bá Quát vào một khuynh hướng nào đó: lý tưởng, tình cảm, hoặc kiêu hãnh, nhàn hạ, hưởng lạc, hoặc bi quan, yếm thế, …


Ở một số công trình, các tác giả cố gắng hướng đến một cái nhìn toàn diện nhưng thực ra cũng không tránh được sự lắp ghép từ những mảng, những mảnh rời vụn có tính chất bề ngoài, chẳng hạn như cách viết của Lam Giang mà chúng tôi đã nêu, hoặc như của Phạm Thế Ngũ khi nêu ra mấy khía cạnh tư tưởng Chu Thần qua di văn chữ Nôm: 1. Kiêu ngạo cố cùng; 2. Trào đời phẫn uất; 3. Lãng mạn thanh cao; 4. Hành lạc yếm thế (7). Cách tiếp cận của Phạm Thế Ngũ khá tiêu biểu cho hướng nghiên cứu thơ văn Cao Bá Quát thời kỳ này. Về cuộc đời, tư tưởng và hành động Cao Bá Quát, các tác giả đều tập trung lý giải, đánh giá con đường và tính chất của hành động chống triều đình của Cao Bá Quát. Hầu như ai cũng chú ý đến bối cảnh của thời đại Cao Bá Quát nhưng rất tiếc vẫn thiếu một quan điểm biện chứng lịch sử trong mối quan hệ giữa thơ văn với con người Cao Bá Quát để nhìn nhận đánh giá.

Chung quy có hai hướng nhận định chính: một là coi Cao Bá Quát là người có tài lỗi lạc đến mức ngông nghênh lại không được trọng dụng nên sinh ra chán nản, bực tức và “khởi loạn” (Hà Như Chi, Thái Bạch, Nguyễn Anh…); hai là coi Cao Bá Quát là một nhà cách mạng, coi cuộc dấy binh ở Mỹ Lương là khởi nghĩa (Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Duy Diễn, Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử, Lam Giang…). Cả hai hướng nhận định đều có phần bất cập. Hướng thứ hai có chú ý đến tư tưởng “cách mạng” qua ý thức “Giật mình khi ở xó nhà…” của Cao Bá Quát và lý tưởng “Nghiêu Thuấn”, “Võ Thang” của ông, nhưng lập luận còn thiếu thuyết phục, vì chưa quan tâm đúng mức; hoặc chưa có điều kiện để nghiên cứu có tính hệ thống nhân sinh quan tích cực của Cao Bá Quát dẫn đến hành động khởi nghĩa của ông. Thêm vào đó, cái nhìn của tác giả theo hướng này cũng thiếu tính lịch sử cụ thể, khi lý giải nguyên nhân các cuộc khởi nghĩa hoặc “dấy loạn” trong thời phong kiến.

Thực ra, khi đánh giá, chúng ta không thể bỏ qua những khó khăn thực sự, trước hết về mặt tư liệu rất phức tạp như mọi người đều biết, và cũng không nêu được nhiều công trình khảo luận, vì nó chỉ nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể là phổ biến kiến thức, luyện thi,…nên cũng không vượt quá được tính chất giảng bình, sơ lược. Dù vậy về tổng quan, có thể nói quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Cao Bá Quát ở miền Nam trước 1975, cũng có những đóng góp nhất định.

Vấn đề Cao Bá Quát được đặt ra liên tục và có tình thời sự. Về mặt tư liệu thơ văn Cao Bá Quát, ngoài những bản dịch có từ trước Cách mạng tháng Tám, một số tác giả các công trình khảo luận đã dịch và giới thiệu thêm những tác phẩm khác của ông. Về phương diện này, đáng kể có công trình Cao Chu Thần thi tập trích dịch (1971) của Sa Minh Tạ Thúc Khải - một công trình dịch thuật khá công phu, gồm 234 tác phẩm vừa văn xuôi, vừa thơ. Tiếc rằng vấn đề công tác văn bản không được dịch giả đặt ra nên công trình này chưa hoàn toàn đáp ứng sự mong đợi của độc giả. Dù sao, cơ sở tài liệu này đã hơn hẳn so với trước, tuy nhiên, sau Tạ Thúc Khải vẫn không có ai đặt vấn đề nghiên cứu về Cao Bá Quát nữa.

Ở miền Bắc, giai đoạn 1954 – 1975, cùng với công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1960), có thể nói bài viết của Nguyễn Huệ Chi – Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát (1961) đã đánh dấu một hướng nghiên cứu mới, trên quan điểm marxist, về Cao Bá Quát. Đó là sự khắc phục cái nhìn còn phiến diện có từ trước Cách mạng tháng Tám để trên quan điểm mới “xác định được mối liên hệ vốn rất chặt chẽ giữa thơ văn Cao Bá Quát và cuộc đời chìm nổi của ông”, để tìm hiểu “tư tưởng thống nhất đã chi phối các quá trình khác nhau của cuộc đời ông” (8). Quan điểm nghiên cứu này vừa khoa học vừa có ý thức tích cực trong việc thúc đẩy quá trình nghiên cứu, xử lý tư liệu thơ văn Cao Bá Quát. Điều đó thể hiện rõ qua các bài viết của Tảo Trang - Một số tài liệu về thơ văn Cao Bá Quát (1963), Chu ThiênCao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1963), Hoa BằngCao Bá Quát với cuộc khởi nghĩa chống triều Nguyễn (1969), Một vài tìm tòi về câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát và về bài thơ “Thú Hương Sơn” (1972). Vũ Khiêu- Đọc Cao Bá Quát nhân 160 năm ngày sinh của nhà thơ (1969), bài nói chuyện của Xuân Diệu - Đọc thơ Cao Bá Quát (1971) nhân dịp kỷ niệm 160 năm ngày sinh Cao Bá Quát và lần thứ 100 ngày sinh Trần Tế Xương…

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã rất thận trọng trong việc sử dụng tư liệu thơ văn Cao Bá Quát, nhất là đối với các giai thoại, và xuất phát từ thơ văn Cao Bá Quát, mặc dù khó tránh khỏi vài trường hợp còn vướng mắc, để tìm hiểu nhiều khía cạnh tâm hồn, tư tưởng của Cao Bá Quát, khẳng định sự nổi dậy của Cao Bá Quát là “cuộc khởi nghĩa trăm phần trăm” (Hoa Bằng). Có thể nói, lần đầu tiên Cao Bá Quát được nhìn nhận đúng tầm vóc với tư cách là một nhân vật lịch sử, và lần đầu tiên được hiện diện chân thực, sinh động là một con người “thành thật trong cuộc đời”, “biết yêu, biết ghét đúng mức” (Nguyễn Huệ Chi), là con người “chí khí và tâm huyết” (Xuân Diệu), là nhà thơ có quan niệm văn học đúng đắn và có những đóng góp mới mẻ trong lịch sử văn học dân tộc.  

Năm 1970, đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu, xử lý và công bố tư liệu thơ văn Cao Bá Quát với công trình Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, gồm 156 bài, một công trình tập thể, được biên dịch công phu cùng với lời giới thiệu 40 trang của Vũ Khiêu đánh giá cao Cao Bá Quát trên nhiều phương diện. Giáo sư Nguyễn Lộc xác định: “Chính nhờ giới thiệu rộng rãi thơ chữ Hán của Cao Bá Quát như thế, nên việc đánh giá nhà thơ trong giới nghiên cứu cũng như đông đảo công chúng mới ngày càng được chính xác…” (9). Sáu năm sau, quyển sách được tái bản có bổ sung với số lượng in 20.100 cuốn cũng cho thấy điều đó, dù đây cũng chỉ là công trình bước đầu về tư liệu thơ văn Cao Bá Quát.


Từ sau 1975, trong điều kiện nước nhà thống nhất, Cao Bá Quát được nghiên cứu có quy mô hơn, nhất quán về quan điểm và phương pháp nghiên cứu đã được gợi mở ở miền Bắc trước đó. Những công trình văn học sử cũng có những bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu có tính toàn diện về Cao Bá Quát, tiêu biểu như công trình văn học sử của tập thể tác giả Trường Đại học Sư phạm (1978), của Nguyễn Lộc (1978), của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1980)… Điểm chung ở các công trình văn học sử này là tác giả đã tiếp tục hướng nghiên cứu có từ trước, tiêu biểu là bài viết của Nguyễn Huệ Chi (1961) và lời giới thiệu của Vũ Khiêu trong tập Thơ chữ Hán Cao Bá Quát (1970), đã đi sâu thêm vào những khía cạnh phong phú của con người và thơ văn Cao Bá Quát. Đặc biệt là Nguyễn Lộc đã dành một số trang thích đáng, trong khuôn khổ của một công trình lịch sử văn học, để nghiên cứu về nghệ thuật thơ của Cao Bá Quát một cách có hệ thống từ quan niệm văn học đến những đặc điểm về phong cách nghệ thuật của ông. Đây là đóng góp mới xét trong lịch sử nghiên cứu Cao Bá Quát đến lúc đó.

Về công trình chuyên biệt, không kể tác phẩm Cao Bá Quát (1982) của Nguyễn Nghiệp - một tác phẩm danh nhân truyện ký, nhưng có nhiều đóng góp vì được viết nghiêm túc. Đáng kể, có công trình Cao Bá Quát, con người và tư tưởng (1980) của Nguyễn Tài Thư. Là nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam, trong công trình này, Nguyễn Tài Thư cũng giới hạn “chỉ nghiên cứu về con người và tư tưởng của Cao Bá Quát” (10). Nhưng nghiên cứu con người và tư tưởng Cao Bá Quát qua thơ văn, Nguyễn Tài Thư cũng đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử nghiên cứu Cao Bá Quát trên bình diện sử học, văn học, vì như ông cũng xác định “giải quyết được nó sẽ có điều kiện sáng tỏ những vấn đề khác của Cao Bá Quát” (11). Quan niệm phương pháp nghệ thuật của Cao Bá Quát có nguồn gốc ở phương pháp tư duy chung của ông, tác giả Nguyễn Tài Thư cũng đã chú trọng đi vào nghiên cứu đặc trưng thơ Cao Bá Quát trên bình diện phong cách tư tưởng, sắc thái tình cảm và ngôn ngữ hình tượng. Về phương diện tư tưởng, Nguyễn Tài Thư đã cố gắng xác lập đóng góp của Cao Bá Quát trong sự phát triển của lịch sử dân tộc, tập trung ở khía cạnh là nhà tư tưởng của phong trào nông dân, có quan niệm tiến bộ về lịch sử và nhân sinh …Nhiều vấn đề trong chuyên luận này có lẽ còn phải bàn luận thêm, nhưng nhìn chung, đặt Cao Bá Quát trong tiến trình lịch sử tư tưởng của dân tộc để xác định những nét riêng, những đóng góp mới của Cao Bá Quát là cách làm khoa học, có ý nghĩa phương pháp luận cho nghiên cứu toàn diện Cao Bá Quát.

Một công trình khác rất đáng chú ý dù không phải là công trình chuyên biệt về Cao Bá Quát, đó là công trình Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) của Trần Ngọc Vương. Một Cao Bá Quát – tài tử, đã được nói đến khá nhiều ở miền Nam trước 1975, nhưng với cái nhìn hời hợt, phiến diện. Trần Đình Hượu trước đó và Trần Ngọc Vương trong công trình này đã xác lập được cái nhìn khoa học trên cơ sở khảo sát các tác giả, trong đó có Cao Bá Quát, để nêu ra những đặc trưng có tính đến loại hình của một kiểu tác giả giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Từ góc nhìn này, Trần Ngọc Vương đã ghi nhận “Nguyễn Du và Cao Bá Quát có lẽ là hai tác giả tiêu biểu nhất” cho loại hình nhà Nho “coi tài năng, trước hết là tài năng văn học, là thước đo quan trọng” (12) và họ “chỉ có thể lưu lại tên tuổi mình như và chỉ như những nhà thơ xuất sắc” (13). Đây là hướng tiếp cận đầy triển vọng cho phép đi sâu hơn vào việc nghiên cứu Cao Bá Quát trên nhiều bình diện mà trước hết là một Cao Bá Quát với tư cách là một tác gia văn học có tính tiêu biểu cho một loại hình, một khuynh hướng văn học đặc sắc trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại.

Cao Bá Quát còn được các nhà nghiên cứu ngoài nước quan tâm. Trong bộ Văn học Việt Nam – Sơ thảo (1971), nhà Việt Nam học người Nga N. I. Niculin đánh giá rất cao Cao Bá Quát và xác định một nét đáng chú ý của Cao Bá Quát và coi “Cao Bá Quát (1809 – 1855) là một nhân vật có tính chất tượng trưng thực sự đứng giữa ngưỡng cửa một giai đoạn mới trong lịch sử Việt Nam” (14).

Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp trong Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và nhận thức của ông qua chuyến đi công cán “Vùng Hạ Châu” (1996, 1997) đã sử dụng thêm 7 bản dịch mới, do Cao Bá Quát làm trong khi đi “Dương trình hiệu lực” (Phan Đại Doãn dịch) cùng những bài dịch đã phổ biến để tìm hiểu khá sâu sắc nhận thức của Cao Bá Quát khi tiếp xúc với “vũ trụ bao la”. Vấn đề không mới nhưng đã giúp có cái nhìn toàn diện hơn về một bước chuyển quan trọng trong tư tưởng của Cao Bá Quát trong quá trình tự nhận thức – khám phá của ông.

Khó có thể bao quát hết được các tư liệu đã nghiên cứu về Cao Bá Quát cũng như những vấn đề các nhà nghiên cứu đã đặt ra và giải quyết. Chúng tôi cũng chỉ dám xem những điều nêu trên là có tính phác thảo về một bức tranh khá đa dạng của quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Cao Bá Quát từ sau Cách mạng tháng Tám. Chúng tôi có những nhận xét sơ bộ sau:

- Về tiểu sử - hành trạng Cao Bá Quát: thành quả đáng ghi nhận là càng về sau, theo thời gian, các nhà nghiên cứu, về cơ bản đã gạt bỏ được những tài liệu mang tính dã sử, giai thoại và đi sâu vào thơ văn Cao Bá Quát để tái hiện được tiểu sử - hành trạng của ông ở dạng đáng tin cậy trong tình hình tư liệu còn khá phức tạp về Cao Bá Quát.

- Về tư liệu thơ văn Cao Bá Quát: Một số lượng tác phẩm không nhiều so với những gì còn lại của Cao Bá Quát được giới thiệu rộng rãi, trong đó cũng còn có những tác phẩm bị nhầm lẫn của các tác giả khác, nhưng đã góp phần đặc biệt quan trọng cho việc nghiên cứu Cao Bá Quát khoa học hơn. 

- Về con người và nội dung thơ văn Cao Bá Quát: Có thể nói về cơ bản Cao Bá Quát đã được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ sử học, văn học, triết học, và ở mỗi bình diện đều có những đóng góp đáng ghi nhận, đã góp phần khẳng định được Cao Bá Quát - một nhân vật lịch sử kiệt xuất, một tài năng văn học lỗi lạc…


Tuy nhiên, với tầm vóc một Cao Bá Quát được khẳng định như vậy, rõ ràng những nghiên cứu về Cao Bá Quát vẫn còn là những nghiên cứu có tính chất bước đầu. Cần có nhiều công trình chuyên biệt hơn và trước hết vẫn là vấn đề sưu tầm, xử lý và công bố tư liệu thơ văn Cao Bá Quát, ít ra là phải xử lý và công bố được phần lớn trong số tác phẩm hiện có ở Viện Hán Nôm [14]. Riêng về phương diện văn học, theo chúng tôi, cần có những nghiên cứu sâu hơn trên cơ sở tư liệu thơ văn phong phú hơn, để xác lập vai trò của Cao Bá Quát trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc với tư cách là một tác gia có những đóng góp quan trọng trong tiến trình này. Đó cũng là những vấn đề chúng tôi quan tâm theo đuổi với mong ước có những đóng góp thiết thực trong việc nghiên cứu một trong những tác gia độc đáo nhất trong lịch sử văn học dân tộc.

RESEARCH ON CAO BA QUAT AFTER THE AUGUST REVOLUTION 1945

NGUYEN NGOC QUAN

After the August Revolution 1945, especially during the period 1954 – 1975, Cao Ba Quat became increasingly a major research subject. Based on new methodologies and viewpoints, research in the North made significant contribution to the research on Cao Ba Quat in the fields of history and literary history. They established a basically correct viewpoint on Cao Ba Quat, an outstangding personality and literary author.

Since 1975, besides some comprehensive textbooks of literary history, there have been some specific works on Cao Ba Quat which gave a general assessment and initiated further attempts to explore the life, ideas and the literary works of this great man.

However, for a fuller assessment of Cao Ba Quat, it is necessary that his poetry materials should be further processed and published.

 

CHÚ THÍCH

1. Nguyễn Ngọc Quận: Tình hình nghiên cứu về Cao Bá Quát trước Cách mạng tháng Tám, Tập san KHXH và NV, chuyên san Văn học, số 9/ 1999, Trường Đại học KHXH và NV TP. HCM, tr. 25 – 29.

2. Nguyễn Tường Phượng, Bùi Hữu Sủng: Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứ XIX, Trường Nguyễn Khuyến phát hành, H. 1951, tr, 42, 59 – 67.

3. Lam Giang: Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ, Tân Việt, Sg. 1959, tr. 25 – 32, 43 – 51.

4. Phạm Văn Sơn: Tìm hiểu thêm về Cao Chu Thần, Văn hoá nguyệt san, Sg. tập XV, số 4 và 5, tháng 11 và 12 – 1996, tr. 430.

5. Phạm Văn Sơn, sđd, tr. 432.

6. Bằng Phong, Nguyễn Duy Diễn: Cao Bá Quát, thân thế - văn chương luận đề, Sống mới, Sg. 1958, tr. 142, 143.

7. Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập II, Đồng Tháp tái bản, 1997, tr. 551 – 557.

8. Nguyễn Huệ Chi: Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát, Nghiên cứu văn học, H. số 6 – 1961, tr. 22 – 23.

9. Nguyễn Lộc: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, tập II, ĐH và THCN, H. 1978, tr. 349.

10. Nguyễn Tài Thư: Cao Bá Quát con người và tư tưởng, KHXH, H. 1980, tr.6.

11. Nguyễn Tài Thư, sđd, tr.7.

12. Trần Ngọc Vương: Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam (1995)

13. Trần Ngọc Vương: Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, Giáo dục, H. 1995, tr. 109.

14. N.I. Niculin: Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế, Giáo dục, 2000, tr. 343.


Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp