• Pic Mgmt

    GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

    Cây có gốc. Nước có nguồn. Chim tìm tổ. Người tìm tông. Cứ đến ngày 10/3 âm lịch hàng năm, người dân cả nước cùng hướng về Đất Tổ. Lễ hội đền Hùng đã trở thành ngày hội chung của toàn dân tộc, ngày mà mọi trái tim dù ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều hướng về vùng đất Cội nguồn - xã Hy Cương - Lâm Thao - Phú Thọ bởi nơi đây chính là điểm hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    THẦN TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI GIA ĐÌNH HÙNG VƯƠNG

    ...Dấu ấn về thời kỳ Hùng Vương đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ và các ngành khoa học khác chứng minh; và cũng được phản ánh sâu đậm qua nguồn tài liệu ngọc phả, thần phả, phả lục, cổ lục… mà theo thuật ngữ chuyên môn gọi chung là thần tích. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 568 tập thần tích mang ký hiệu AE ghi chép về sự tích các thần và việc thờ cúng các thần ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ (2)

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi mắt cuốn sách “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ” và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    DIỆN TÍCH NƯỚC VIỆT CỔ LỚN GẤP 10 LẦN NGÀY NAY

    Vùng đất phía Bắc của người Bách Việt từng lên đến tận phía Nam sông Dương Tử (hay Trường Giang), tới khu vực Hồ Động Đình (tức tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay). Việc này không chỉ được ghi nhận lại trong các truyền thuyết mà còn nằm trong những chứng tích của lịch sử...

  • Pic Mgmt

    DANH NHÂN TRƯƠNG HÁN SIÊU

    Trương Hán Siêu quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên (nay là phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình). Trương Hán Siêu xuất thân là môn khách của Trần Quốc Tuấn, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm. Ông tham dự cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba. Năm 1308, ông được vua Trần Anh Tông bổ Hàn lâm học sĩ. Đời Trần Minh Tông giữ chức Hành khiển...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP...

    Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 …

  • Pic Mgmt

    VIỆT TỘC CÓ CHỮ VIẾT KHÔNG ?

    ...Việt tộc có một nền văn hóa cao như khảo cổ đã chứng minh, nhưng con cháu chưa bao giờ thấy chữ viết của cha ông để lại, mặc dù cổ sử Trung Quốc chép nước Việt Thường dâng Đế Nghiêu (2358 TCN) một con rùa 1000 năm, trên mai có chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) kể lại sự tạo thiên lập địa trở về sau và viết sách để lại cho thế hệ con cháu trong tiến trình dựng nước và giữ nước...

  • Pic Mgmt

    LÀNG CA TRÙ LỖ KHÊ

    ...Người ta vẫn nhắc đến ngôi làng ca trù Lỗ khê là đất tổ ca trù của vùng châu thổ sông Hồng tính đến nay đã được 600 năm tuổi. Cũng như bao làng quê Việt nam khác, Lỗ Khê là một ngôi làng nhỏ ngoại thành Hà Nội, cuộc sống của người dân ở đây kiếm sống bằng nghề nông và có vài ba nghề phụ. Nhưng có một nghề ở đây mà dân trong làng từ đời tổ tiên đã kiếm sống bằng nghề này đó là nghề hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    TIẾNG VIỆT TRONG ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN VÀ PHƯƠNG PHÁP DIỄN TẤU ĐÀN BẦU

    Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật có âm hưởng biểu đạt cảm xúc, trong đó tác phẩm khí nhạc dân tộc được biến hóa thông qua diễn tấu của người nghệ nhân, nghệ sĩ nhằm biểu đạt hàm ý và phong thái của tác phẩm, truyền đạt nội dung, cái đẹp của nghệ thuật. Trong nghệ thuật diễn tấu, các cách thức và phương pháp biểu hiện khác nhau sẽ tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật khác nhau. Một trong những điều quan trọng nhất chính là bất luận âm hưởng phát ra từ diễn tấu hay diễn xướng,...

  • Pic Mgmt

    KỲ DIỆU BÀI THUỐC NAM CHỮA KHỎI UNG THƯ GAN

    Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

    Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    45 TẤM BẢN ĐỒ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ 10

    Khi truy cập trên mạng, tôi tìm thấy trang này nói về những tấm bản đồ cổ Việt Nam, từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Xin chia sẻ cùng bạn đọc gần xa...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    CAO BÁ NGHIỆP: Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung...

  • Pic Mgmt

    KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

    Cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây Bắc, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Đây là một di tích lịch sử quốc gia cấp từ năm 1962. Năm 2013, khu di tích này được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG HANG ĐỘNG "MADE IN VIETNAM" KHÔNG KÉM HANG SƠN ĐOÒNG

    Động Hương Tích, Thạch Động... là những hang động mang trên mình vẻ đẹp kỳ vĩ, không kém hang Sơn Đoòng bao xa. Mới đây, New York Times đăng tải bài viết của tác giả David W.Lloyd ca ngợi vẻ đẹp của hang động Sơn Đoòng. Khi ghé thăm hang Sơn Đoòng, David W.Lloyd đã phải thốt lên rằng, những ngày khám phá Sơn Đoòng là chuỗi thời gian phiêu lưu thú vị nhất trong cuộc đời ông...

Chi tiết

THỬ TÌM HIỂU NĂM SINH, NĂM MẤT CỦA CAO BÁ QUÁT

Đăng lúc: 2014-03-27 21:54:43 - Đã xem: 4974

Sau vụ khởi nghĩa ở Mỹ Lương vào năm 1854, Cao Bá Quát đối với triều Nguyễn là một nghịch thần. Cả dòng họ ông bị quan lại săn đuổi, truy lùng để tiêu diệt. Văn thơ ông bị thiêu hủy và cấm tàng trữ. Những người trong dòng họ muốn sống còn, phải đổi tên, cải họ và đổi vùng sinh hoạt. Phải chờ một thời gian khá lâu, hoặc một cơ hội thuận tiện, có khi đến lúc qua đời mới trở về họ Cao.

 
                                           (nghĩa quân)


Gần đây, người viết có bắt liên lạc với một người ở Long An, nhận mình là dòng họ, cháu chắt của Cao Bá Quát. Anh này cho biết hiện nay anh đang mang họ Trần. Ba anh dặn dò khi qua đời, tất cả bia mộ đều đề họ Cao. Nội tổ của anh cũng đã từng di chúc như vậy với ba của anh. Chúng tôi đang tiếp tục tìm hiểu thêm về nhánh họ Cao này. Như vậy việc nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp, văn thơ của Cao Bá Quát từ trước đến nay là một điều không dễ dàng.


                   (nghĩa quân)


1. Năm Sinh Của Cao Bá Quát:


Trước đây, các nhà khảo cứu văn học không biết ông sinh năm nào. Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, tác giả Phạm Thế Ngũ, chú thích 8, trang 437 “Cứ theo tung tích và sự liên lạc với người đương thời, người ta đoán Cao Bá Quát sinh vào khoảng từ 1800 đến 1803. Nguyễn Siêu người bạn ông mến phục, sinh năm 1799, Phạm Văn Nghị, người vẫn coi ông là bậc đàn anh, sinh năm 1805” (1). Tủ Sách Đại Học Sư Phạm, Lịch Sử Văn Học Việt Nam, tập 3, tác giả Lê Trí Viễn mở đầu chương III, với dấu hỏi không rõ ông sinh năm nào “CAO BÁ QUÁT (? - 1855)” (2). Trong tập biên khảo “Lối Xưa Xe Ngựa” của Nguyễn Thị Chân Quỳnh không biết căn cứ vào tư liệu nào bà xác định Cao Bá Quát sinh năm 1808 : “Đầu thế kỷ 19, Cao Bá Quát (1808 – 54/55) khi đi sứ Tân-Gia-Ba có dịp mở rộng tầm mắt...” (3)









                               (vệ binh)


Ngày nay đa số những người viết tiểu sử của ông, tạm thời chấp nhận sự phát hiện của nhóm nghiên cứu Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Trác, Hoàng Hữu Viên, Hoàng Tạo..., qua tập THƠ VĂN CAO BÁ QUÁT; năm sinh của Cao Bá Quát là 1809. Trong phần “Lời giới thiệu” của Vũ Khiêu: [Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên.] Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội).

Sử sách triều Nguyễn không ghi ngày sinh của ông. Khẳng định ông sinh năm 1809 là căn cứ vào bài “Thiên cư thuyết” của ông. Trong bài có chỗ viết: "Với cái tuổi ta mới hai kỷ mà núi sông thành quách cũ, đã thấy thay đổi đến ba lần”. Cuối bài ghi: “Tháng mạnh thu, năm Nhâm Thìn, Chu thần thị viết bài thuyết này”. Năm Nhâm Thìn tức là năm 1832 - nếu ông đủ hai kỷ tức 24 tuổi (tính theo âm lịch) thì tức là ông sinh năm Kỷ Tỵ, Gia Long thứ 8 (1809)] (4). Người viết lưu ý, để dễ nhớ, chỉ cần làm bài toán đơn giản: 1832 – 23 = 1809 (24 tuổi ta = 23 tuổi tây). (*)


                                (mã binh)


2. Năm mất Của Cao Bá Quát:


Cũng trong phần “Lời giới thiệu” của Vũ Khiêu (5): “Giữa năm 1853 (Tự Đức năm thứ 7), ông xin thôi dạy, lấy cớ về nuôi mẹ già. Năm ấy tại miền Bắc, vào tháng 6, tháng 7, châu chấu bay mù trời, lúa má bị chúng cắn sạch, nạn đói hoành hành, mọi người ta thán. Cao Bá Quát đã đứng lên tụ tập nhân dân bí mật một cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội”. Vũ Khiêu không xác quyết năm qua đời của Cao Bá Quát.


                             (quan lại)


Tác giả Phạm Thế Ngũ (6), trong sách nêu trên, cho rằng Cao Bá Quát mất năm 1854: “Năm 1854, ông phải thiên ra làm Giáo thụ Quốc Oai (một phủ ở biên giới tỉnh Sơn Tây). Chán nản phẫn uất với triều đình, ông mới mưu phản, giao thiệp với đầu mục đảng kín là Nguyễn Kim Thanh, phù Lê Duy Cự làm minh chủ,và tháng 10 năm ấy, khởi nghĩa ở Mỹ Lương. Nghĩa quân bị quân triều phá tan. Cao Bá Quát bị bắt, đưa về nguyên quán chịu án xử chém, với hai con là Bá Phùng, Bá Thông”. Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh, trong tác phẩm đã nêu trên, lưỡng lự về năm qua đời của Cao Bá Quát, nên đã viết nước đôi 54/55 (7). Trong tập “Thơ Cao Bá Quát” (8), tác giả Kiều Văn cũng ghi năm mất của Cao Bá Quát là 1854.


                    (thái giám)


Sự thực, Cao Bá Quát mất vào tháng chạp năm giáp dần “Tháng 12, phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận phát hết đảng giặc ở núi An Sơn; Cao Bá Quát thua rồi chết, quân Triều bắt sống được tướng giặc và đảng giặc đem về” (9). Căn cứ vào sử liệu của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn “Cao Bá Quát thua rồi chết” thì chứng tỏ ông đã đánh nhau với quân triều đình, thua trận và chết tại trận tiền, chứ không phải bị bắt rồi bị xử án chém. Sở dĩ có sự nhầm lẫn về năm dương lịch xảy ra là vì khi nói đến năm giáp dần, thì đổi qua dương lịch là năm 1854, năm ất mão là 1855. Các vị ấy quên rằng tháng chạp, năm giáp dần chuyển qua dương lịch như sau:

         - Ngày 01 tháng chạp, năm giáp dần nhằm ngày 18.01.1855.
         - Ngày 30 tháng chạp, năm giáp dần nhằm ngày 16.02.1855.

Như vậy nguyên tháng chạp, năm giáp dần rơi vào năm 1855 rồi. Cho nên, năm qua đời của Cao Bá Quát là năm 1855.


                             (một ông quan)


Nay các tài liệu lịch sử nói về Cao Bá Quát chưa phát hiện được nhiều. Hoàn cảnh của Cao Bá Quát cũng khá đặc biệt vì bị xếp vào loại nghịch thần, làm giặc nên thơ văn, sách vở nói về ông vào thời triều Nguyễn rất hạn chế. Nếu ai có điều kiện có thể tìm về nơi ông đã từng làm việc (viện Hàn Lâm), hoặc có thể tìm lại lý lịch của ông trong cuộc thi Hương vào thời nhà Nguyễn: “Mãi sau mới có định lệ kể từ khoa 1829 học trò ứng thi phải khai đủ tên họ, lý lịch ông cha ba đời trên mặt quyển. Lời khai phải được lý trưởng chứng nhận.” (10). Cao Bá Quát đậu Á nguyên (thứ nhì) tại trường thi Hà Nội vào năm 1831, khi quyển thi nộp về kinh bị bộ Lễ xếp xuống cuối bảng. Tại bô Lễ, còn tìm được dấu tích gì về quyển thi và lý lịch của ông?"


Trong khi chờ đợi những phát hiện mới về Cao Bá Quát, chúng ta có thể tạm chấp nhận năm sinh của ông là 1809 và năm qua đời là 1855.


Chú thích:

1. Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Cơ Sở XB ĐN, U.S.A., không đề năm, tr.437
2. Lịch sử Văn học Việt Nam, tập 3, NXB Giáo Dục, 1976, tr.297.
3. Nguyễn Thị Chân Quỳnh, "Lối Xưa Xe Ngựa, NXB An Tiêm, Paris, 1995, tr.34.
4. Thơ văn Cao Bá Quát, NXB Văn Học, Hà Nội - 1984, tr. 9.
5. Sđd, tr.39.
6. Phạm Thế Ngũ, Sđd., tr.438
7. Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Sđd, tr. 34
8. Thơ Cao Bá Quát, NXB Đồng Nai, 2000, tr.5.
9. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu, Quyển 5; chủ biên Cao Xuân Dục, Thế kỷ 20 (1908), tr.155. Việt Học Thư Quán – Nhóm bạn Lê Bắc, Doãn Vượng, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.
10. Nguyễn Thi Chân Quỳnh, Sđd, tr. 48.

* Tuổi ta: tính từ lúc thai nhi còn trong bụng mẹ, chờ ngày ra đời (9 tháng 10 ngày). Khi vừa ra đời, đứa bé được tính 1 tuổi.

Tuổi tây: tính từ lúc chào đời là 0 tuổi. (12 tháng sau mới tính 1 tuổi).
Nhưng hiện nay, tại các nước phương tây, ngành bảo hiểm nhân thọ (life insurance ), đa số các công ty tính tuổi trước sáu tháng, kể từ ngày sinh (khoảng 180 ngày). Có thể nói đông và tây đã gặp nhau 6 tháng tuổi.

Theo: anhvaem.vnweblogs.com/archives/4394/200803


Trần Công Nghị

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp