• Pic Mgmt

    Ả ĐÀO - NSND QUÁCH THỊ HỒ

    NSND Quách Thị Hồ (1913-2001) quê ở làng Ngọc Bộ, tỉnh Bắc Ninh.Sống và mất tại Hà Nội. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, bà đã được nuôi dưỡng bằng nghệ thuật Ả đào. Lên 6 tuổi, bà đã bắt đầu học đàn, học hát, học gõ phách, 9 tuổi học múa, 11 tuổi theo mẹ đi hát. Năm 1976, tiếng hát của bà được GS.TS. Trần Văn Khê ghi âm và giới thiệu ra thế giới. Năm 1978, bà chính thức được Hội đồng Âm nhạc quốc tế của Unesco và Viện nghiên cứu quốc tế về Âm nhạc trao bằng danh dự vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị văn hóa, nghệ thuật cao. Năm 1988, băng ghi âm tiếng hát của NSND Quách Thị Hồ đã được xếp hạng cao nhất tại Liên hoan Âm nhạc quốc tế tại Bình Nhưỡng (Triều Tiên) với sự tham gia của 29 quốc gia...

  • Pic Mgmt

    THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG (hết)

    Không có cái gọi là thời kỳ "Bắc thuộc lần thứ nhất". Việc lập 9 quận, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thuộc Hán chỉ là sự "đoạt khống" đất đai nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của nhà Hán mà thôi. Nhà Hán "đoạt khống" đất đai nước ta - Nếu nước ta thời Hùng Vương vẫn là một nước độc lập kéo dài cho đến năm 43, nghĩa là giai đoạn “Bắc thuộc lần thứ nhất” không tồn tại? - Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát...

  • Pic Mgmt

    NHO GIÁO LÀ CỦA VIỆT NAM, TẦU CHÍNH LÀ DÂN HỌC MƯỚN, VIẾT NHỜ

    Câu trên mới nghe ai cũng cho là kỳ lạ nhưng nó sẽ bớt tính cách kỳ lạ khi nói thêm rằng: Tàu chỉ là chủ của Nho giáo từ đời Tần Hán mà thôi, còn hai đợt trước thì chính chủ là Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    ĐẠI GIA VIỆT: "SỞ HỮU 10 MÁY BAY KHÔNG PHẢI CÁI GÌ GHÊ GỚM LẮM"

    ...Một lần, tôi cùng một số anh em thân thiết đi du lịch bên Thái Lan. Lần đầu tiên, họ được đi chơi bằng máy bay cá nhân, sau đó có người nói với tôi rằng đã được đi ăn uống, mua sắm đủ kiểu nhưng chưa lần nào được đi máy bay hay được ngồi trên ghế lái, cảm giác rất hứng thú. Từ câu nói này, tôi đã nảy sinh ý tưởng để thành lập Công ty Hành Tinh Xanh...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ DỊCH LÍ & CHỮ VUÔNG...

    …những bằng chứng cho thấy rằng chính người Lạc Việt đã sáng tạo nên hệ thống dịch lí và chữ vuông. Do hoàn cảnh lịch sử, câu chuyện ấy đã được kể lại hoặc là mơ hồ hoặc là dưới tên của dân tộc khác. Tuy nhiên, tổ tiên người Việt đã khéo léo cất dấu cái văn hóa huyền vĩ của mình dưới những cách thức khác nhau của ngôn ngữ…

  • Pic Mgmt

    KỶ NIỆM VỀ CHA

    ...Hồi trẻ, cha tôi học ở trường Bưởi, Hà Nội - niên khóa 1927-1931. Ngay từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã nổi tiếng là “thần đồng” thơ, có biệt tài “ứng khẩu thành thơ” và là người rất “hùng biện” nên mới được thầy & bạn đặt cho cái biệt hiệu là Thao Thao – với nghĩa là “thao thao bất tuyệt”!. Ông vốn là hậu duệ đời thứ tư của Thánh Quát mà!...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY CÔNG CỤ ĐỒ ĐÁ CÓ NIÊN ĐẠI TỪ 10.000-30.000 NĂM

    Nhiều công cụ đồ đá cũ thuộc văn hóa Sơn Vi, có niên đại cách đây từ 10.000 - 30.000 năm, đã được tìm thấy trong đợt khảo sát cổ học trên địa bàn các huyện Quản Bạ, Yên Minh thuộc cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang). Đây là bằng chứng cho thấy, người tiền sử có mặt rất sớm trên mảnh đất cao nguyên đá Đồng Văn...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

    Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Việt, các học giả Trung Quốc đã cố gắng phân loại các nhóm Việt khác nhau, thường dựa trên phép gọi tên của các học giả Hán cổ hơn. Ở phía Nam vùng Quảng Đông, Quảng Tây, vùng đất mà từ thời nhà Tần đã được gọi là Lĩnh Nam, người Hán đã xác định các nhóm với tên: Dương Việt, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang .v.v..

  • Pic Mgmt

    CÂU KIỀU TẶNG TỔNG THỐNG OBAMA

    Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Obama và bài phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong dư luận truyền thông quốc tế cũng như trong lòng người dân Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    VIETNAM"S GOT TALENT 2014

    ...Trong tập 6 “Vietnam's Got Talent 2014”, tiết mục tứ tấu đặc biệt của 4 chị em với ca khúc “Lý kéo chài” đã khiến nhiều người bất ngờ, thích thú. Sự kết hợp khéo léo giữa âm nhạc dân tộc và những âm điệu mạnh mẽ, hiện đại, nghệ thuật tạo beat bằng những chiếc cốc đã hoàn toàn thuyết phục các vị giám khảo lẫn khán giả theo dõi. Đặc biệt, Thành Lộc đã nhanh tay bấm nút vàng, đưa thẳng 4 chị em vào Bán kết mà không cần suy nghĩ quá nhiều...

  • Pic Mgmt

    KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “TỪ HÁN VIỆT”

    Trên trang mạng Bách Việt, ông Trần Kinh Nghị có bài “Di sản Hán Việt”*. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80% từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn ngữ khác lấn át và tình trạng lấn át kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa hoặc thoái hóa.” Kết thúc bài viết, ông đề nghị Nhà nước có biện pháp hạn chế việc dùng từ Hán Việt để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIÊN HƠN 700 DI VẬT KHẢO CỔ Ở TRUNG QUỐC

    Những ngôi mộ cổ này đã được phát hiện vào tháng 3/2011 sau khi những kẻ đào trộm mộ cổ đã để lại dấu vết. Những hiện vật tìm thấy có niên đại cách ngày nay khá xa, từ thời nhà Thương (triều đại phong kiến Trung Quốc giai đoạn từ 1766 – 1122 TCN) và triều đại nhà Chu (thời kỳ 1122 - 221). Người phụ trách bảo tàng Xiaoshan ở Hàng Châu, ông Shi Jianong cho hay, những hiện vật được tìm thấy từ 45 ngôi mộ cổ làm bằng đồ gốm, đồ sứ...

  • Pic Mgmt

    ĐẤT BÁCH VIỆT TRONG SỬ VIỆT VÀ TÀU

    Khi còn học Tiểu học, môn sử địa - người viết đã được dạy về Thừa tướng Lữ Gia và nước Nam Việt. Lúc đó chỉ hiểu đại khái Thừa tướng Lữ Gia vì không muốn nước Nam Việt bị nhà Hán chiếm, nên đã giết chết hai mẹ con Cù thị...

  • Pic Mgmt

    PHỤC HIỆN MỘT ĐIỆU MÚA CỔ GẦN 700 NĂM TUỔI

    TƯƠNG TRUYỀN ĐIỆU MÚA NÀY CÓ TỪ ĐỜI TRẦN NHƯNG TRONG CHÍNH SỬ THÌ CHƯA THẤY CÓ SÁCH NÀO GHI CHÉP LẠI CỤ THỂ...

  • Pic Mgmt

    CHÙA SỦI TỔ CHỨC KHÓA TU "TRÁI TIM TỪ BI" DÀNH CHO GIỚI TRẺ

    Ngày mùng 07 tháng 12 năm 2013 tức ngày 05/11 Quý Tỵ. Quý Thầy chùa Sủi – Đại Dương Sùng Phúc Tự, thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội tổ chức khóa tu “Trái tim từ bi” dành cho các bạn trẻ. Hòa Thượng Thích Thanh Từ từng dạy: "Tuổi trẻ các bạn thanh niên phần nhiều tâm hồn sôi nổi bồng bột, thiếu đức bình tĩnh, thiếu chí kiên nhẫn, các bạn cần phải siêng đi chùa hơn hết mới phải. Vì khung cảnh tịch tịnh của nhà chùa sẽ giúp các bạn mát dịu phần nào nhiệt khí, thấy gương nhẫn nại hy sinh của Phật, các bạn sẽ tăng thêm phần kiên chí...

Chi tiết

SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN-NÔM

Đăng lúc: 2014-03-29 13:58:46 - Đã xem: 1640


GS Trần Nghĩa, nguyên Việt trưởng Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm


1. Kho sách Hán Nôm của ta


Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng.


Ra đời chủ yếu từ 1945 trở về trước, kho thư tịch Hán Nôm bao gồm các sánh và tài liệu ghi bằng chữ Hán, Chữ Nôm, hoặc kết hợp cả Hán lẫn Nôm, trên giấy, trên vải,trên gỗ, trên đá, trên đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, gạch, ngói, phim, kính… Sách, khoảng 15000 cuốn, chia ra làm các loại: Hán, Nôm Hán - Nôm (Nếu lấy mặt chữ làm tiêu chuẩn); kinh, sử, tử, tập, phật, đạo, thần sắc, thần tích, thần phả, tộc phả, gia phả, tục lệ, địa bạ, địa chí, cổ chí, xã chí… (Nếu lấy nội dung làm tiêu chuẩn). Tài liệu còn nhiều hơn thế nữa, với trên 30.000 đơn vị, gồm phim, kính, ảnh, vi phim, bản rập lại các bài văn bản bản khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá, cột mốc, biến gỗ…


Số sách và tài liệu này đến tay chúng ta thật không dễ. Nó đã qua nhiều lần hao hớt, mất mát do bảo vệ, cất giữ chưa tốt cũng có, do chiến tranh huỷ hoại cũng có, đặc biệt là do kẻ thù tìm mọi cách đốt sạch, cướp sạch, phá sạch, nhằm phục vụ cho các ý đồ chính trị, văn hoá thâm hiểm của chúng. Lấy việc phong kiến Trung Quốc phá hoại sách vở của chúng ta làm thí dụ. Mọi người còn nhớ, hồi đầu thế kỉ XV, lúc Chu Năng, một viên tướng viễn chinh của Trung Quốc sắp mang quân vào xâm lược nước ta, chính quyền nhà Minh trong một mật dụ đề ngày 21-8-1406 từng ra lệnh: “Khi quân vào nước họ, trừ số ván khắc và sách in về đạo Phật, đạo lão ra, còn thì tất thảy sách vở, văn tự, kể cả những sách học thông thường kiểu “Thượng đại nhân, Khâu Ất Kỷ”(1) đều phải đốt sạch, dù là một mẩu giấy, một chữ viết. Trong nước họ, phàm những di tích lịch sử nào mà Trung Quốc có lập bia thì hãy giữ lại, còn nếu là bia do An Nam dựng lên thì phải phá huỷ cho kì hết, không để lại một mảnh nào”(2). ít lâu sau, nhận thấy mệnh lệnh trên đây chưa được chấp hành ráo riết, chính quyền nhà Minh lại gửi tiếp cho chân tay họ tại Đông Quan (Hà Nội) một mật dụ nữa đề ngày 16-5-1407, lời lẽ như sau: “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng tất thảy sách vở văn tự của An Nam, kể cả những sách học thông thường của trẻ con kiểu “Thượng đại nhân, Khâu ất Kỷ”, dù là một mẩu giấy, một chữ viết cùng những tấm bia do người địa phương dựng lên, hễ thấy thì phải phá hủy ngay, đừng để lại. Nay nghe nói trong quân đội mỗi khi thu được sách vở không những không ra lệnh đốt ngay, mà còn chọn để xem mà còn chọn để xem rồi sau đó mới đốt. Vả, quân lính phần đông không biết chữ, nếu ai ai cũng làm như vậy thì việc chuyển từ người này sang người khác sẽ để thất lạc đi nhiều. Các ngươi nay phải theo đúng tinh thần sắc dụ trước, ra lệnh cho quân lính bên ấy hễ gặp sách vở là đem đốt ngay không được lưu giữ”(3). Cần phải nói thêm là những chỉ thị thuộc loại tuyệt mật này về sau được lệnh thu hồi và trao lại cho Minh Thành Tổ, vì sợ nếu để rơi vào tay người bản xứ sẽ“ bất tiện” biết bao! Những sách vở, tài liệu nào còn sống sót qua cơn huỷ diệt này, lại tiếp tục bị một viên tướng viễn chinh khác của nhà Minh là Trương Phụ thu vét đưa về Kim Lăng (Nam Kinh)(4), thực hiện đến cùng điều mà bọn theo địa chủ bành trướng phương Bắc hằng tâm niệm: xoá cho bằng hết nền văn hiến của dân tộc ta.


Cũng may mà sau những lần sách vở gặp tai ách như vậy, nhân dân ta đã tìm mọi cách phục hồi. Lê Thánh Tông, đầu năm Quang Thuận (1460-1469), với cương vị một người đứng đầu một nước, đã ra lệnh tìm kiếm các cuốn sử tư nhân và các truyện kí cổ kim còn sót lại nộp lên cho ông xem. Khoảng đến năm Hồng đức (1470-1497), ông một lần nữa xuống chiếu sưu tầm những sách còn cất giữ trong dân gian đưa về kho Nhà nước. Vào dịp này, có người đem dâng những sách lạ, sách “bí truyền”, được ông hậu thưởng. Ngoài Lê Thánh Tông, một số nhà bác học, hiếu cổ khác như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Phan Phu Tiên, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Dương Bá Cung, Cao Xuân Dục… đều là những điển hình đáng ca ngợi về sự nỗ lực bảo vệ sưu tầm di sản thư tịch của ông cha. Nếu không có những khối óc lớn, những con tim nhiệt thành, những tầm nhìn xa rộng như thế thì ngày nay chúng ta biết lấy gì làm bằng chứng cho nền văn minh lâu đời của dân tộc, lấy gì để thuyết minh cho mấy nghìn năm văn hiến của dân tộc ta? Cái công chắt chiu, tích góp, gìn giữ sách Hán Nôm của người xưa từ đời này qua đời khác trước khi trao lại cho thế hệ chúng ta ở đây thật lớn lắm, sâu nặng lắm, nói sao cho hết được.


Bên cạnh công lao đóng góp của các cá nhân, sự đồ sộ về khối lượng và phong phú về chủng loại của di sản Hán Nôm còn gắn liền với sự có mặt của nhiều kho sách, nhiều công việc công cũng như tư trên đất nước ta từ thời Lý-Trần cho đến cuối triều Nguyễn. Chỉ riêng vài thế kỉ gần đây thôi, đã có những kho sách, thư viện công nổi tiếng như Tụ Khuê thư viện (thư viện Hoàng gia, lập đời Minh Mệnh), Sử quán thủ sách (lập vào đời Thiệu Trị), Tập Hiền viện (lập vào đời Tự Đức), Tàng thư lâu (lập vào đời Thành Thái), Nội các thủ sách, Tân thư thủ sách (lập vào đời Duy Tân), Cổ học viện thư tịch thủ sách (lập vào thời Khải Định), Thư viện Bảo Đại (1933- 1945). Thư viện tư nhân được nhiều người nhắc đến có Hoàng Lê tứ khố, Hoàng Nguyễn tứ khố, thư viện gia đình Lê Quý Đôn (Thái Bình), thư viện gia đình Nguyễn Mậu Kiến (Thái Bình), thư viện gia đình Cao Xuân Dục (Nghệ An)… Mỗi thư viện thực sự là một trung tâm thu hút và bảo quản sách vở Hán Nôm thời trước. Không những đồ sộ về khối lượng và phong phú về chủng loại, kho thư tịch Hán Nôm của ta còn đáng được chú ý bởi vị trí và tầm quan trọng của nó.


Chắc chắn nhiều ngành khoa học như triết học, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội học, pháp luật, quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, toán học, địa lí, sinh vật, y dược, vệ sinh, nông nghiệp, kiến trúc vv… sẽ phải dựa vào không ít vào kho sách Hán Nôm để dựng lại diện mạo một thời, trong đó có đối tượng nghiên cứu, thậm trí cả bản thân ngành nghiên cứu. Những ẩn số trong quá khứ dân tộc có thể sẽ được giải đáp một phần qua việc tìm đọc kho thư tịch Hán Nôm. Gần đây sảy ra đôi chuyện bất ngờ. Một số cuốn kinh Phật tưởng như ngày càng thu hẹp phạm vi sử dụng, thì nay, với phần “chú âm” và “thích nghĩa” của chúng, chúng đã trở thành cứ liệu quan trọng để nghiên cứu về chữ Nôm, về ngữ âm lịch sử… Một số sách phong thuỷ, bói toán mà dư luận yên trí đã quá thời, thì nay bỗng nhiên nhiều người lại tìm đọc, vì trong đó có những chỉ bảo thú vị cho công tác địa chất học, dân tộc học..Kho thư tịch Hán Nôm là nguồn tư liệu gốc mang tính tổng hợp đối với việc tìm hiểu lịch sử các mặt của dân tộc Việt Nam.


Chẳng những vậy, là hiện thân của văn hiến mấy nghìn năm, kho thư tịch Hán Nôm còn tàng trữ nhiều truyền thống tốt đẹp. Cân nhắc, với phương châm “kế thừa có chọn lọc, có phê phán, có sáng tạo”, nhằm phục vụ cho việc xây dựng nền văn minh tinh thần Việt Nam, xây dựng tư tưởng mới, văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


2. Tình hình sưu tầm, bảo vệ di sản Hán Nôm từ 1945 đến nay


Chính vì các đặc điểm làm nên giá trị kho sách Hán Nôm trên đây, mà đảng và nhà nước từ lâu đã quan tâm tới việc sưu tầm bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm, loại di vật dễ hư hỏng, dễ mất mát, trong khi không còn được sản xuất ra nữa. Sự quan tâm này thể hiện ngay từ hồi Đảng ta còn hoạt động bí mật. Trong bài Mấy nguyên tắc của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam hiện nay đăng trên báo Đảng năm 1944, đồng chí Trường Chinh viết: “những công trình và tác phẩm văn hóa của thời phong kiến Việt Nam để lại là vốn quý của dân tộc ta, chúng ta cần phải giữ gìn và nghiên cứu, để phát huy cái hay cái đẹp…”(5). Sau ngay giành được chính quyền, các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng… mỗi khi có dịp, đều nhắc tới nhiệm vụ sưu tầm, bảo vệ di sản văn hoá cha ông. Đồng chí Phạm Văn Đồng từng nói như sau trong Hội nghị văn hóa và thông tin vùng các dân tộc ít người năm 1977: “Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay hết sức coi trọng việc sưu tầm và phát huy truyền thống quý báu của nền văn hoá các dân tộc. Truyền thống và khả năng sáng tạo văn hóa của các đồng bào dân tộc về các mặt văn học, nghệ thuật, kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc, ngôn ngữ… không ngừng được sưu tầm, gìn giữ và phát huy đã góp phần làm cho nền văn hoá chung của cả nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng phong phú, tươi sáng và đẹp đẽ…”(6).


Đi đôi với sự chỉ đạo về mặt tư tưởng, là một số biện pháp về mặt tổ chức. Công tác sưu tầm, bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm được nhà nước lần lượt giao cho một số cơ quan chịu trách nhiệm. Khởi đầu là Bộ Văn hoá, với Chỉ thị số 117/TTg ngày 13-12-1963 của thủ tướng Chính phủ. Theo văn kiện thứ hai này, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam có trách nhiệm “thống nhất quản lý việc thu thập và giữ gìn các sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm trong cả nước”. Riêng về mặt sưu tầm, “Uỷ ban Khoa học xã hội có nhiệm vụ tổ chức thu thập về kho tất cả các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm hiện có trong các thư viện, các kho lưu trữ, các cơ quan vv… thuộc các nghành, các cấp, đồng thời kế hoặch từng bước sao chụp nguyên bản để cung cấp cho các cơ quan, thư viện có nhu cầu về tư liệu chữ Hán, chữ Nôm”. Đối với những tư liệu Hán Nôm còn rải rác trong nhân dân, Uỷ ban Khoa học xã hội với sự giúp đỡ tích cực của Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp tục sưu tầm, thu thập và quản lý”. Có thể “vận động nhân dân tặng hoặc bán các tư liệu đó cho Nhà nước, hoặc để Nhà nước sao chụp lại ”. Đối với số sách Hán Nôm hiện tản lạc ở ngoài, “Uỷ ban Khoa học xã hội cần có kế hoạch sưu tầm và thu thập” bằng cách “trao đổi hoặc sao chụp” những gì cần thiết cho ta…Cuối 1979, theo quyết định số 326/CP ngày 13-9-1979 của Hội đồng Chính phủ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập, và trở thành trung tâm sưu tầm, bảo vệ, chỉnh lý, khai thác các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm trong phạm vi cả nước. Lần đầu tiên kể từ sau 1945, công tác sưu tầm, bảo vệ thư tịch Hán Nôm được nhà nước chính thức giao cho một Viện Nghiên cứu chuyên ngành đảm trách.


Cho đến nay, qua nỗ lực nhiều năm của các cơ quan có trách nhiệm, công tác sưu tầm, bảo vệ thư tịch Hán Nôm đã thu được kết quả bước đầu.


Về mặt sưu tầm, chỉ tính riêng trong phạm vi Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, ngoài số sách Hán Nôm ngót nghét 10.000 cuốn do trường Viễn Đông bác cổ Pháp để lại, Viện Thông tin khoa học xã hội và Viện Nghiên cứu Hán Nôm bằng nhiều nguồn khác nhau- biếu, tặng, nhượng, mua, trao đổi, sao chép lại- đã bổ sung thêm được khoảng 5.000 cuốn nữa. Đóng góp nhiều nhất cho kho sách Hán Nôm trước đây thuộc Viện Thông tin khoa học xã hội và nay thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm, là thư viện Văn Miếu, Vụ bảo tồn bảo tàng, Sở Xuất nhập khẩu ngoại văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Ty Văn hóa Hà Đông… Một số nhà Hán Nôm học như cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Đặng Thai Mai, cụ Hoàng Xuân Hãn và một số người yêu ngành Hán Nôm, trong đó có gia đình và các nhà khoa bảng cũ, như cụ Vũ Văn Đối, cụ Trần Phương Tri, cụ Lê Hồng Thuận, cụ Vũ Tất Trực, cụ Song Tùng…đã hiến vào kho sách Hán Nôm không ít sách. Những năm gần đây, một số kiều bào ta ở nước ngoài thỉnh thoảng cũng gửi về tặng Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhiều tài liệu cổ có giá trị.


Di sản Hán Nôm còn sót lại trong nhân dân từng bước quy tụ về các kho Nhà nước, rồi lại từ các kho Nhà nước từng bước quy tụ về Viện Nghiên cứu Hán Nôm, được xem như trung tâm thống nhất quản lí hiện nay, đó là một sự di chuyển hợp lý, đáng khích lệ.


Về mặt gìn giữ, bảo quản, cũng đã có những cố gắng không nhỏ. Sách Hán Nôm ở Viện Thông tin Khoa học trước kia và Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay đều được đặt ở nơi cao ráo nhất, thoáng đãng nhất trong cơ quan. Việc chống bụi, chống ẩm, chống mốc, chống mối mọt thường xuyên được coi trọng. Vào những ngày máy bay Mỹ đánh phá trên miền Bắc nước ta, số sách Hán Nôm này được xếp vào hòm tôn hoặc túi nhựa để đưa đi sơ tán sớm nhất, trước nhất… Chưa bao giờ trong khâu bảo vệ, những người được giao nhiệm vụ không dành sự quan tâm nhiều nhất cho kho sách Hán Nôm.


Tuy nhiên, nhìn trên một phạm vi rộng rãi hơn, chưa kể đến công tác sưu tầm, bảo vệ thư tịch cổ những năm qua không có gì phải uốn nắn.


Sách không chân mà chạy. Mới thấy sách ở một địa phương nào đó, ít lâu sau trở lại đã thấy không còn. Sách mạnh ai nấy “sưu tầm”, dù họ không phải là người hoặc cơ quan có trách nhiệm. Sơn Tây một dạo thu thập được một số tài liệu về thời kì Hùng Vương, đã có cán bộ lấy danh nghĩa cơ quan Nhà nước đến mang về làm của riêng, một đơn vị quân đội, sau ngày miền Nam giải phóng (1975), đã trở toàn bộ số sách ở Hội Cổ học Huế ra Bắc, nay vẫn chưa rõ số phận mảng thư tịch này như thế nào(7). Tư tưởng địa phương cục bộ, tuỳ tiện đã gây trở ngại thực sự cho việc tập trung và công hữu hóa di sản Hán Nôm của toàn dân tộc. Và biết đâu đấy lại chẳng có những tác phẩm Hán Nôm thuộc loại quý Hiếm “quỷ dẫn đường ma đưa lối” đang tìm cách chạy ra nước ngoài…


Cũng có trường hợp tài liệu Hán Nôm bị mất mát, huỷ hoại bởi gia đình người có sách không ai đọc được và do đó rẻ rúng. Có kẻ dùng thậm chí còn đem sách Hán Nôm chôn theo người chết, hoặc dùng để phất quạt giấy, quạt thóc, trộn vôi vữa vv… ở vùng tây bắc, một số cơ quan văn hóa tịch thu các sách gọi là “mê tín dị đoan” viết bằng chữ Hán, chữ Nôm của các thầy cúng. Do thiếu ý thức bảo quản, hay đúng hơn, thiếu người có trình độ đọc được sách này, tài liệu thu về rốt cục để hỏng đi, thậm chí còn lôi ra đốt. Một số di vật “kim thạch” mang chữ Hán, chữ Nôm cũng chẳng may mắn gì hơn, khi người ta chỉ nhìn vào giá trị “kim thạch” trần trụi của chúng mà không quan tâm gì tới chữ nghĩa.


Phần lớn sách vở, tài liệu Hán Nôm của tư nhân, kể cả của các đền chùa, các nhà thờ họ, các hội tư văn cũ, do không có điều kiện bảo quản tốt, đã hư hao dần năm này qua năm khác do lũ lụt, ẩm mốc, mối mọt,và nhiều nguyên nhân khác.


3. Công việc trước mắt


Để khắc phục tình trạng trên, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ và sưu tầm theo tinh thần Quyết định số 311/CP của Hội đồng Chính phủ.


Số thư tịch hiện còn có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cố nhiên không ít, và đây là phần cơ bản nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong toàn bộ di sản Hán Nôm của ta. Thế nhưng, theo điều tra sơ bộ của chúng tôi, số sách và tài liệu Hán Nôm hiện chưa được sưu tầm vẫn còn nhiều.


Trong đồng bào Kinh (đặc biệt ở các vùng Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam Ninh, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Huế), số còn sót lại chủ yếu là thuộc loại văn bia, thần sắc, thần tích, thần phả, hương biên, hương phả, khế ước, gia phả, tộc phả, kinh phật…


Trong đồng bào dân tộc ít người (đáng chú ý là ở đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Mường, Dao. Cao Lan, Sán Chỉ, Sán Dìu ở Việt Bắc, Tây Bắc), số sách và tài liệu Hán Nôm còn sót lại chủ yếu thuộc các loại sử biên niên, truyện Nôm khuyết danh, tình ca (sli, lượn, phong slư), nghi lễ (quan lang, cò lẩu, văn than, ca cúng bái). Có nơi thậm trí còn giữ được cả “nửa bồ sách”, nhất là những gia đình trước có người từng là Thầy mo, thầy cúng, ông tào, ông bụt, ông then…


Ở một số cơ quan Nhà nước (Cục, Vụ, Viện, Sở, Phòng, Thư viện), số tài liệu còn giữ gồm châu bản, công văn, địa bạ, mộc bản, cùng một số bản chụp hoặc bản sao các sách đã có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thỉnh thoảng ở đây cũng có những bản sách quý.


Ở nước ngoài như Pháp, Trung Quốc, Nhật bản, Thái Lan…cũng tàng trữ một số sách Hán Nôm của ta hoặc liên quan với ta. Riêng tại Pháp, Thư viện Quốc gia Paris hiện giữ 64 sách Hán (có người nói 65 hoặc 120), 108 sách Nôm; Hiệp hội Châu Á với tủ sách Henri Maspéro để lại có 159 tên sách cả Hán lẫn Nôm chưa phân loại; trường Viễn Đông bác cổ Paris có hơn 100 tên sách Hán Nôm chưa lên kí hiệu; một phân hiệu Trường Đại học Dauphin có 19 tên sách toàn Nôm(8). Một số nơi khác cũng tại Pháp, như thư viện của Maurice Durand, nguyên Giám đốc trường Viễn Đông bác cổ Pháp tại Hà Nội; Bảo tàng Thiên chúa giáo, với tủ sách của linh mục L. Cadière để lại; Trường Quốc gia sinh ngữ Phương Đông; Kho lưu trữ; thư viện Bộ Ngoại giao; Thư viện Đại học Nice; Tủ sách cụ Hoàng Xuân Hãn; Tủ sách ông Xuân Phúc…, trên những chừng mực khác nhau, đều có sách Hán Nôm quý.


Đối với số sách và tài liệu Hán Nôm còn xót lại trong nhân dân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm có thể, trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu tư nhân, đặt vấn đề xin sao chụp lại. Nếu chủ sách vui lòng biếu, nhượng hoặc bán, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà có thể đền đáp thoả đáng. Cố nhiên, dù là sách tư nhân, vẫn nên quan niệm đây thuộc loại tài sản chung của toàn dân tộc, cần được bảo vệ tốt nhất và sử dụng một cách có ý nghĩa nhất. Để thúc đẩy công việc, cũng có thể tổ chức mạng lưới cộng tác viên ở các địa phương, gồm những cụ có trình độ Hán Nôm kết hợp với những cán bộ thông tin văn hoá trẻ, nhiệt tình. Họ sẽ là “tai mắt” quan trọng của chúng ta, là cộng tác viên đắc lực của chúng ta. Ai sưu tầm được sách lạ, sách quý, sẽ hậu thưởng. Ai tổ chức được các việc thống kê, hiến biếu, bán nhượng, sao chép… sẽ có thù lao cẩn thận. Họ cũng sẽ là lực lượng nòng cốt trong việc phát hiện các tấm bia còn sót lại, cùng với chính quyền địa phương tổ chức việc bảo vệ tốt các bia đó và tiến hành dập lại các bài văn khắc trên bia, nếu có điều kiện. Tên tuổi người sở hữu, kể cả người phát hiện, sưu tầm, cần được ghi lại để lưu truyền cùng di vật. Quyền sưu tầm nên ưu tiên dành cho cơ quan được Nhà nước giao trách nhiệm, hoặc các người được cơ quan này uỷ thác, chấm dứt tình trạng cá nhân mượn danh nghĩa cơ quan đi sưu tầm sách về làm của riêng cho mình.


Đối với số sách và tài liệu Hán Nôm hiện nằm rải rác trong cơ quan, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có thể, trên cơ sở tôn trọng nhu cầu nghiên cứu của cơ quan đó, đặt vấn đề xin tiếp nhận loại bản gốc, và cung cấp lại các bản chụp tương ứng, nếu phía trao sách thấy cần. Dù sao thì cũng không nên kéo dài hiện tượng cất giữ các nguyên bản Hán Nôm một cách tuỳ tiện, không theo chế độ quy định chung của nhà nước.


Đối với số sách Hán Nôm hiện tản lạc ở nước ngoài, cái chính là tìm cách để có được bản chụp. Trong điều kiện cho phép, thông qua con đường trao đổi tư liệu hoặc nhiều con đường khác, cũng có khả năng mang về được bản gốc.


Tóm lại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về nhiệm vụ sưu tầm, bảo vệ thư tịch Hán Nôm, và bằng mọi biện pháp, sớm đưa di sản Hán Nôm về một mối, vì lợi ích nghiên cứu, cũng như để có thể bảo quản được dài lâu. Đây là một công việc đầy khó khăn, tốn kém, nhưng nếu hiểu sự cấp thiết và tầm quan trọng của nó, nhất định chúng ta sẽ làm được.


CHÚ THÍCH

(1) Chỉ loại sách Tam tự kinh

(2) Việt kiệu thư, quyển II. Sách này do Lý Văn Phượng, người đời Minh soạn. Bài tựa sách đề năm 1540.
(3) Việt kiệu thư, Sđd.

(4) Nghệ văn chí tự. Xem Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn.

(5) Về văn hóa văn nghệ, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1976, tr. 141.

(6) Báo Nhân dân, số ra ngày 6-12-1977.

(7) Xem Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, các trang 36, 49, 66.

(8) Theo tài liệu do Phạm Văn Thắm cung cấp.


Nguồn: http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/8401.htm

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp