• Pic Mgmt

    ĐỀN THỜ CAO LỖ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ...Năm 1954, trong số những người Bắc di cư vào Nam, có một số bà con người làng Đại Than, thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh đã đến sinh sống và lập nghiệp tại khu vực chùa Giác Hạnh ngày nay. Năm 1957, do nhu cầu tâm linh nên những người con xa xứ của làng Đại Than ở đây đã cùng nhau góp công sức xây dựng một ngôi đền THỜ CAO LỖ trong khu vực chùa GIÁC HẠNH tại số nhà 51 đường Ông Ích Khiêm, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận được tin trên, tôi đã gửi ngay E-mail báo cho Ban Liên Lạc Họ Cao Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    HOÀNG THÁI HẬU Ỷ LAN...

    Hoàng Thái hậu Ỷ Lan - triều Lý - là một nhân vật lịch sử, một nhà Phật học nổi tiếng của Việt Nam. Tên tuổi cũng như cuộc đời bà gắn chặt với sự nghiệp của hai vị vua anh kiệt là Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần...

  • Pic Mgmt

    PHÚ THỊ - LÀNG CỔ, LÀNG KHOA BẢNG

    "Chung lưng đất Sủi ai bì Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh" (Kinh Bắc phong thổ kí diễn quốc sự) Làng Phú Thị, tên Nôm là làng Sủi, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, đầu thời Nguyễn thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Theo các nhà nghiên cứu thì Sủi có gốc từ âm Việt cổ "Slủi" hay "Tlủi", sau này phiên âm ra chữ Hán là Thổ Lỗi...

  • Pic Mgmt

    HỌ DƯƠNG TẠI CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

    Đây lần thứ hai, Hội đồng họ Dương (HĐHD) tại Cộng hòa Liên bang Đức tỗ chức Lễ giỗ Tổ vào ngày 05.10 vừa qua. Không biết có phải vì có duyên hay không, mà với tôi, đây cũng là lần thứ hai được tham dự, dù không mang họ Dương. Để rồi sau đó, lòng cứ băn khoăn về một câu hỏi, do đâu, mà ở một nơi xa quê cha đất Tổ như thế, có một dòng tộc vẫn giữ được một sinh hoạt đậm phong vị Việt...

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS VŨ KHIÊU...

    Đại hội chúng ta mang một ý nghĩa rất lớn. Có thể nói đây là Đại hội đại đoàn kết và đông đảo nhất của dòng họ chúng ta từ 12 thế kỉ. Ba ngàn đại biểu không chỉ tới đây với sự hào hứng của mình mà còn mang theo nhiệt tình của gần 8 triệu bà con trong toàn quốc. Nhiệt tình ấy thể hiện lòng biết ơn và ngưỡng mộ công đức của Thủy tổ chúng ta đồng thời cũng nói lên nguyện vọng sâu xa được học tập và noi theo những phẩm chất tốt đẹp của Thủy tổ và các thế hệ tiên tổ của chúng ta qua chiều dài lịch sử...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị! Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 6, ngày 07 tháng 9 năm 2015...

  • Pic Mgmt

    TRUNG Y HAY VIỆT Y

    ...Đây là bài kinh ba chữ cho các thầy thuốc Đông y học để biết được nguồn gốc, sự phát triển ban đầu của y học phương Đông. Tuy nhiên, vấn đề ít được các y sinh, y sư biết là những tác giả, những vị thần y khởi nguồn của y học phương Đông được bộ kinh này nhắc tới hóa ra đều là những người Việt...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH TRÀ CỔ - QUẢNG NINH

    Nằm ở địa đầu Tổ quốc, giáp ranh với Trung Quốc, từ ngàn đời nay Đình Trà Cổ vẫn uy nghiêm mang đậm bản sắc Việt. Đặc biệt trong đình có hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng như cột mốc chủ quyền văn hóa Việt từ ngàn năm qua...

  • Pic Mgmt

    ÔNG GIÀ NOEL TỪNG LÀ VỊ DANH TƯỚNG CỦA VIỆT NAM ?!

    ...Sử sách ghi lại, thủ lĩnh Tày là Túc Phăn (Thục Phán) sau khi san bằng lãnh địa của các Bò Khun (vua Hùng), hợp nhất đất Âu-Tây Bắc với vùng Nác sông Hồng, lập nên quốc gia Âu Nác, đã cho xây dựng thành trì ở vùng trung tâm Kẻ Chũ (nay được gọi là Cổ Loa). Công cuộc xây thành này có sự góp sức đáng kể của vị tướng quân mang tên Cao Lỗ, người mà hai nghìn năm sau chỉ còn được biết đến qua những thần phả truyền kỳ, nhuốm đậm sắc màu huyền sử...

  • Pic Mgmt

    Những hình ảnh Hà Nội làm xao xuyến lòng người

    Con đường vàng lá rụng, mùi hoa sữa nồng nàn, sáng đông lạnh lẽo, chiều hè thơ mộng là những hình ảnh khiến bao người bị mê hoặc khi đặt chân đến Hà Nội - thủ đô ngàn năm văn hiến...

  • Pic Mgmt

    DẤU TÍCH VƯƠNG TRIỀU CHAMPA Ở CẤM MÍT

    Các nhà khảo cổ vừa khai quật di chỉ vương triều Champa ở Cấm Mít (Hòa Vang, Đà Nẵng) và phát hiện dấu tích của một nền văn hóa Chăm rực rỡ cùng đền đài, cung điện nguy nga bị chôn vùi cả ngàn năm qua. Đoàn nghiên cứu gồm các chuyên gia khảo cổ hàng đầu Việt Nam của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Bảo tàng Điêu khắc Chăm đã về Cấm Mít thuộc thôn Cẩm Toại Đông (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng). Họ đi tìm dấu tích của Vương quốc Champa đã bị vùi sâu trong lòng đất Cấm Mít...

  • Pic Mgmt

    VIẾT LẠI LỊCH SỬ TRUNG HOA

    Bạn thân mến, bạn đang đọc những dòng dầu tiên của cuốn sách sẽ gây chấn động niềm tin và thức tỉnh lương tri bạn. Cho đến nay, không chỉ bạn mà cả thế giới tin rằng, người phương Tây đem văn minh đến Trung Hoa. Tới lượt mình, người Trung Hoa mang văn minh xuống khai hóa dân An Nam mông muội. Ngôn ngữ Việt mượn 60% tiếng Hán. Văn hóa Việt là sự vay mượn văn hóa Trung Hoa, nhưng chưa đến nơi đến chốn… Đó là sự dối trá vĩ đại được áp đặt thành tín điều suốt nhiều thế kỷ qua!

  • Pic Mgmt

    KHAI MẠC LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG

    Sáng 18/4, tức ngày mùng 9 tháng 3 âm lịch, Lễ hội Cao Lỗ Vương chính thức khai mạc. Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà… Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Trần Văn Tuý và hậu duệ dòng họ Cao trên mọi miền tổ quốc về trẩy hội...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG BỨC TƯỢNG KỲ LẠ NHẤT VIỆT NAM

    Ở Việt Nam, có những bức tượng rất kỳ lạ như: Bức tượng có thể đứng lên ngồi xuống, tượng giống như người thật, tượng Phật ngự trên lưng vua...Các điện thờ ở chùa miền bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật, la hán... nhưng không nơi đâu có được pho tượng lạ như ở chùa Hòe Nhai (Hà Nội). Pho tượng đôi, một quỳ, một tọa trên lưng người quỳ...

Chi tiết

NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”

Đăng lúc: 2014-03-29 14:16:32 - Đã xem: 11757

KS. PHAN DUY KHA

Kẻ là người, kẻ cũng là làng

Ngôn ngữ Việt cổ có từ Kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ “Ăn qua nhớ kẻ trồng cây”. Theo quan điểm của những người này, thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù. Vậy thì ta không thể dùng cụm từ “kẻ trồng cây” mà phải dùng cụm từ “người trồng cây” mới đúng chăng!

Thực ra, trong kho tàng ngôn ngữ Việt cổ, ông cha ta dùng hai từ kẻ và người không hề phân biệt. Có thể dẫn chứng hàng loạt thành ngữ, tục ngữ để minh chứng cho điều này. Ví dụ: kẻ trên người dưới; kẻ trước người sau; kẻ cười người khóc; kẻ tám lạng người nửa cân; kẻ vào người ra; kẻ ở người đi; kẻ giàu người nghèo… Trong tất cả những thành ngữ; tục ngữ đó, kẻ và người được đặt ngang nhau và nếu ta đem hoán vị giữa 2 từ kẻ và người, ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ đó cũng không thay đổi. Vì vậy, chúng ta có thể yên tâm đặt một dấu “bằng” giữa kẻ và người (kẻ = người) mà không hề phải phân vân gì.

Nghiên cứu địa danh các làng xã cổ xưa của người Việt, chúng ta thấy có một hiện tượng đặc biệt. Đó là có nhiều làng mà trước tên làng có từ kẻ. Ví dụ, ngay tại Hà Nội có Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) rồi Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Giàn, Kẻ Cáo… Có một điều chung nhất trong tất cả các làng mang tên kẻ này, đó đều là những làng cổ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, có thể hiểu từ kẻ ở đây chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Ví dụ, Kẻ Noi = Người (ở làng) Noi; Kẻ Mọc = Người (ở làng) Mọc; Kẻ Bưởi = Người (ở làng) Bưởi… Để đơn giản, người ta hiểu: Kẻ Noi = làng Noi; Kẻ Mọc = làng Mọc; Kẻ Bưởi = làng Bưởi… Như vậy, ở đây kẻ được đồng nhất với làng.

Làng Cổ Nhuế xưa kia goi là KẺ NOI.

Khi các triều đình phong kiến Trung Hoa sang xâm lược nước ta, để tiện lợi cho việc ghi chép vào giấy tờ, sách vở (theo chữ Hán), mỗi làng lại phải đặt một tên chữ (âm Hán – Việt). Khác với tên Nôm chỉ có một từ (không kể từ kẻ đứng trước), tên chữ thường có ít nhất là hai từ. Như vậy, những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc, nhất thiết phải có hai tên, một tên Nôm (kèm kẻ) và một tên chữ. Những làng ra đời trong thời kỳ phong kiến thường chỉ có tên chữ, không có tên nôm và không có kẻ. Đó là tiêu chí để ta phân biệt những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc và những làng mới được thành lập sau này.

Trong việc đặt tên làng xã của Việt Nam, ta lại thấy có hiện tượng đặt tên làng theo tên dòng họ, như Nguyễn Xá, Hoàng Xa, Phan Xá, Bùi Xá… Xá là một từ Hán – Việt chỉ nơi cư trú: Nguyễn Xá là nơi cư trú của những người họ Nguyễn, Hoàng Xá là nơi cư trú của những người họ Hoàng… Trong những làng mang tên Xá như vậy cũng có những dòng họ khác sinh sống. Tuy nhiên, dòng họ mà làng mang tên là dòng họ lớn nhất, có vị thế chủ đạo, có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của cả làng. Từ nguồn gốc hình thành và tên gọi của nó, các làng mang tên Xá không thể ra đời trước thời điểm các triều đình phong kiến Trung Hoa sang đô hộ nước ta. Như vậy, trong hệ thống địa danh các làng cổ Việt Nam, những làng có Kẻ là những làng xuất hiện sớm nhất. Có thể coi đó là những địa bàn định cư, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời Hùng Vương dựng nước trong một cuốn địa chí văn hóa của xứ Thanh, làng có Kẻ chiếm 24%; làng không Kẻ chiếm 76% (trong đó bao gồm làng có Xá, làng do di dân lập ấp trong thời phong kiến, làng do đất phong và các trại khai hoang xưa, nay đã thành làng). Như vậy, với một vùng đất cổ như Thanh Hóa, có đến 24% số làng xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước.

Sự phân bố các làng Kẻ trên bản đồ Việt Nam

Những vùng làng có tên Kẻ được tập trung vào ba trung tâm chính:

1. Trung tâm núi Hồng – sông Lam: Đây là một vùng có nhiều làng cổ có tên là Kẻ mà chúng tôi đã có dịp đề cập (xem TGM 175). Phạm vi những làng này nằm trong vùng đồng bằng và vùng ven chân núi phía Nam Nghệ An, phía Bắc Hà Tĩnh mà dầy đặc nhất là vùng ven núi Hồng – sông Lam. Ở đây có những huyện mà số làng tên Kẻ chiếm đến 2/3 (tức hơn 60%) tổng số các làng, như huyện Can Lộc (Hà Tĩnh). Các huyện Nghi Xuân Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu (Nghệ An) có nhiều làng Kẻ. Các di tích khảo cổ chủ yếu như Thạch Lạc, Làng Vạc, Quỳnh Văn nằm trong phạm vi vùng Kẻ này. Đi về phía nam, các làng Kẻ ít dần. Vùng Bình – Trị – Thiên cũng có Kẻ nhưng thưa thớt hơn. Phía nam đèo Hải Vân, các Kẻ còn thấy xuất hiện đến tận Quảng Nam, Quảng Ngãi(*).

2. Trung tâm Đông Sơn (Thanh hóa): Đây cũng là một vùng dày đặc các làng tên Kẻ. Phạm vi bao gồm các huyện nằm ven chân núi và vùng đồng bằng sông Mã, sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Yên, Triệu Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nông Cống. Các làng Kẻ làm thành một vệt liên tục từ Kẻ Don (Vĩnh Lộc) xuống Kẻ Đàng (Thiệu Yên). Các di tích khảo cổ chủ yếu của thời đại đồng thau như Đông Sơn, Thiệu Dương, Hoàng Hóa… nằm trong phạm vi khu vực này. Có một điều đặc biệt lý thú là toàn bộ huyện Nga Sơn không hề có một làng tên Kẻ nào (trong lúc đó, các huyện bên cạnh đều có làng Kẻ!). Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết Mai An Tiêm: vào thời vua Hùng, toàn bộ vùng này đang nằm sâu dưới biển, chỉ nhô lên một vài hòn đảo (Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang ở Nga Sơn theo truyền thuyết).

3. Trung tâm Việt Trì – Phong Châu: Đây là trung tâm của thời kỳ các vua Hùng. Những làng mang tên Kẻ ở đây phân bố ven theo chân núi Ba Vì, Tam Đảo và dọc theo châu thổ sông Hồng từ Phong Châu, Việt Trì xuống đến phạm vi thủ đô Hà Nội. Các huyện Phong Châu, Thanh Sơn, Sông Thao, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Lập Thạch, Tam Đảo, Vĩnh Lạc, Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội) đều có nhiều làng Kẻ. Những làng có đền thờ các nhân vật thời Hùng Vương, những làng lưu truyền các truyền thuyết về các tướng tá thời Hùng, thường là những làng mang tên Kẻ. Những di chỉ khảo cổ chủ yếu như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun… nằm trong khu vực này. Đền Hùng ở cạnh một làng mang tên Kẻ: Kẻ Khống (Chu Hóa, Phong Châu); Cổ Loa là Kẻ Chủ; quê hương của người anh hùng Thánh Gióng là Kẻ Đổng (Phù Đổng, Gia Lâm). Toàn bộ vùng Kẻ ở khu vực này tạo thành một hình tam giác, lệch về góc đông nam. Ở rìa của góc đông nam đó là vùng Trâu Sơn – Phả Lại, là nơi kẻ thù thường xâm phạm. Đó chính là bối cảnh của chiến trường Thánh Gióng đánh giặc Ân trong truyền thuyết (xem TGM 297). Vùng đất thủ đô Hà Nội cũng là một vùng đất cổ, trên đó dày đặc các làng có tên Kẻ như chúng tôi đã trích dẫn ở phần đầu. Có nhiều Kẻ ở ngoại thành, có những Kẻ bây giờ thuộc nội thành như Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ…

Ở phía Nam Hà Nội vắng hẳn các làng tên Kẻ. Theo một số tài liệu nghiên cứu thì cách đây 3.000 năm, đường bờ biển ở vào khoảng Chương Mỹ, Thường Tín, nối đến thành phố Hải Dương ngày nay (lúc ấy, vùng núi đá vôi Nho Quan – Ninh Bình có phong cảnh như vịnh Hạ Long bây giờ). Cách đây 2.000 năm, đường bờ biển lùi xuống Ninh Bình, Nam Định. Như vậy thì vào thời Hùng Vương, vùng đất phía Nam Hà Nội đang là bãi cát bồi ven biển, chưa được khai phá. Điều đó cắt nghĩa vì sao ở đây không có các làng tên Kẻ. Điều này cũng phù hợp với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung: đây là lãnh thổ đang “tranh chấp” giữa con người và thiên nhiên, chưa có những khu vực dân cư ổn định (Chử Xá có tên nôm là Kẻ Sứa. Có thể lúc ấy vùng này đang là vùng nước lợ, có nhiều loài sứa sinh sống nên có tên như thế chăng?).

Kinh đô Văn Lang

Trong thư Hoài Nam Vương gửi Hán Vũ Đế (thế kỷ 2 trước Công nguyên) có ghi: “Nam Việt không phải là nơi ấp lý có thành quách. Họ ở trong khoảng khe suối, ở giữa rừng tre” (Hoài Nam Tư). Có thể thấy: người Việt đã ở trong các làng có lũy tre dày đặc bao bọc (người Trung Hoa nhìn từ ngoài vào, không hiểu, cho là rừng tre). Tre là lũy để bảo vệ an toàn cho các Kẻ, chứ không cần phải thành quách. Với trình độ kỹ thuật quân sự xưa, chỉ có tên tre và mũi lao, mũi giáo bằng đồng thì lũy tre dày đặc bao quanh các Kẻ quả là kiên cố bên trong các Kẻ đó lại có các lũy tre phân chia từng gia đình thành từng ô nhỏ. Vì vậy, nếu kẻ thù đột nhập vào đây sẽ như lọt vào trận đồ bát quái, khó có thể tìm được lối ra và sẽ bị tiêu diệt. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: vào thời kỳ Hùng Vương, người Việt chưa có thành quách và cũng không có nhu cầu xây đắp thành. Ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng có thể chỉ là một Làng Lớn (Làng Cả – Kẻ Cả) mà thôi (các nhà khảo cổ cho rằng khu di tích Làng Cả – Việt Trì chính là kinh đô Văn Lang xưa).

Tất nhiên, vào thời vua Hùng không phải chỉ có Kẻ. Kẻ chỉ ở đồng bằng và vùng đồi núi thấp. Ở những vùng cao có các bản, mường. Ngay gần kinh đô Văn Lang cũng có rất nhiều bản, mường của người Mường, người Dao. Có thể nói: những kẻ, bản, mường đó là những tập hợp cư dân, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời kỳ Hùng Vương dựng nước.

(*) Vì vậy. chúng tôi cho rằng: trước khi xuất hiện quốc gia Lâm ấp, Hoàn Vương (sau này là Chămpa) thì vùng đất này đã là đất đai của người Việt cổ thuộc quốc gia Việt Thường (xem thêm lập luận của tác giả trên TGM 147, 158, 194 và 213).

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

(Video tham khảo)

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp