• Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ HỌ LÊ (VIỆT NAM)

    Dòng họ Lê ở Việt Nam có nguồn gốc từ đất Thanh Hoá, Ninh Bình. Đây là một dòng tộc lớn, hai lần lập ra triều đại vương quyền ở Việt Nam. Triều Lê và Hậu Lê đã làm vua 399 năm và đã có nhiều công lớn trong công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước: Hoàng đế Lê Hoàn lãnh đạo quân dân chống quân Tống xâm lược; anh hùng Lê Lợi tổ chức nghĩa quân đánh đuổi quân Minh; vua Lê Thánh Tông bình Chiêm trừ hậu hoạn và phát triển đất nước trên nhiều mặt: sản xuất, văn hoá, chính trị...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO KHOA HỌC: DANH TƯỚNG CAO LỖ THỜI DỰNG NƯỚC

    Danh tướng Cao Lỗ là một vị anh hùng dân tộc, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu dựng nước, được nhân dân ta sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng ngàn năm lịch sử...

  • Pic Mgmt

    VỊ VUA VIỆT ĐẦU TIÊN TUẦN THÚ BIỂN ĐÔNG LÀ AI?

    Trong lịch sử, Lý Anh Tông chính là vị vua Việt đầu tiên tuần thú biển Đông, xem xét tình hình để có phương sách bảo vệ chủ quyền trên vùng biển đảo rộng lớn...

  • Pic Mgmt

    CỐ ĐÔ HOA LƯ (NINH BÌNH)

    Cách Hà Nội chừng 100km về phía Nam theo Quốc lộ 1A, cố đô Hoa Lư thuộc địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, một vùng núi non kỳ vĩ và hiểm trở làm thủ đô - “kinh đô đá”...

  • Pic Mgmt

    KHO BÁU GIỮA TRÙNG KHƠI

    Nằm trong khu vực vịnh Bái Tử Long và sát cạnh Di sản Thiên nhiên Thế giới vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Bái Tử Long được ví như một “kho báu” sinh quyển giữa trùng khơi ở vùng biển Ðông Bắc của Việt Nam. Vườn quốc gia Bái Tử Long có tổng diện tích 15.783ha, trong đó diện tích biển chiếm 9.658ha, diện tích các đảo nổi chiếm 6.125ha; bao gồm 1.909 loài động, thực vật, trong đó có 72 loài động vật và 30 loài thực vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO

    ...Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất...

  • Pic Mgmt

    THÀNH CÔNG & LAN TỎA

    Chuỗi 3 sự kiện văn học quốc tế là hội nghị quảng bá văn học lần thứ III, liên hoan thơ châu Á Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày Thơ Việt Nam lần thứ XIII đã thành công tốt đẹp. Các sự kiện diễn ra trong gần một tuần trở thành một điểm nhấn đầu xuân đầy tính văn hóa ở một thủ đô văn hóa đã khiến Hà Nội và các tỉnh lân cận tưng bừng trong không khí văn học, cho chúng ta có quyền lạc quan nghĩ đến những “vụ mùa” văn học thấp thoáng những dự báo bội thu...

  • Pic Mgmt

    SAU GẦN HAI THẾ KỶ, LẦN ĐẦU TIÊN "QUẢ TIM LỬA" HẠ SƠN !

    Sau gần 2 thế kỷ được vua Minh Mạng ban cho, lần đầu tiên "Quả Tim Lửa" từ chùa Tam Thai (khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) hạ sơn để tham gia cuộc triển lãm "Tinh hoa cổ vật Phật giáo" do Bảo tàng Đà Nẵng tổ chức nhân mùa lễ Vu Lan!...

  • Pic Mgmt

    CĂN NGUYÊN Ý THỨC HỆ DÂN TỘC THỜI LÝ

    Nhà Lý khởi nghiệp từ vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, một vận hội mới mà các sử gia về sau xem như là một trong các thời đại hoàng kim của lịch sử nước ta. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng đế nghiệp cho nhà Lý, đất nước ta có nhiều thay đổi lớn: dời đô về Thăng Long, đặt ra các định chế chính trị và mô thức xã hội mới...

  • Pic Mgmt

    MỘC BẢN CHÙA VĨNH NGHIÊM TRỞ THÀNH KÝ ỨC DI SẢN THẾ GIỚI

    Ông Nguyễn Thế Chính, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bắc Giang cho biết, hồ sơ mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm được công nhận tại kỳ họp thứ 5, Ủy ban Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn ra tại Bangkok (Thái Lan) từ ngày 14 đến 16-5. Đại diện UNESCO đã trao bằng chứng nhận mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là di sản ký ức thế giới cho ông Phạm Cao Phong, Tổng Thư ký Ủy ban UNESCO Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    QUY ƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO VIỆT NAM

    Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với Họ CAO mong muốn liên kết với nhau để thực hiện tâm nguyện chung của bà con trong Dòng tộc về việc Họ, là đầu mối liên lạc kết nối các Gia tộc, Dòng Họ, Chi họ và cá nhân tâm huyêt với Họ CAO hướng về cội nguồn, đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giữ gìn và phát huy phẩm chất, truyền thống Họ CAO .

  • Pic Mgmt

    CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN (Tự Đức năm thứ 12, tháng 5 ngày mồng 8)

    Trong chuyến đi lần thứ năm (tháng 3 năm 2010) ra Bắc, nhằm sưu tầm tư liệu về danh nhân văn hóa Cao Bá Quát - tôi đã đến Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, theo lời giới thiệu của TS Nguyễn Xuân Hoài (Giám đốc Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia II). Tại đây, tôi đã tìm được một số tài liệu liên quan đến Cao Bá Quát như sau:

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    ...Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên hơn 200 trang tư liệu kèm theo nhiều hình ảnh...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ CAO ĐÌNH (THUẬN THÀNH, BẮC NINH)

    Nhiều năm trở lại đây, dòng họ Cao Đình thôn Đại Tự, xã Thanh Khương (Thuận Thành) được ghi nhận như một điểm sáng giáo dục, khuyến học. Gần 1/4 thành viên trong dòng họ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học (ở nhiều gia đình tỷ lệ này là 100%). Số con em Cao Đình có thành tích học tập tốt cũng như thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng luôn nằm trong tốp đầu của địa phương. Phong trào khuyến học, khuyến tài được khơi dậy từ khá sớm với cách làm bài bản và quy mô...

  • Pic Mgmt

    NGHIÊN CỨU, SƯU TẦM SỐ HÓA TÀI LIỆU HÁN-NÔM

    ...Đình Thủ Lễ thuộc làng Thủ Lễ huyện Quảng Điền là một ngôi đình với trên 200 năm tồn tại, mang phong cách kiến trúc, kiểu dáng, mỹ thuật triều Nguyễn. Đình Thủ Lễ là nơi lưu giữ nhiều sắc phong và các văn bản tư liệu Hán - Nôm của vua Nguyễn thể hiện rất rõ qua 57 sắc phong các đời Vua nhà Nguyễn từ Minh Mạng cho đến Khải Định,...

Chi tiết

NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”

Đăng lúc: 2014-03-29 14:16:32 - Đã xem: 10966

KS. PHAN DUY KHA

Kẻ là người, kẻ cũng là làng

Ngôn ngữ Việt cổ có từ Kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ “Ăn qua nhớ kẻ trồng cây”. Theo quan điểm của những người này, thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù. Vậy thì ta không thể dùng cụm từ “kẻ trồng cây” mà phải dùng cụm từ “người trồng cây” mới đúng chăng!

Thực ra, trong kho tàng ngôn ngữ Việt cổ, ông cha ta dùng hai từ kẻ và người không hề phân biệt. Có thể dẫn chứng hàng loạt thành ngữ, tục ngữ để minh chứng cho điều này. Ví dụ: kẻ trên người dưới; kẻ trước người sau; kẻ cười người khóc; kẻ tám lạng người nửa cân; kẻ vào người ra; kẻ ở người đi; kẻ giàu người nghèo… Trong tất cả những thành ngữ; tục ngữ đó, kẻ và người được đặt ngang nhau và nếu ta đem hoán vị giữa 2 từ kẻ và người, ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ đó cũng không thay đổi. Vì vậy, chúng ta có thể yên tâm đặt một dấu “bằng” giữa kẻ và người (kẻ = người) mà không hề phải phân vân gì.

Nghiên cứu địa danh các làng xã cổ xưa của người Việt, chúng ta thấy có một hiện tượng đặc biệt. Đó là có nhiều làng mà trước tên làng có từ kẻ. Ví dụ, ngay tại Hà Nội có Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) rồi Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Giàn, Kẻ Cáo… Có một điều chung nhất trong tất cả các làng mang tên kẻ này, đó đều là những làng cổ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, có thể hiểu từ kẻ ở đây chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Ví dụ, Kẻ Noi = Người (ở làng) Noi; Kẻ Mọc = Người (ở làng) Mọc; Kẻ Bưởi = Người (ở làng) Bưởi… Để đơn giản, người ta hiểu: Kẻ Noi = làng Noi; Kẻ Mọc = làng Mọc; Kẻ Bưởi = làng Bưởi… Như vậy, ở đây kẻ được đồng nhất với làng.

Làng Cổ Nhuế xưa kia goi là KẺ NOI.

Khi các triều đình phong kiến Trung Hoa sang xâm lược nước ta, để tiện lợi cho việc ghi chép vào giấy tờ, sách vở (theo chữ Hán), mỗi làng lại phải đặt một tên chữ (âm Hán – Việt). Khác với tên Nôm chỉ có một từ (không kể từ kẻ đứng trước), tên chữ thường có ít nhất là hai từ. Như vậy, những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc, nhất thiết phải có hai tên, một tên Nôm (kèm kẻ) và một tên chữ. Những làng ra đời trong thời kỳ phong kiến thường chỉ có tên chữ, không có tên nôm và không có kẻ. Đó là tiêu chí để ta phân biệt những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc và những làng mới được thành lập sau này.

Trong việc đặt tên làng xã của Việt Nam, ta lại thấy có hiện tượng đặt tên làng theo tên dòng họ, như Nguyễn Xá, Hoàng Xa, Phan Xá, Bùi Xá… Xá là một từ Hán – Việt chỉ nơi cư trú: Nguyễn Xá là nơi cư trú của những người họ Nguyễn, Hoàng Xá là nơi cư trú của những người họ Hoàng… Trong những làng mang tên Xá như vậy cũng có những dòng họ khác sinh sống. Tuy nhiên, dòng họ mà làng mang tên là dòng họ lớn nhất, có vị thế chủ đạo, có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của cả làng. Từ nguồn gốc hình thành và tên gọi của nó, các làng mang tên Xá không thể ra đời trước thời điểm các triều đình phong kiến Trung Hoa sang đô hộ nước ta. Như vậy, trong hệ thống địa danh các làng cổ Việt Nam, những làng có Kẻ là những làng xuất hiện sớm nhất. Có thể coi đó là những địa bàn định cư, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời Hùng Vương dựng nước trong một cuốn địa chí văn hóa của xứ Thanh, làng có Kẻ chiếm 24%; làng không Kẻ chiếm 76% (trong đó bao gồm làng có Xá, làng do di dân lập ấp trong thời phong kiến, làng do đất phong và các trại khai hoang xưa, nay đã thành làng). Như vậy, với một vùng đất cổ như Thanh Hóa, có đến 24% số làng xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước.

Sự phân bố các làng Kẻ trên bản đồ Việt Nam

Những vùng làng có tên Kẻ được tập trung vào ba trung tâm chính:

1. Trung tâm núi Hồng – sông Lam: Đây là một vùng có nhiều làng cổ có tên là Kẻ mà chúng tôi đã có dịp đề cập (xem TGM 175). Phạm vi những làng này nằm trong vùng đồng bằng và vùng ven chân núi phía Nam Nghệ An, phía Bắc Hà Tĩnh mà dầy đặc nhất là vùng ven núi Hồng – sông Lam. Ở đây có những huyện mà số làng tên Kẻ chiếm đến 2/3 (tức hơn 60%) tổng số các làng, như huyện Can Lộc (Hà Tĩnh). Các huyện Nghi Xuân Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu (Nghệ An) có nhiều làng Kẻ. Các di tích khảo cổ chủ yếu như Thạch Lạc, Làng Vạc, Quỳnh Văn nằm trong phạm vi vùng Kẻ này. Đi về phía nam, các làng Kẻ ít dần. Vùng Bình – Trị – Thiên cũng có Kẻ nhưng thưa thớt hơn. Phía nam đèo Hải Vân, các Kẻ còn thấy xuất hiện đến tận Quảng Nam, Quảng Ngãi(*).

2. Trung tâm Đông Sơn (Thanh hóa): Đây cũng là một vùng dày đặc các làng tên Kẻ. Phạm vi bao gồm các huyện nằm ven chân núi và vùng đồng bằng sông Mã, sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Yên, Triệu Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nông Cống. Các làng Kẻ làm thành một vệt liên tục từ Kẻ Don (Vĩnh Lộc) xuống Kẻ Đàng (Thiệu Yên). Các di tích khảo cổ chủ yếu của thời đại đồng thau như Đông Sơn, Thiệu Dương, Hoàng Hóa… nằm trong phạm vi khu vực này. Có một điều đặc biệt lý thú là toàn bộ huyện Nga Sơn không hề có một làng tên Kẻ nào (trong lúc đó, các huyện bên cạnh đều có làng Kẻ!). Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết Mai An Tiêm: vào thời vua Hùng, toàn bộ vùng này đang nằm sâu dưới biển, chỉ nhô lên một vài hòn đảo (Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang ở Nga Sơn theo truyền thuyết).

3. Trung tâm Việt Trì – Phong Châu: Đây là trung tâm của thời kỳ các vua Hùng. Những làng mang tên Kẻ ở đây phân bố ven theo chân núi Ba Vì, Tam Đảo và dọc theo châu thổ sông Hồng từ Phong Châu, Việt Trì xuống đến phạm vi thủ đô Hà Nội. Các huyện Phong Châu, Thanh Sơn, Sông Thao, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Lập Thạch, Tam Đảo, Vĩnh Lạc, Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội) đều có nhiều làng Kẻ. Những làng có đền thờ các nhân vật thời Hùng Vương, những làng lưu truyền các truyền thuyết về các tướng tá thời Hùng, thường là những làng mang tên Kẻ. Những di chỉ khảo cổ chủ yếu như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun… nằm trong khu vực này. Đền Hùng ở cạnh một làng mang tên Kẻ: Kẻ Khống (Chu Hóa, Phong Châu); Cổ Loa là Kẻ Chủ; quê hương của người anh hùng Thánh Gióng là Kẻ Đổng (Phù Đổng, Gia Lâm). Toàn bộ vùng Kẻ ở khu vực này tạo thành một hình tam giác, lệch về góc đông nam. Ở rìa của góc đông nam đó là vùng Trâu Sơn – Phả Lại, là nơi kẻ thù thường xâm phạm. Đó chính là bối cảnh của chiến trường Thánh Gióng đánh giặc Ân trong truyền thuyết (xem TGM 297). Vùng đất thủ đô Hà Nội cũng là một vùng đất cổ, trên đó dày đặc các làng có tên Kẻ như chúng tôi đã trích dẫn ở phần đầu. Có nhiều Kẻ ở ngoại thành, có những Kẻ bây giờ thuộc nội thành như Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ…

Ở phía Nam Hà Nội vắng hẳn các làng tên Kẻ. Theo một số tài liệu nghiên cứu thì cách đây 3.000 năm, đường bờ biển ở vào khoảng Chương Mỹ, Thường Tín, nối đến thành phố Hải Dương ngày nay (lúc ấy, vùng núi đá vôi Nho Quan – Ninh Bình có phong cảnh như vịnh Hạ Long bây giờ). Cách đây 2.000 năm, đường bờ biển lùi xuống Ninh Bình, Nam Định. Như vậy thì vào thời Hùng Vương, vùng đất phía Nam Hà Nội đang là bãi cát bồi ven biển, chưa được khai phá. Điều đó cắt nghĩa vì sao ở đây không có các làng tên Kẻ. Điều này cũng phù hợp với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung: đây là lãnh thổ đang “tranh chấp” giữa con người và thiên nhiên, chưa có những khu vực dân cư ổn định (Chử Xá có tên nôm là Kẻ Sứa. Có thể lúc ấy vùng này đang là vùng nước lợ, có nhiều loài sứa sinh sống nên có tên như thế chăng?).

Kinh đô Văn Lang

Trong thư Hoài Nam Vương gửi Hán Vũ Đế (thế kỷ 2 trước Công nguyên) có ghi: “Nam Việt không phải là nơi ấp lý có thành quách. Họ ở trong khoảng khe suối, ở giữa rừng tre” (Hoài Nam Tư). Có thể thấy: người Việt đã ở trong các làng có lũy tre dày đặc bao bọc (người Trung Hoa nhìn từ ngoài vào, không hiểu, cho là rừng tre). Tre là lũy để bảo vệ an toàn cho các Kẻ, chứ không cần phải thành quách. Với trình độ kỹ thuật quân sự xưa, chỉ có tên tre và mũi lao, mũi giáo bằng đồng thì lũy tre dày đặc bao quanh các Kẻ quả là kiên cố bên trong các Kẻ đó lại có các lũy tre phân chia từng gia đình thành từng ô nhỏ. Vì vậy, nếu kẻ thù đột nhập vào đây sẽ như lọt vào trận đồ bát quái, khó có thể tìm được lối ra và sẽ bị tiêu diệt. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: vào thời kỳ Hùng Vương, người Việt chưa có thành quách và cũng không có nhu cầu xây đắp thành. Ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng có thể chỉ là một Làng Lớn (Làng Cả – Kẻ Cả) mà thôi (các nhà khảo cổ cho rằng khu di tích Làng Cả – Việt Trì chính là kinh đô Văn Lang xưa).

Tất nhiên, vào thời vua Hùng không phải chỉ có Kẻ. Kẻ chỉ ở đồng bằng và vùng đồi núi thấp. Ở những vùng cao có các bản, mường. Ngay gần kinh đô Văn Lang cũng có rất nhiều bản, mường của người Mường, người Dao. Có thể nói: những kẻ, bản, mường đó là những tập hợp cư dân, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời kỳ Hùng Vương dựng nước.

(*) Vì vậy. chúng tôi cho rằng: trước khi xuất hiện quốc gia Lâm ấp, Hoàn Vương (sau này là Chămpa) thì vùng đất này đã là đất đai của người Việt cổ thuộc quốc gia Việt Thường (xem thêm lập luận của tác giả trên TGM 147, 158, 194 và 213).

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

(Video tham khảo)

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp