• Pic Mgmt

    DẤU XƯA Ở NGÔI LÀNG CỔ BÊN BỜ SÔNG MÃ

    Đến với làng cổ Đông Sơn là đến với không gian văn hóa lâu đời, đến với những ngôi nhà cổ có tuổi đời hơn 200 năm. Ẩn chứa trong mỗi ngôi nhà ấy, di tích lịch sử ấy không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc, văn hóa thẩm mỹ mà còn mang trong mình những câu chuyện thú vị và đầy ý nghĩa...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HỘP ĐỰNG XÁ LỊ ĐỨC PHẬT BẰNG VÀNG RÒNG Ở NGHỆ AN

    Từ khi phát hiện ra báu vật bằng vàng ròng có một không hai này, rất nhiều cao tăng trong và ngoài nước đã tìm đến dể chiêm bái với tấm lòng thành kính. Trong khi đó các phật tử đều rất muốn được 1 lần được nhìn thấy chiếc hộp quý này....

  • Pic Mgmt

    BÍ MẬT VỀ MỘT CUNG ĐIỆN DƯỚI LÒNG ĐẤT HẢI DƯƠNG

    ...Cách đây gần 10 năm, trong những ngày lang thang cùng chuyên gia mộ cổ Tăng Bá Hoành (khi đó ông còn là Giám đốc Bảo tàng Hải Dương, hiện ông đã nghỉ hưu) đi thực địa tìm mộ cổ ở vùng Kim Thành (Hải Dương), tôi đã được nghe ông Hoành kể về một ngôi mộ xây bằng gạch, có tuổi ngót 2.000 năm...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI GIỮ HỒN DÂN TỘC QUA NHỮNG CHIẾC TRỐNG ĐỒNG

    Từ sâu thẳm, tôi muốn gọi anh - một nghệ nhân đã đạt đến đỉnh cao, sự tinh túy trong nghệ thuật đúc trống đồng – là người đang làm sống lại và lưu giữ hồn cốt đất Việt. Bởi lẽ, cứ mỗi lần được nghe tiếng âm vang từ dàn trống đồng, do chính tay anh chế tác, tôi lại thấy lòng mình trào dâng xúc cảm. Có điều gì đó thiêng liêng, lớn lao lắm mà khó diễn đạt hết bằng lời...

  • Pic Mgmt

    DẤU TÍCH XƯA QUA NHỮNG KINH ĐÔ VIỆT CỔ

    ...Khu di tích Đền Hùng thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng, có độ cao 175 mét so với mặt nước biển, thuộc đất Phong Châu, vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo tạo thành ba đỉnh “Tam sơn cấm địa”...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ CAO ĐÌNH (THUẬN THÀNH, BẮC NINH)

    Nhiều năm trở lại đây, dòng họ Cao Đình thôn Đại Tự, xã Thanh Khương (Thuận Thành) được ghi nhận như một điểm sáng giáo dục, khuyến học. Gần 1/4 thành viên trong dòng họ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học (ở nhiều gia đình tỷ lệ này là 100%). Số con em Cao Đình có thành tích học tập tốt cũng như thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng luôn nằm trong tốp đầu của địa phương. Phong trào khuyến học, khuyến tài được khơi dậy từ khá sớm với cách làm bài bản và quy mô...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO VỀ NGÀY GIỖ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

    ...Ngày 5 tháng 10 (dương lịch) năm 2011 năm nay (tức là ngày 9 tháng 9 âm lịch), lần đầu tiên, tại NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Ban quản lý khu di tích và Ban đại diện gia tộc họ Cao sẽ tổ chức trọng thể NGÀY GIỖ DANH NHÂN VĂN HOÁ CAO BÁ QUÁT...

  • Pic Mgmt

    TÌM LẠI NGUỒN GỐC VÙNG ĐẤT BÁCH VIỆT

    Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH TRÀ CỔ - QUẢNG NINH

    Nằm ở địa đầu Tổ quốc, giáp ranh với Trung Quốc, từ ngàn đời nay Đình Trà Cổ vẫn uy nghiêm mang đậm bản sắc Việt. Đặc biệt trong đình có hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng như cột mốc chủ quyền văn hóa Việt từ ngàn năm qua...

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG - CHƯƠNG TRÌNH LỄ DÂNG HƯƠNG KHAI MẠC

    Được tin trưa nay, 13/4/2013 ông Cao Bá Nghiệp ở TPHCM nhận được thư Chuyển Phát Nhanh do Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Phát triển (ở Hà Nội) gửi (dấu bưu điện ghi ngày gửi là 11/4/2013). Dưới đây là nôi dung chính thức của Lễ hội Cao Lỗ Vương năm 2013 sẽ được tổ chức tại Gia Bình, Bắc Ninh:...

  • Pic Mgmt

    CHÂU Á MỚI LÀ CÁI NÔI CỦA NGHỆ THUẬT

    Phát hiện trên cho thấy châu Á, chứ không phải châu Âu, mới là nơi nghệ thuật trừu tượng ra đời. Theo AFP, các bức vẽ trong hang động ở vùng Maros thuộc miền nam Sulawesi đã được phát hiện từ 50 năm trước đây. Tuy nhiên đến tận bây giờ các nhà khoa học thuộc ĐH Griffith và ĐH Wollongong ở Úc mới xác định được chúng có niên đại lên tới 40.000 năm...

  • Pic Mgmt

    TIẾT LỘ THÚ VỊ VỀ TẤM BIA ĐÁ CỔ NHẤT VIỆT NAM

    Vừa qua tại Bắc Ninh, giới khảo cổ tìm thấy một tấm bia đá được đánh giá là cổ nhất Việt Nam. Tuy bị vỡ làm đôi và nét chữ bị mờ nhưng các nhà khảo cổ vẫn cố gắng tìm kiếm thông điệp từ bảo vật cách đây tròn 1.700 năm...

  • Pic Mgmt

    CĂN NGUYÊN Ý THỨC HỆ DÂN TỘC THỜI LÝ

    Nhà Lý khởi nghiệp từ vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, một vận hội mới mà các sử gia về sau xem như là một trong các thời đại hoàng kim của lịch sử nước ta. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng đế nghiệp cho nhà Lý, đất nước ta có nhiều thay đổi lớn: dời đô về Thăng Long, đặt ra các định chế chính trị và mô thức xã hội mới...

  • Pic Mgmt

    LÀNG CA TRÙ LỖ KHÊ

    ...Người ta vẫn nhắc đến ngôi làng ca trù Lỗ khê là đất tổ ca trù của vùng châu thổ sông Hồng tính đến nay đã được 600 năm tuổi. Cũng như bao làng quê Việt nam khác, Lỗ Khê là một ngôi làng nhỏ ngoại thành Hà Nội, cuộc sống của người dân ở đây kiếm sống bằng nghề nông và có vài ba nghề phụ. Nhưng có một nghề ở đây mà dân trong làng từ đời tổ tiên đã kiếm sống bằng nghề này đó là nghề hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    SỐ PHẬN THĂNG TRẦM CỦA NƯỚC VIỆT (TRUNG QUỐC)

    Nhà nước 越 Việt vụt hiện thành một quầng sáng trong huyền sử Trung Hoa, vào cuối thời Xuân Thu – Chiến Quốc, dưới triều đại của vị chủ tể truyền thuyết 勾踐 Câu Tiễn, mà cuộc vật lộn của ông với nhà 吳 Ngô thù địch, đã trở thành biểu tượng cho đức kiên ngoan và lòng quả cảm vô bờ bến, khiến cho một con người có thể lẫy lừng, trở lại vũ đài, sau khi đã hoàn toàn bị quật ngã...

Chi tiết

NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”

Đăng lúc: 2014-03-29 14:16:32 - Đã xem: 11339

KS. PHAN DUY KHA

Kẻ là người, kẻ cũng là làng

Ngôn ngữ Việt cổ có từ Kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ “Ăn qua nhớ kẻ trồng cây”. Theo quan điểm của những người này, thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù. Vậy thì ta không thể dùng cụm từ “kẻ trồng cây” mà phải dùng cụm từ “người trồng cây” mới đúng chăng!

Thực ra, trong kho tàng ngôn ngữ Việt cổ, ông cha ta dùng hai từ kẻ và người không hề phân biệt. Có thể dẫn chứng hàng loạt thành ngữ, tục ngữ để minh chứng cho điều này. Ví dụ: kẻ trên người dưới; kẻ trước người sau; kẻ cười người khóc; kẻ tám lạng người nửa cân; kẻ vào người ra; kẻ ở người đi; kẻ giàu người nghèo… Trong tất cả những thành ngữ; tục ngữ đó, kẻ và người được đặt ngang nhau và nếu ta đem hoán vị giữa 2 từ kẻ và người, ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ đó cũng không thay đổi. Vì vậy, chúng ta có thể yên tâm đặt một dấu “bằng” giữa kẻ và người (kẻ = người) mà không hề phải phân vân gì.

Nghiên cứu địa danh các làng xã cổ xưa của người Việt, chúng ta thấy có một hiện tượng đặc biệt. Đó là có nhiều làng mà trước tên làng có từ kẻ. Ví dụ, ngay tại Hà Nội có Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) rồi Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Giàn, Kẻ Cáo… Có một điều chung nhất trong tất cả các làng mang tên kẻ này, đó đều là những làng cổ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, có thể hiểu từ kẻ ở đây chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Ví dụ, Kẻ Noi = Người (ở làng) Noi; Kẻ Mọc = Người (ở làng) Mọc; Kẻ Bưởi = Người (ở làng) Bưởi… Để đơn giản, người ta hiểu: Kẻ Noi = làng Noi; Kẻ Mọc = làng Mọc; Kẻ Bưởi = làng Bưởi… Như vậy, ở đây kẻ được đồng nhất với làng.

Làng Cổ Nhuế xưa kia goi là KẺ NOI.

Khi các triều đình phong kiến Trung Hoa sang xâm lược nước ta, để tiện lợi cho việc ghi chép vào giấy tờ, sách vở (theo chữ Hán), mỗi làng lại phải đặt một tên chữ (âm Hán – Việt). Khác với tên Nôm chỉ có một từ (không kể từ kẻ đứng trước), tên chữ thường có ít nhất là hai từ. Như vậy, những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc, nhất thiết phải có hai tên, một tên Nôm (kèm kẻ) và một tên chữ. Những làng ra đời trong thời kỳ phong kiến thường chỉ có tên chữ, không có tên nôm và không có kẻ. Đó là tiêu chí để ta phân biệt những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc và những làng mới được thành lập sau này.

Trong việc đặt tên làng xã của Việt Nam, ta lại thấy có hiện tượng đặt tên làng theo tên dòng họ, như Nguyễn Xá, Hoàng Xa, Phan Xá, Bùi Xá… Xá là một từ Hán – Việt chỉ nơi cư trú: Nguyễn Xá là nơi cư trú của những người họ Nguyễn, Hoàng Xá là nơi cư trú của những người họ Hoàng… Trong những làng mang tên Xá như vậy cũng có những dòng họ khác sinh sống. Tuy nhiên, dòng họ mà làng mang tên là dòng họ lớn nhất, có vị thế chủ đạo, có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của cả làng. Từ nguồn gốc hình thành và tên gọi của nó, các làng mang tên Xá không thể ra đời trước thời điểm các triều đình phong kiến Trung Hoa sang đô hộ nước ta. Như vậy, trong hệ thống địa danh các làng cổ Việt Nam, những làng có Kẻ là những làng xuất hiện sớm nhất. Có thể coi đó là những địa bàn định cư, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời Hùng Vương dựng nước trong một cuốn địa chí văn hóa của xứ Thanh, làng có Kẻ chiếm 24%; làng không Kẻ chiếm 76% (trong đó bao gồm làng có Xá, làng do di dân lập ấp trong thời phong kiến, làng do đất phong và các trại khai hoang xưa, nay đã thành làng). Như vậy, với một vùng đất cổ như Thanh Hóa, có đến 24% số làng xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước.

Sự phân bố các làng Kẻ trên bản đồ Việt Nam

Những vùng làng có tên Kẻ được tập trung vào ba trung tâm chính:

1. Trung tâm núi Hồng – sông Lam: Đây là một vùng có nhiều làng cổ có tên là Kẻ mà chúng tôi đã có dịp đề cập (xem TGM 175). Phạm vi những làng này nằm trong vùng đồng bằng và vùng ven chân núi phía Nam Nghệ An, phía Bắc Hà Tĩnh mà dầy đặc nhất là vùng ven núi Hồng – sông Lam. Ở đây có những huyện mà số làng tên Kẻ chiếm đến 2/3 (tức hơn 60%) tổng số các làng, như huyện Can Lộc (Hà Tĩnh). Các huyện Nghi Xuân Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu (Nghệ An) có nhiều làng Kẻ. Các di tích khảo cổ chủ yếu như Thạch Lạc, Làng Vạc, Quỳnh Văn nằm trong phạm vi vùng Kẻ này. Đi về phía nam, các làng Kẻ ít dần. Vùng Bình – Trị – Thiên cũng có Kẻ nhưng thưa thớt hơn. Phía nam đèo Hải Vân, các Kẻ còn thấy xuất hiện đến tận Quảng Nam, Quảng Ngãi(*).

2. Trung tâm Đông Sơn (Thanh hóa): Đây cũng là một vùng dày đặc các làng tên Kẻ. Phạm vi bao gồm các huyện nằm ven chân núi và vùng đồng bằng sông Mã, sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Yên, Triệu Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nông Cống. Các làng Kẻ làm thành một vệt liên tục từ Kẻ Don (Vĩnh Lộc) xuống Kẻ Đàng (Thiệu Yên). Các di tích khảo cổ chủ yếu của thời đại đồng thau như Đông Sơn, Thiệu Dương, Hoàng Hóa… nằm trong phạm vi khu vực này. Có một điều đặc biệt lý thú là toàn bộ huyện Nga Sơn không hề có một làng tên Kẻ nào (trong lúc đó, các huyện bên cạnh đều có làng Kẻ!). Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết Mai An Tiêm: vào thời vua Hùng, toàn bộ vùng này đang nằm sâu dưới biển, chỉ nhô lên một vài hòn đảo (Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang ở Nga Sơn theo truyền thuyết).

3. Trung tâm Việt Trì – Phong Châu: Đây là trung tâm của thời kỳ các vua Hùng. Những làng mang tên Kẻ ở đây phân bố ven theo chân núi Ba Vì, Tam Đảo và dọc theo châu thổ sông Hồng từ Phong Châu, Việt Trì xuống đến phạm vi thủ đô Hà Nội. Các huyện Phong Châu, Thanh Sơn, Sông Thao, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Lập Thạch, Tam Đảo, Vĩnh Lạc, Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội) đều có nhiều làng Kẻ. Những làng có đền thờ các nhân vật thời Hùng Vương, những làng lưu truyền các truyền thuyết về các tướng tá thời Hùng, thường là những làng mang tên Kẻ. Những di chỉ khảo cổ chủ yếu như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun… nằm trong khu vực này. Đền Hùng ở cạnh một làng mang tên Kẻ: Kẻ Khống (Chu Hóa, Phong Châu); Cổ Loa là Kẻ Chủ; quê hương của người anh hùng Thánh Gióng là Kẻ Đổng (Phù Đổng, Gia Lâm). Toàn bộ vùng Kẻ ở khu vực này tạo thành một hình tam giác, lệch về góc đông nam. Ở rìa của góc đông nam đó là vùng Trâu Sơn – Phả Lại, là nơi kẻ thù thường xâm phạm. Đó chính là bối cảnh của chiến trường Thánh Gióng đánh giặc Ân trong truyền thuyết (xem TGM 297). Vùng đất thủ đô Hà Nội cũng là một vùng đất cổ, trên đó dày đặc các làng có tên Kẻ như chúng tôi đã trích dẫn ở phần đầu. Có nhiều Kẻ ở ngoại thành, có những Kẻ bây giờ thuộc nội thành như Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ…

Ở phía Nam Hà Nội vắng hẳn các làng tên Kẻ. Theo một số tài liệu nghiên cứu thì cách đây 3.000 năm, đường bờ biển ở vào khoảng Chương Mỹ, Thường Tín, nối đến thành phố Hải Dương ngày nay (lúc ấy, vùng núi đá vôi Nho Quan – Ninh Bình có phong cảnh như vịnh Hạ Long bây giờ). Cách đây 2.000 năm, đường bờ biển lùi xuống Ninh Bình, Nam Định. Như vậy thì vào thời Hùng Vương, vùng đất phía Nam Hà Nội đang là bãi cát bồi ven biển, chưa được khai phá. Điều đó cắt nghĩa vì sao ở đây không có các làng tên Kẻ. Điều này cũng phù hợp với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung: đây là lãnh thổ đang “tranh chấp” giữa con người và thiên nhiên, chưa có những khu vực dân cư ổn định (Chử Xá có tên nôm là Kẻ Sứa. Có thể lúc ấy vùng này đang là vùng nước lợ, có nhiều loài sứa sinh sống nên có tên như thế chăng?).

Kinh đô Văn Lang

Trong thư Hoài Nam Vương gửi Hán Vũ Đế (thế kỷ 2 trước Công nguyên) có ghi: “Nam Việt không phải là nơi ấp lý có thành quách. Họ ở trong khoảng khe suối, ở giữa rừng tre” (Hoài Nam Tư). Có thể thấy: người Việt đã ở trong các làng có lũy tre dày đặc bao bọc (người Trung Hoa nhìn từ ngoài vào, không hiểu, cho là rừng tre). Tre là lũy để bảo vệ an toàn cho các Kẻ, chứ không cần phải thành quách. Với trình độ kỹ thuật quân sự xưa, chỉ có tên tre và mũi lao, mũi giáo bằng đồng thì lũy tre dày đặc bao quanh các Kẻ quả là kiên cố bên trong các Kẻ đó lại có các lũy tre phân chia từng gia đình thành từng ô nhỏ. Vì vậy, nếu kẻ thù đột nhập vào đây sẽ như lọt vào trận đồ bát quái, khó có thể tìm được lối ra và sẽ bị tiêu diệt. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: vào thời kỳ Hùng Vương, người Việt chưa có thành quách và cũng không có nhu cầu xây đắp thành. Ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng có thể chỉ là một Làng Lớn (Làng Cả – Kẻ Cả) mà thôi (các nhà khảo cổ cho rằng khu di tích Làng Cả – Việt Trì chính là kinh đô Văn Lang xưa).

Tất nhiên, vào thời vua Hùng không phải chỉ có Kẻ. Kẻ chỉ ở đồng bằng và vùng đồi núi thấp. Ở những vùng cao có các bản, mường. Ngay gần kinh đô Văn Lang cũng có rất nhiều bản, mường của người Mường, người Dao. Có thể nói: những kẻ, bản, mường đó là những tập hợp cư dân, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời kỳ Hùng Vương dựng nước.

(*) Vì vậy. chúng tôi cho rằng: trước khi xuất hiện quốc gia Lâm ấp, Hoàn Vương (sau này là Chămpa) thì vùng đất này đã là đất đai của người Việt cổ thuộc quốc gia Việt Thường (xem thêm lập luận của tác giả trên TGM 147, 158, 194 và 213).

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

(Video tham khảo)

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp