• Pic Mgmt

    VIỆT NAM LÀ CÁI NÔI CỦA TRỐNG ĐỒNG

    GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Viện phó Viện Khảo cổ về nguồn gốc của trống đồng cổ có hàng chục năm nghiên cứu về các loại trống đồng, điều ông quan tâm nhiều nhất là chiều chuyển động của hoa văn trên trống đồng cổ...

  • Pic Mgmt

    VỤ NHÂN VĂN GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN

    Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật...

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH NÓI VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG

    Ngày 7/6, tại Diễn đàn Kinh tế biển ở tỉnh Hà Tĩnh, Trung tâm Minh triết VN trao cho đại diện Bộ TN & MT cùng UBND tỉnh Hà Tĩnh hai bức trướng, với hai câu "sấm Trạng Trình" về chủ quyền Biển Đông.

  • Pic Mgmt

    DINH THỰ VUA MÈO TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

    Khu dinh thự nằm trên thung lũng được chọn kỹ theo phong thủy. Đây là di tích quốc gia, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng từ ngày 23/7 năm 1993. Chủ dinh thự, ông Vương Chí Sình là người H’mông trong dòng tộc từng được biết đến như “vua người H’mông” khu vực Hà Giang những năm trước cách mạng...

  • Pic Mgmt

    LỄ KHÁNH THÀNH THỦY ĐÌNH & LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG CÔNG AN

    Hôm nay, ngày 30/3/2013 tôi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội đã may mắn và vinh dự kịp về dự LỄ CẮT BĂNG KHÁNH THÀNH THỦY ĐÌNH & LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG CÔNG AN XÃ HOÀNG VĂN THỤ, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ

    Theo sự phân loại của Hê-gơ, và bản tổng kê của các nhà khảo cổ tại miền Bắc, trong sách Thời Đại Đồng Thau, những trống đồng loại 1 phát hiện ở Việt Nam khoảng trên 70 chiếc. Số lượng tìm thấy đã hơn bất cứ một miền nào khác. Mặc dầu tướng Mã Viện đời Đông Hán khi qua đánh Giao Chỉ, đã tịch thu không biết bao nhiêu trống nữa, để đúc con ngựa kiểu mà chơi, và đúc cái cột đồng khắc chữ “Đồng Trụ chiết Giao Chỉ diệt“...

  • Pic Mgmt

    CAO BIẾN LÀ TƯỚNG...LẠC DIÊU

    ...Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Cao Vương ở đây được cho là Cao Biền, viên quan đô hộ dưới thời nhà Đường, người đã đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi An Nam đô hộ phủ và xây thành Đại La...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ...Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15.6.1882, trong một gia đình nghèo tại Thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc Huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Để thoát khỏi cảnh sống cơ cực do chế độ Phong kiến tạo ra, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã tìm ra kinh thành Thăng Long, tìm kế sinh nhai và tá túc tại nhà một người họ hàng ở 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    LÀNG RỪNG & BÍ ẨN CỌC BẠCH ĐẰNG

    Hơn 7 thế kỷ giấu mình trong mịt mùng lòng đất, những bãi cọc đã bất ngờ lộ diện như chứng nhân của lịch sử xa xăm, kể ta nghe về chiến tích của cha ông, kể ta nghe về câu chuyện của Làng Rừng, về những tiền nhân của trại An Hưng, đã cùng vua tôi nhà Trần đánh giặc trên dòng sông của mảnh đất quê mình...

  • Pic Mgmt

    CHÙA ĐỒNG Ở QUẢNG NINH

    Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh núi Yên Tử (Quảng Ninh) là ngôi chùa bằng đồng có một không hai trên đất nước Việt Nam và ngay cả các nước thuộc Châu Á cũng chưa có ngôi chùa bằng đồng nào lớn như vậy. Trước ngày chùa Đồng được Tổ chức Kỷ lục Châu Á công bố kỷ lục “Ngôi chùa bằng đồng (trên đỉnh núi) lớn nhất”...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ (2)

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi mắt cuốn sách “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ” và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    DIỆN TÍCH NƯỚC VIỆT CỔ LỚN GẤP 10 LẦN NGÀY NAY

    Vùng đất phía Bắc của người Bách Việt từng lên đến tận phía Nam sông Dương Tử (hay Trường Giang), tới khu vực Hồ Động Đình (tức tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay). Việc này không chỉ được ghi nhận lại trong các truyền thuyết mà còn nằm trong những chứng tích của lịch sử...

  • Pic Mgmt

    CHÙA DÂU (BẮC NINH) - NGÔI CHÙA CỔ NHẤT VIỆT NAM

    ...Chùa Dâu còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân hay Cổ Châu, tọa lạc ngay trung tâm của khu di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây là thủ phủ của quận Giao Chỉ (Giao Châu), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta, bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và Lăng mộ Sỹ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, gốm cổ, phố chợ sầm uất của đô thị Luy lâu,...

  • Pic Mgmt

    ĐỊA DANH LẠC VIỆT TRÊN ĐẤT LĨNH NAM

    Có đến hàng chục chữ, làm tên đầu địa danh ở vùng Lĩnh Nam xưa, đều là tên Lạc Việt, mà phải chú vào cái phát âm mới nhận được ra. (Những chữ ấy là do thư lại người Hán đời sau mượn chữ Nho để ghi âm lại tên địa danh Lạc Việt, chứ theo biểu ý của chữ thì nhiều chữ chẳng khớp gì với nghĩa của âm tiếng Choang và tiếng Việt cả), nếu cứ đọc và hiểu chữ theo Hán ngữ hiện đại thì không thấy được và ý nghĩa của nhiều địa danh theo Hán ngữ lại thành ra vô lý...

  • Pic Mgmt

    SÁCH : "TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Nội dung sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ CAO xưa & nay, với khoảng trên 200 trang kèm theo gần 100 hình ảnh minh họa. Sách in ấn giấy tốt, khổ A4. Giá bán nội bộ họ CAO là 150.000đ/cuốn (hình ảnh đen trắng). Bản in đặc biệt giá 350.000đ/cuốn (hình ảnh màu).

Chi tiết

THUỞ RỪNG SƠN DƯƠNG (tiểu thuyết của Xuân Cang)

Đăng lúc: 2014-03-29 14:31:56 - Đã xem: 2255


Chân dung nhà văn Xuân Cang. Photo: Cao Bá Nghiệp


THUỞ RỪNG SƠN DƯƠNG (Trích tiểu thuyết của Xuân Cang)

Tóm tắt truyện:


Nhà máy TKI thuộc Cục Quân Giới – Bộ Quốc phòng trong kháng chiến chống Pháp. Sau khi đã đưa hàng trăm tấn sắt thép lên chiến khu, lập thành nhà máy sản xuất súng cối, nhà máy bị một trận sốt rét rừng chết hàng trăm người, trong đó có nhiều thợ già, thợ giỏi. Đã đến lúc phải lập một trường dạy nghề, đào tạo lớp thợ trẻ thay thế. Nhân vật chính của truyện tên là Thép Gió được lệnh về xuôi, trở về vùng quê nay là vùng địch tạm chiếm, nơi đây có một cái hầm chứa rất nhiều sách dạy kỹ thuật lấy ở Trường Kỹ Nghệ Hà Nội cất giấu trước khi rời Hà Nội. Anh có nhiệm vụ về vận chuyển các sách ấy đem lên chiến khu làm tài liệu giảng dạy. Cục trưởng Trần Đại Nghĩa bày mẹo: về gặp ông Thiều Chửu – Cây chổi lau,  hiện đang tản cư tại Phú Bình – Thái Nguyên, nhờ ông thu xếp theo một đường dây đi theo các nhà chùa mà về quê. Vì ông Thiều Chửu là một người nổi tiếng nên may mắn anh gặp được ông. Đoạn trích sau đây kể chuyện cuộc gặp gỡ kỳ lạ ấy.


Tôi (Xuân Cang) trích dẫn tặng anh Cao Bá Nghiệp vì trong câu chuyện có kể đến Cao Bá Quát...

Tôi (Cao Bá Nghiệp) thấy nội dung chuyện kể hấp dẫn...sau khi trao đổi & được sự đồng ý của tác giả, tôi cho đăng trích đoạn tiểu thuyết THUỞ RỪNG SƠN DƯƠNG này lên website caobaquat.com.vn


… … …

Thép Gió rơi vào ngõ nhà bà khi trời vừa sập tối. Nghe tiếng quê xuôi, bà mừng khôn  xiết.

Bà nấu cơm cho cán bộ kháng chiến ăn. Lại khoe quê bà có chùa Bút Tháp có tượng thiên thủ thiên nhỡn, nghìn mắt nghìn tay. Từ chuyện chùa Bút Tháp sang chuyện chùa Hang. Bà bảo ở vùng Đồng Bẩm - Thái Nguyên có chùa Hang rất thiêng, mồng một ngày rằm bà vẫn đi chùa Hang cúng Phật. Bà đã rút hầu bao cho nhà chùa đủ tiền tạc một pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát dựng bên một vách núi, gọi là “cúng dường”. Từ chuyện chùa Hang đến chuyện ông Thiều “chổi lau” viết kinh, dạy học, cứu tế, dạy dân làm ăn.  Nghe tiếng “Thiều chổi lau” anh giật bắn người.

- Cháu hỏi khí không phải, có phải cụ vừa nói ông Cây chổi lau phải không ạ?

- Làm gì có ông Cây chổi lau? Đây chỉ có ông Thiều Chửu, tên chữ Nho là cái chổi lau. Ông tự ví mình như cái chổi lau quét dọn trong nhà, trong nước, cho sạch sẽ. Ông ở đâu là nơi đó thứ tự, ngăn nắp, đâu vào đấy, trẻ con được học hành, người lớn biết chữ.

- Ông có tu Phật và ở nhà chùa không ạ?

- Ông đi tu nhưng không cạo trọc đầu. Ông còn dạy chữ Nho cho các sư nhà chùa. Ông nói gì các nhà chùa đều theo răm rắp. Như việc cày ruộng cấy lúa. Sau lũy tre chùa là ruộng chùa. Sân chùa bây giờ cũng làm nơi đập lúa, phơi lúa.
 
- Thì chính cháu đang tìm ông Thiều Chửu ấy, trên chiến khu kể chuyện ông, gọi tên ông là Cây chổi lau. May quá gặp cụ đây. Cụ làm ơn mách cháu về Phú Bình làm thế nào tìm được ông Thiều Chổi lau ạ!

- Ông không ở Phú Bình nữa. Ông đang viết sách trên chùa Hang - Đồng Bẩm. Cậu muốn gặp ông ấy, mai đi với tôi lên chùa Hang.

Như có một bàn tay sắp sẵn từ trên cao. Sáng hôm sau anh đi ngược trở lại thị xã hoang vắng, theo sau một bà già bước đi thoăn thoắt ra bến đò qua sông Cầu. Chị lái đò chỉ cho anh thấy chiếc cầu Đổng Bẩm đã bị phá sập đổ xuống, không thấy thảm thương, chỉ thấy ngang tàng. Chẳng bao lâu chúng tôi đã tới chùa Hang.

Chùa Hang là một ngôi chùa nằm ẩn mình trong một dãy hang động kỳ thú, có cửa thông nhau, có hang lên cửa trời, có những cột đá sù sì, như trời dựng lên để chống đỡ nóc hang, chùa thờ Phật trong hang rất thiêng, có những bàn thờ từ ngách núi nhô ra làm bệ đỡ tượng Phật. Ấy là Thép Gió nghe bà Trầu Lưu Xá kể cho biết vậy. Buổi chiều đến chân hang, anh chỉ thấy một vòm hang lớn chạy tun hút vào trong núi. Người ta dựng ngoài hang một ngôi nhà lớn cho thiện nam tín nữ đến chờ vào chùa thắp hương niệm Phật, có mấy gian thờ Tổ, những vị sư đầu tiên đến dựng chùa, có dãy nhà riêng dành cho các tăng ni. Ông Thiều Chửu ở dãy nhà này. Nghe báo tin có chú thanh niên ở chiến khu về mang thư cho ông thì ông vội chạy ra đón. Thép Gió vẫn tưởng tượng ông như một nhà sư mặc áo dài nâu gài khuy nách, nhưng ông chỉ giống một ông già nông dân vừa đi làm đồng về, tóc râu muối tiêu, áo cánh nâu bạc phếch, có mụn vá to trên vai. Chỉ khác mỗi cái trán to nâu bóng không một vết nhăn và đôi mắt sáng trưng, trong trẻo không chút ánh mờ của tuổi già.

- Ta chính là Thiều Chửu, cái chổi lau đây. Con muốn gì? Không khác nào trong truyện cổ tích: Ta là Bụt đây, con muốn gì?

Thép Gió cúi lạy ông và nói:

- Thưa thày, có ông Trần Đại Nghĩa năm ngoái đã đi theo cụ Hồ từ Pháp về, đã đến thăm thày ở Phú Bình, nay có thư gửi thày đây ạ!

Chỉ một câu ấy, chàng trai trở thành khách ở cùng phòng với Thiều Chửu, một nhà nghiên cứu Phật học, có cốt cách của một hòa thượng, một người có cuộc đời như trong huyền thoại....

...Cây chổi  lau

Hai người, một già một trẻ, ngồi trước ngọn đèn dầu thắp nhỏ để đỡ tốn dầu. Hai bóng người chập chờn trên vách tường ngôi nhà tăng.

- Ta không là gì cả. Ta chỉ là cái chổi lau thôi.

- Cái chổi lau vĩ đại. Quét một nhát sạch một bể trầm luân.

- Con học ở đâu hai chữ vĩ đại thế? Con đừng nói sự to tát. Con nói ta nghe, từ khi đi kháng chiến, người con trai Hà Nội biết thêm những gì. Đừng nói những bí mật chiến khu. Chỉ nói chuyện đời thôi. Những chuyện tầm thường, như cây cỏ, con cá dưới suối, con trâu gõ mõ trên rừng…

- Con rời thành phố đúng đêm mười chín tháng mười hai năm ngoái, con đi qua một mùa đông trong rừng, con ăn một cái Tết trong rừng, đến nay đã đầu thu, con trở về xuôi. Con thấy mình như đi qua cả một cuộc đời mới lạ, cái gì đối với con cũng to tát. Như con muỗi bé nhỏ mà nó có thể làm chết hơn trăm con người. Nó không bé nhỏ. Lại như một bà già người Thổ, thời con gái bị bán cho Tây mà làm nên cả một cơ nghiệp buôn bán gỗ, có nhà Tây, có thuyền buồm, ủng hộ kháng chiến hàng ki-lô vàng, cho nhà máy chúng con cả một chuyến thuyền buồm chở sắt thép lên rừng, lại cho bao nhiêu gạo, chăn màn, quần áo. Ai biết đâu cuộc đời bà đã được kể lại trong một cuốn tiểu thuyết do một nhà địa chất đứng đầu việc thăm dò mỏ ở Đông Dương kể lại, không khác gì truyện cổ một nghìn một đêm lẻ trên thế giới. Con được thấy cây sui, nhựa nó rất độc, nhưng vỏ nó làm chăn đắp cho chúng con qua một mùa đông. Con đã thấy một người con gái xinh đẹp bị rắn độc cắn, rắn độc có thể làm cô bị mất một bên chân, nhưng không mất một người y tá có thể thuộc hàng trăm cây lá rừng chữa bệnh, làm chủ một vườn cây thuốc cứu người.

Thép Gió cảm thấy mình nói huyên thiên. Anh im bặt. Anh thấy phải nói về chính “cây chổi lau” mà anh sắp phải nhờ vả:

- Con được nghe ông Trần Đại Nghĩa kể chuyện về một người thày đã được cụ Hồ mời làm Bộ trưởng trong chính phủ, nhưng ông từ chối để sống một đời thường, không tầm thường tí nào. Ông không được học một ngày nào, chỉ tự học thôi, vậy mà ông làm được cả một bộ từ điển Hán Việt hàng vạn chữ. Ông không có một đồng xu trong túi, mà vận động cứu tế cho hàng nghìn người qua nạn lụt, nạn đói. Ông không chỉ cứu đói ăn, còn cứu đói chữ cho dân. Hôm nay con sung sướng được ngồi trước mặt người thày ấy.

- Anh làm ta xấu hổ đấy. Để ta kể cho nghe những ngày bằng tuổi anh, ta đã hèn kém như thế nào. Không được như anh bây giờ đâu: tung bay từ phố lên rừng, từ rừng về phố, được giao trọng trách lặn lội vào vùng địch, không sợ hiểm nguy, một khoác khăn gói, một bao gạo nhỏ, một đôi dép cao su, cứ thế mà đi, tìm được ta ở chốn chùa Hang này. Anh muốn nghe ta kể không?

-  Dạ, con nghe. 

- Ta tên thật là Nguyễn Hữu Kha, một trong tám người con của cha ta là ông Nguyễn Hữu Cầu. Cha ta đã đỗ cử nhân Hán học, đã cùng nhiều người sáng lập ra trường Đông Kinh Nghĩa Thục, con biết danh tiếng của trường này chưa? Đó là trường tân tiến theo đường lối của ông Phan Chu Trinh, dạy các em biết yêu nước, biết tổ tiên mình không phải giống Gô-loa như người Pháp dạy, dạy cắt tóc ngắn bỏ tóc đuôi sam giống người Tàu. Cha ta đã bị Pháp bắt, đày đi Côn Đảo nhiều năm, rồi mới được thả. Năm ngoái cha ta chết. Dù sao ông cũng được trông thấy độc lập, tự do rồi mới chết [1]. Nguyễn Hữu Cầu là con trai cử nhân Nguyễn Hữu Quý. Nguyễn Hữu Quý là con trai Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, thời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn. Ông cố ta là Nguyễn Văn Lý, đã làm quan triều Nguyễn, giữ chức gì ta không biết, chỉ biết ông làm trong Hàn Lâm viện; lại làm Tri phủ ở Thuận An, án sát, tức là quan coi về pháp lý, ở Phú Yên, Trung bộ; rồi làm đốc học ở Hưng Yên [2].  Ta phải kể như thế để con biết rằng ta là con nhà có học, trong nhà ta chất đầy sách vở, sách quý để trong từng bồ để khi có loạn thì có thể nhanh chóng chở đi được. Đến đời bà nội ta tên là Quý thì đã có thêm chữ quốc ngữ bây giờ. Tuy nhà có học nhưng đến đời ta thì ta không được cắp sách đến trường một ngày nào. Vì cha ta bị đầy đi Côn Đảo. Mẹ ta một nách tám con trai con gái, suốt ngày tần tảo làm ruộng, buôn bán kiếm ăn nuôi được chúng ta lớn lên đã giỏi lắm rồi. Chỉ có ông anh ruột ta sinh năm 1900 thì được đi học, sau đi dạy học kiếm tiền giúp mẹ nuôi em [3]. Không đến trường ngày nào, nhưng ta được bà nội dạy cho chữ Hán và chữ quốc ngữ. Ta chỉ học ở nhà, vừa giúp mẹ xay gạo, giã gạo làm hàng xay hàng xáo, vừa quét lá khô, phơi rơm rạ, trèo cây bẻ cành kiếm củi, lấy cái đun bếp. Đến mùa thì thêm nhiều việc như phơi thóc, quét sân, mót lúa đồng… Ta được cái có trí khôn, học chữ nào nhớ chữ ấy. Người ta cứ bảo học chữ Hán khó hơn chữ quốc ngữ la-tinh, theo ta không đúng. Biết cách học thì học chữ Hán cũng dễ như không. Ta học đến năm bằng tuổi con bây giờ thì đã đọc hết Tứ thư, Ngũ Kinh, Kinh Thi, Kinh Dịch biết hết, còn được khen là giỏi nữa. Nhưng giỏi chữ mà không biết làm gì để kiếm ăn nuôi mẹ già. Chữ Hán bấy giờ đã xuống trào, ta trở thành con mọt sách. Ta cố công học ông anh Nguyễn Hữu Tảo để biết thêm chút tiếng Pháp, nhưng cũng chỉ đủ đọc được sách mà không làm nổi thông ngôn. Hàng năm giời vẫn phải ăn bám vào gia sản ông cha để lại, tất cả cạn kiệt dần. Ta xấu hổ lắm. Mang tiếng là tài trai, giỏi chữ, con gái làng Đông Tác nhiều cô ngấp nghé, nhưng ta biết thân phận mình, không dám đua đòi. Sau anh có biết ta vượt ra khỏi sự hèn kém của mình thế nào không? Một hôm ta lục trong bồ sách của gia đình bỗng gặp được một bản sách chép tay, chữ của ông nội ta là Nguyễn Hữu Quý đậu cử nhân khoa Bính Tuất năm 1886. Bản sách tên là Cúc đường thi thảo, sao chép thơ của nhà thơ Cao Bá Quát, hiệu là Cúc Đường. Bản sách chép gần hai trăm bài thơ của Cao Bá Quát. Thần Siêu - Thánh Quát, con có biết danh hiệu ấy không? Không ngờ trong bồ sách quý nhà ta lại có tập thơ này. Ta hỏi ông anh ta là ông Nguyễn Hữu Tảo thì mới biết, thì ra ông cố ta là Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý vốn là bạn thân của nhà thơ Cao Bá Quát. Hai ông đã xướng họa thơ với nhau và làm thơ tặng nhau rất nhiều. Hễ có bài thơ nào là Cao Bá Quát lại chép một bản gửi cố nội ta và từ cố nội ta mà truyền đi ngâm vịnh, xướng họa trong bạn bè. Trong số đó có cả những bài thơ trong thời kỳ Cao Bá Quát thua trận ở Mỹ Lương và ẩn tránh ở các chùa trong vùng rừng núi. Nói để con biết, theo cố nội ta truyền miệng cho ông nội ta là cụ Nguyễn Hữu Quý thì không phải cái năm giặc châu chấu ông Quát bị bắn chết bêu đầu. Mà đó là cái đầu lâu của một người thuộc hạ có khuôn mặt giống ông Cao, bị các quan nhận nhầm hoặc cố ý nhầm, để lập công tâu với triều đình là ông Cao bị bắn chết, bị chặt đầu, sau đó triều đình ra lệnh đem đi bêu đầu ông ở quê làng Sủi rồi ở cổng thành Hà Nội… Cái đầu treo cao, khuôn mặt biến dạng ai biết đấy là đâu !? Nhưng thật sự ông Cao không chết như thế ! Cố nội ta đã nhờ những người tam phúc bảo vệ ông, đưa ông đi trốn tránh khắp nơi. Từ đấy hai người không gặp nhau nữa, nhưng vẫn có tin của nhau. Ông Cao có thơ vẫn tìm cách bảo người chép lại, để khỏi lộ mặt chữ, gửi cố nội ta đọc. Bao nhiêu thơ của ông Cao, cố nội ta bỏ hết vào trong một cái bồ lót lá chuối khô, cái giống lá chuối khô ấy bảo vệ bản thảo cực kỳ hay, vừa chống ẩm lại vừa chống được cả mối mọt. Cố nội ta chết năm Mậu Thìn, tức năm 1868, có dối dăng cho ông nội ta là Nguyễn Hữu Quý, bảo cố học cho văn hay chữ tốt, sau này lục lại bồ thơ của ông Cao, chép vào một tập sách để lưu truyền cho hậu thế. Lại bảo sẽ đặt tên bản thảo là Cúc đường thi thảo. Cúc đường là nhà hoa cúc. Ông Cao vẫn thường ví mình cùng với ông anh sinh đôi là Cao Bá Đạt, một người như hoa cúc nở muộn, một người như hoa mai nở sớm, ý nói hai người sinh vào một tháng cuối thu, đầu đông, cúc thì đã muộn, mai thì còn sớm.

Về việc ông Cao không chết trận đến đời ta cũng chỉ biết lơ mơ như thế, nhưng vào năm 1944, ta có dịp về Hà Nội lĩnh tiền hậu bút cuốn Hán Việt tự điển, ta có hỏi thăm và ghé chơi nhà ông Cao Bá Thao tức thi sĩ Thao Thao, ông này kém ta bảy tám tuổi gì ấy [4], thì được biết dòng họ Cao cũng lặng thầm truyền nhau ông Cao không chết trận, con trai ông Cao cũng không chết vì tội tru di, mà được đưa đi trốn, sau lớn lên có một lần về làng rồi đi biệt tích từ đó.

Như vậy là ông nội ta, cụ Nguyễn Hữu Quý đã tuân theo di chúc của cha, cố gắng học hành, đỗ cử nhân khoa Bính Tuất, năm 1886. Về sau, ông dốc bồ thơ của Cao Bá Quát, chép lại từng bài. Cha ta nói ông bỏ mấy năm trời miệt mài ghi chép bộ Cúc Đường thi thảo. Đến lượt ta giở ra đọc, thì đọc đến đâu ta tỉnh người ra đến đấy. Thứ nhất, ta thấy mình hèn kém quá, thơ ông Cao đã đánh thức lòng tự trọng của ta, thấy ra rằng giữa lúc chữ Hán xuống trào này, thì chính ta phải là người khơi dậy, cho mọi người biết rằng muốn thức tỉnh linh hồn dân tộc thì phải biết chữ Hán, có biết mới đọc được thơ Nguyễn Trãi, thơ Cao Bá Quát, mới khui ra cả một nguồn Hán văn các cụ để lại. Lúc bấy giờ đối với cụ Nguyễn Du, có phải chỉ có truyện Kiều thôi đâu. Còn có cả một kho thơ chữ Hán của cụ nữa !. Không đọc không biết các cụ nghĩ gì, cảm thấy gì. Đấy là những ý nghĩ đầu tiên khiến ta xem xét lại mình, coi mình có thể làm ra một cuốn sách giải nghĩa chữ Hán hay không. Muốn thế phải tu luyện trau dồi những gì. Ta đâu biết rằng từ những ý nghĩ đầu tiên ấy, gần hai mươi năm sau ra đời bộ Từ Điển Hán Việt mang tên ta. Thứ hai, ta nói cho con biết thơ ông Cao đã đánh thức ta thế nào. Trong một bài thơ viết trong một tiệc rượu ở nhà ta tại Đông Tác, ông Cao viết: Xin bạn hãy rót đi, rót nữa đi, uống cho thật nhiều / Há chẳng thấy rằng: kìa con chim hồng chim hộc bay tít tận mây xanh / Chim hạc đen ngủ một mình bên sườn núi / Còn những con chim vàng, con chim vàng quanh quẩn kiếm ăn trong lồng son… Đọc câu ấy ta thấy ngay chính là ta không dám làm con chim hồng chim hộc, mà chỉ làm con chim vàng sống quanh quẩn bám váy mẹ mà thôi.

Tình bạn giữa ông Cao với cố nội ta, biệt hiệu là Tuần Phủ, bao giờ cũng u ẩn một tâm trạng như thế. Một hôm ông Cao nằm mơ thấy mình đến thăm ông Tuần Phủ, viết luôn hai bài, có những câu ta chắc cố nội ta không thể nào quên. Khổ vì nỗi sống ở đời đã lấy mắt xanh mà đối đãi nhau / Tin chắc rằng lòng son dù đến chết cũng không lạt (Khổ liên thanh nhãn sinh tương hứa / Độc tín đan tâm tử vị hôi). Hay là: Tấm thân trôi dạt này biết có làm nên chuyện gì / Cả một mùa xuân tiều tụy, đau ốm đã hàng năm rồi. Riêng ta thì nhập tâm những câu thơ như thế này: Ai biết ngày mai nóng hay rét? / Sao cứ ngồi đây mãi cho lòng xót xa? Hay là: Hãy nghe ta hát khúc ca đường cùng / Phía Bắc núi Bắc núi muôn trùng / Phía Nam bể Nam  sóng muôn đợt / Anh còn đứng làm chi trên bãi cát? Đấy cũng chính là tâm trạng ta những ngày ấy. Mái tóc cằn vẫn thương ta còn sống / Cỏ mê dương cớ sao vướng bước ta đi? Cỏ mê dương tức là cây xấu hổ ấy mà. Ta muốn làm theo lời ông. Ông làm thơ về hoa sen, bảo rằng làm hoa thì hãy làm hoa sen, hương thanh, thân thẳng, dáng xinh tươi. Công thành, chí toại rồi thì đi tắp / Không dây dưa gì với các loài hoa cỏ tầm thường. Nhất là câu này, ta không nhớ ở bài nào: Muốn thử khơi cả trăm hộc nước dòng Tô lại / Rửa cho người đời hết bụng dạ dơ dáy [5]. Sau này ta lấy bút hiệu Thiều Chửu – Cái chổi lau – là bắt đầu từ câu thơ này. Không dám làm dòng nước sông Tô, chỉ làm cái chổi lau thôi, quét bụi bặm cho con người.

Con hỏi ta tại sao ta lại theo đạo Phật ư? Cũng bắt đầu từ một bài thơ của ông Cao. Ta đọc bài thơ Chơi động Tiên Lữ. Động Tiên Lữ tức là cái chùa Hang này. Ta thuộc lòng cả bài thơ. Ta đọc con nghe nhé, ta chỉ đọc lời dịch thôi, còn bài chữ Hán mới thật hay nhưng có đọc con cũng chẳng hiểu gì đâu:

Ông trời sao cũng lắm chuyện
Bày đặt ra những quả núi ở Thái Nguyên
Chỉ một hòn nhỏ bằng nắm tay thế này
Mà biết bao công phu thần đục, quỷ chạm
Thành một cái động cổ rộng thênh thênh
Trong có những vầng đá lởm chởm thành những ngọn núi
Một lối hẹp xuyên vào nơi bậc đá cheo leo
Tưởng như có thể thông lên tận trời được
Những cụm mây già, những hòn đá kỳ quái
Cao chót vót, hết cách vin trèo
Chỉ có những loài vượn, loài chim
Lên tiếng gọi nhau, con qua con lại
Không biết người nào ngày xưa
Đã xây dựng nên ngôi chùa ở chốn này?
Sắc vàng màu biếc một vẻ sáng tươi
Nơi đây nhiều khí độc
Lại thêm mưa gió phũ phàng
Những ngọn núi nổi tiếng khó mà đi chơi cho khắp được
Vừa cất chén rượu mà ý đã ngập ngừng rồi
Núi Hoắc Sơn, hồ Ba Bể man mác những mây
Ta muốn tới đấy nhưng đường đi trắc trở
Ai có thể chuyển giúp ta cả một góc động này
Về đặt bên Hồ Tây, giữa khoảng hai gò Châu Long và Phượng Chủy.


Ta không thể giảng cho con nghe thấu cái hay của bài thơ này, trong từng lời, từng chữ có cả nhạc, họa, âm thanh, màu sắc, nhịp điệu lúc khoan lúc mau, mà rất tự nhiên như thiên nhiên hiện hình lên vậy. Phải đọc phiên âm chữ Hán mới thấy hết tất cả những cái hay đó. Ta chỉ muốn nói thêm rằng trong bài thơ không chỉ ông trời mới coi cái núi chùa Hang như “một hòn nhỏ bằng cái nắm tay thế này”, mà đó chính là cái nhìn của nhà thơ với tư cách là một con người, một con người làm chủ đất trời này. Bởi vì ở cuối bài thơ, ông đã thốt lên câu này: “Ai có thể chuyển giúp ta cả một góc động này / Về đặt bên Hồ Tây, giữa khoảng hai gò Châu Long và Phượng Chủy”.

Chính bài thơ này khiến ta nổi máu anh hùng, một thân một mình, với cái bao ruột tượng vài bơ gạo và mấy đồng bạc, dám đi bộ lên Thái Nguyên, hỏi thăm đường, xem cảnh chùa Hang, mà trong thơ gọi là động Tiên Lữ. Ngày đi đêm nghỉ, đói thì xin ăn, chính trong việc xin ăn này ta thấy ra ở đời còn rất nhiều người có lòng từ thiện, khi ta đi xin ăn thì có nghĩa ta khuyến khích, kêu gọi những tấm lòng từ thiện ấy. Ta tìm lên đúng cái chùa Hang này và thấy hết cái hay của bài thơ. Không thể không thốt lên một câu thán phục như Cao Bá Quát: Không biết người nào ngày xưa / Đã dựng nên ngôi chùa ở chốn này. Và ở đây ta đã gặp một nhà sư. Trong một ngôi nhà ở chính cái vị trí này nhưng tồi tàn hơn bây giờ rất nhiều. Ngày đó chùa còn nghèo lắm, bao nhiêu công sức, tiền bạc chúng sinh cúng dường đều chăm lo cho cái chùa bên trong hang, không còn là “thần đục, quỷ chạm” như trong bài thơ nữa, mà là những tay thợ tài năng khéo léo đục chạm, tỉa tót từng gờ đá, từng kẽ đá, mới được như ngày nay. Nhà sư đã trò chuyện với ta một đêm như đêm nay ta ngồi với con, dưới một ánh đèn dầu như thế này, chỉ khác là dầu lạc với bấc đèn bằng ruột một loài cây. Ta bắt đầu hiểu đạo Phật từ vị sư thày này, tên ông là Thiền Đăng, tức là ngọn đèn thiền. Ông không ngờ là ta biết chữ Hán. Lần đầu tiên ông biết Cao Bá Quát có bài thơ tả cảnh động Tiên Lữ chính là cái động chùa Hang nơi này. Và ta đã nhận lời giúp sư thày dịch một pho sách kinh Phật cho nhà chùa. Ta viết thư về nhà báo tin rằng ta đã có công ăn việc làm. Ta không kể việc gì. Chỉ nói rằng từ nay ta không về nhà nữa. Thế mà có một nguồn tin nào đó đến với ông anh ta là thày giáo Nguyễn Hữu Tảo. Ông viết thư lên chùa Hang bảo là ở nhà đã biết ta đang làm những việc lớn lao, xứng đáng với gia phong. Ông khuyến khích ta đi theo đường lớn, mọi việc trông nom mẹ già đã có ông, ta không phải lo gì nữa. Pho sách Phật đầu tiên ta dịch là bộ kinh Đại thừa Vô lượng Phật. Bộ kinh kể rằng đức Phật đã khám phá ra những thế giới kỳ diệu bên ngoài hành tinh này. Không một đầu óc nào có thể tưởng tượng ra cây Bồ Đề có gốc to muôn trượng. Những tường vách, cột, thềm chạm trổ và gắn những vật báu tỏa ánh hào quang ngoài muôn dặm. Bộ kinh kể tên những vị Bồ tát ở dưới trần gian này đã ghé chân lên thế giới ấy. Ta bắt đầu giác ngộ đạo Phật từ bộ kinh này và từ vị sư có tên là Thiền Đăng này. Ông dạy ta ngồi thiền và kể rằng đức Phật đã ngồi thiền 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ Đề. Và chính nhờ phương pháp Thiền mà ta đánh thức được cái tiểu vũ trụ trong đầu chúng ta, chính nó giúp ta đi tới được cái đại vũ trụ, đi tới các đại hành tinh, tiểu hành tinh bao bọc xung quanh ta. Đó chính là cái bí ẩn tuyệt diệu nhất, vĩ đại nhất của con người mà chúng ta không hề biết, mà đức Phật đã khám phá ra. Đức Phật không phải là nhà truyền giáo, đức Phật trước hết là một nhà khoa học.

Trong vòng mười năm ta đã dùi mài học thêm chữ Hán, đã dịch nhiều bộ kinh Phật, đã học Phật pháp nhiệm màu, và đã tới được trình độ có thể làm ra bộ từ điển Hán Việt để giúp người đời đọc được thơ chữ Hán của các vị cao tăng nước ta, của Nguyễn Trãi, của Nguyễn Du, của Cao Bá Quát. Các vị ấy làm thơ chữ Hán, dẫn nhiều tình tiết từ sử sách nước Tàu, nhưng nội dung thơ lại thấm đậm một tâm hồn người Việt.

Vậy là bàn tay đức Phật đã dẫn dắt ta đi khắp các ngôi chùa vùng Bắc bộ này, từ miền núi xuống tới đồng bằng. Ta làm quen khắp các vị cao tăng. Ta quan sát hoạt động của các chùa và đối chiếu với Phật pháp. Ta bắt đầu thấy rằng Phật giáo nước ta đã có nhiều thay đổi không hay so với gốc đạo. Ví dụ như nhiều nhà chùa không biết công việc đồng áng, vườn tược là gì, sinh hoạt ăn uống tất thảy trông vào xôi oản, hoa quả chúng sinh cúng dường. Quá nghiêm túc về nghi thức, trọng hình thức mà coi nhẹ tinh thần. Chú trọng quá nhiều việc tụng niệm, khác nào chỉ niệm di đà mà đợi cái chết vãng sinh. Các sách Phật  dịch từ chữ Hán còn quá nhiều từ phiên âm gốc Hán khiến chúng sinh đọc không hiểu gì, chỉ biết nhồi nhét cho thuộc lòng. Ta nghĩ nhiều đến việc góp phần cải thiện đạo Phật ở nước ta. Thiều Chửu này chỉ muốn làm một cái chổi lau, quét sân chùa. Con đã buồn ngủ chưa?

 
                                          (TẠM DỪNG Ở ĐÂY – SÁCH SẮP XUẤT BẢN)

XC


[1] Cử nhân Nguyễn Hữu Cầu (1879-1946) đồng sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục.
[2] Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868), đỗ cử nhân năm Ất Dậu (1825), đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1832), bạn thân và là bạn vong niên của nhà thơ Cao Bá Quát (sinh 1809).
[3] Nhà sư phạm nổi tiếng Nguyễn Hữu Tảo (1900-1966).
[4] Nhà thơ, nhà văn Thao Thao tức Cao Bá Thao (1909-1994).
[5] Đêm nghe gảy đàn tranh. Cao Bá Quát toàn tập, tập I, trang 259.
 

Ảnh minh họa: info@caobaquat.com.vn

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp