• Pic Mgmt

    DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG CỔ - TAM ĐẢO

    ...Trên đây là một số thông tin liên quan đến Tam Đảo, rất hữu ích cho những ai một lần muốn khám phá, trải nghiệm. Tuy nhiên, ít trekker (người thích leo núi, băng rừng), thậm chí cả người dân bản địa biết rằng, trên ngọn núi Thạch Bàn, xưa kia đã từng tồn tại một ngôi chùa (đúng hơn là đền) Đồng Cổ cách đây đã hàng ngàn năm, cùng thời đại với các vua Hùng dựng nước...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG BỨC TƯỢNG KỲ LẠ NHẤT VIỆT NAM

    Ở Việt Nam, có những bức tượng rất kỳ lạ như: Bức tượng có thể đứng lên ngồi xuống, tượng giống như người thật, tượng Phật ngự trên lưng vua...Các điện thờ ở chùa miền bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật, la hán... nhưng không nơi đâu có được pho tượng lạ như ở chùa Hòe Nhai (Hà Nội). Pho tượng đôi, một quỳ, một tọa trên lưng người quỳ...

  • Pic Mgmt

    Con đường sang trọng bậc nhất Sài Gòn thay đổi qua 3 thế kỷ

    ...Đường Đồng Khởi (quận 1, TP HCM) dài 630 m vốn có từ thời Nguyễn, là đường dành riêng cho vua đi thẳng từ thành Gia Định ra sông Sài Gòn. Sau này, người Pháp đã quy hoạch thành một trong những con đường chính của thành phố và được đặt tên là đường số 16...

  • Pic Mgmt

    LÀNG CA TRÙ LỖ KHÊ

    ...Người ta vẫn nhắc đến ngôi làng ca trù Lỗ khê là đất tổ ca trù của vùng châu thổ sông Hồng tính đến nay đã được 600 năm tuổi. Cũng như bao làng quê Việt nam khác, Lỗ Khê là một ngôi làng nhỏ ngoại thành Hà Nội, cuộc sống của người dân ở đây kiếm sống bằng nghề nông và có vài ba nghề phụ. Nhưng có một nghề ở đây mà dân trong làng từ đời tổ tiên đã kiếm sống bằng nghề này đó là nghề hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO KHOA HỌC: DANH TƯỚNG CAO LỖ THỜI DỰNG NƯỚC

    Danh tướng Cao Lỗ là một vị anh hùng dân tộc, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu dựng nước, được nhân dân ta sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng ngàn năm lịch sử...

  • Pic Mgmt

    VĂN TẾ CAO BÁ QUÁT

    Bài viết của nhà văn Xuân Cang (đọc tại lễ kỷ niệm 150 năm Danh nhân Cao Bá Quát qua đời, tại quê hương làng Sủi -Phú Thị- Gia Lâm- Hà Nội, ngày 2-3 âm lịch, năm Ất Dậu 2005)...

  • Pic Mgmt

    KHẢO THUẬT VỀ CÁC CỔ TỊCH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆT NAM...

    Số lượng văn hiến có liên quan đến Việt Nam trong lịch sử Trung Quốc khá phong phú, nhưng nhiều tác phẩm đã thất lạc, số còn lại thì việc chỉnh lý và sử dụng cũng chưa được bao nhiêu. Bài viết này, trên cơ sở thư mục xưa nay và các điển tịch liên quan, thử tìm hiểu rõ tình trạng cơ bản của loại văn hiến này về các mặt: phân bố lịch sử, hiện trạng mất còn, quan hệ giữa chúng với nhau, đồng thời trình bày vắn tắt giá trị của chúng...

  • Pic Mgmt

    PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG - DI TÍCH VÀ HUYỀN THOẠI

    ...Theo truyền thuyết, Phù Đổng là nơi sinh ra Thánh Gióng. Mẹ Gióng ướm bước chân thần ở vườn cà mà sinh ra. Thời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân xâm lược nước ta, Gióng lên ba, thoắt nói, thoắt cười, thưa mẹ đòi sứ giả vào, xin nhà Vua sắm cho ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt. Vua Hùng cho người mang đến...

  • Pic Mgmt

    LÊN BẮC VỀ NAM

    Lời giới thiệu: Thượng tọa Thích Viên Như (Viên Như) hiện là sư trụ trì chùa Linh Sơn, Đà Lạt. Thầy là người rất tâm huyết với văn hóa dân tộc. Tôi xin trân trọng giới thiệu nội dung bài viết LÊN BẮC VỀ NAM để mọi người tham khảo.

  • Pic Mgmt

    CHÙA TẢO SÁCH, NGÔI CỔ TỰ HƠN 600 NĂM TUỔI

    Thời tiền Lê, trên nền thảo am cô tịch, người dân đã xây dựng thành chùa Tảo Sách với ý nghĩa là đọc sách dưới ánh ban mai. Đến thế kỷ XVI, thiền sư Thủy Nguyệt, vị sư tổ đầu tiên của phái Tào Động, truyền thụ đệ tử trụ trì các chùa quanh hồ Tây, chùa Tảo Sách còn có tên gọi là Tào Sách, thuộc Sơn Môn, có tên chữ là Linh Sơn tự...

  • Pic Mgmt

    KẺ CHỢ - KITTIGARA XA XĂM THÂN YÊU

    Để mở đầu bài viết tôi xin trích Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích địa danh Kẻ Chợ như sau: Ngoài một cụm từ khá mới: “Hạt nhân kinh tế -xã hội”, mấy thông tin chủ yếu trong mục từ nói trên đại thể cũng giống như Lịch sử Việt Nam Tập I đã viết ngót 30 năm trước: “Thăng Long bấy giờ quen gọi là kinh kỳ hay Kẻ Chợ, là một thành thị vào loại lớn ở Á Đông...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN TỤC NGƯỜI RỤC

    Nghe chúng tôi chia sẻ thông tin, người Rục Việt Nam lọt vào top 10 bộ tộc bí ẩn nhất thế giới, ông Đinh Thanh Dự- Nhà nghiên cứu văn hóa các tộc người ở Quảng Bình gật gù: "Đúng là bí ẩn thật!". Gần hết một đời người bỏ công nghiên cứu về các tộc người thiểu số ở miền Tây Quảng Bình, đến giờ, tộc người Rục vẫn còn nhiều ẩn số mà ông Dự vẫn chưa giải mã được...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ DỊCH LÍ & CHỮ VUÔNG...

    …những bằng chứng cho thấy rằng chính người Lạc Việt đã sáng tạo nên hệ thống dịch lí và chữ vuông. Do hoàn cảnh lịch sử, câu chuyện ấy đã được kể lại hoặc là mơ hồ hoặc là dưới tên của dân tộc khác. Tuy nhiên, tổ tiên người Việt đã khéo léo cất dấu cái văn hóa huyền vĩ của mình dưới những cách thức khác nhau của ngôn ngữ…

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO

    ...Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

    Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc...

Chi tiết

CAO BÁ QUÁT CÓ BỊ GIẾT...

Đăng lúc: 2014-03-29 15:10:00 - Đã xem: 2667

Cao Bá Quát - Có bị giết như sử sách nhà Nguyễn ghi ?

Xuân Cang (10/11/2008 11:28:16 AM )
 
   















    

Nhà văn Xuân Cang. Photo: Cao Bá Nghiệp

1 - Từ góc nhìn Bát quái chúng tôi đã tìm thấy Ngày Giờ sinh và số mệnh Cao Bá Quát:

Như có hồn thiêng của Người hiện về mách bảo, chúng tôi đã căn cứ vào nhiều nhà nghiên cứu, xác định năm sinh của CBQ là năm Mậu Thìn (1808), lại căn cứ những bài thơ có liên quan đặt giả thuyết ông sinh ngày 9-9 âm lịch năm đó. Sau đó sử dụng thuật toán Hà Lạc do nhà tiên tri Trần Đoàn đời nhà Tống (Trung Hoa) sáng tạo và công nghệ máy tính tìm ra giờ sinh là giờ Tị (từ 9 -11g) ngày nói trên, can chi là năm Mậu Thìn, tháng Nhâm Tuất, ngày Nhâm Thân, giờ Ất Tị.

Từ can chi này mà dùng thuật toán Hà Lạc tính ra số mệnh thì thấy ra ông được quẻ Kinh Dịch tên là Địa Thủy Sư, chủ mệnh hào 5, từ quẻ này mà tìm ra từng chặng đường đời, từng năm. Lại lấy từng lời phán đoán trong quẻ Dịch đối chiếu với niên biểu CBQ và thơ ca CBQ thì bàng hoàng nhận thấy từng chặng đường, từng năm, lời quẻ lời hào phán xét ra sao, thực tế hành trạng và thơ ca của nhà thơ diễn biến đúng như thế, ăn khớp nhau một cách kỳ lạ. Điều đó chứng tỏ rằng giả thuyết về ngày giờ sinh đã đúng với thực tế.  Ví dụ: Tiền vận ông Cao gồm 39 năm (1808-1846) được quẻ  Địa Thủy Sư, hào chủ mệnh chi phối những năm tiền vận là hào 5. Sư là Đám đông, là Quân đội. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, hoặc làm lính thì trở thành người chỉ huy quân đội. Hào 5 quẻ Sư thuộc về mệnh của người nguyên thủ đất nước bảo rằng: Đất nước bị xâm hại, việc ra quân không lỗi. Khi có việc dùng binh hãy dùng người lão thành làm tướng cầm quân, nếu dùng bọn tài đức kém, thì phải chở thây mà về, dù có danh nghĩa chính đáng, kết quả vẫn xấu.


Đối chiếu với hành trạng và thơ CBQ, chúng tôi nhận thấy đúng là ông có mệnh quẻ Sư hào 5. Nhiều nhà nghiên cứu đều có chung nhận xét thơ CBQ có khẩu khí đế vương (nguyên thủ) từ rất sớm. Chúng tôi sơ bộ tách ra trong 418 bài thơ Tập I Toàn tập Cao Bá Quát có 60 bài mang khí thế và suy ngẫm người quẻ Sư. Tiêu biểu nhất là bài:
   

Vũ Hầu xuất sư biểu

      (Bài biểu ra quân của Vũ Hầu Gia Cát Lượng (tr. 1079):


(Dịch)

Chí cũng muốn phò Viêm Hán

Lòng những bời bời việc ra quân

Đem hết lòng lo việc nước

Chắp máu làm thành lời.

 

   Tắm ở khe Bàn Thạch (tr. 283)

(Dịch) 

Sớm lên đứng trên núi Hoành Sơn

Chiều xuống tắm ở dòng khe Bàn Thạch

Nhặt lấy mỗi nơi một viên đá

Cả non sông không đầy một vốc tay.


Quẻ Sư của họ Cao đã chi phối và dẫn ông đến một sự nghiệp thơ ca lộng lẫy, bạn bè với những người nổi tiếng và có thanh thế trong xã hội, được vua vời đến, được tuyển vào kinh làm chức quan nhỏ trong bộ Lễ và dẫn đến vai trò chấm thi sơ khảo năm 1841. Chính trong cuộc chấm thi này ông đã thất bại: Dùng muội đèn chữa bài thi cho thí sinh phạm quy, việc bị phát giác, ông bị giam cầm, tra khảo, may mà còn sống. Ông chỉ biết đi theo ý chí và lòng nhân từ của mình, không tính đến thời thế và hoàn cảnh, nên thất bại là điều dễ hiểu. Lời hào 5 có câu: Dù chính đáng cũng thất bại, xe chở thây về. Ta sẽ thấy cuộc thất bại của khởi nghĩa Mỹ Lương sau này mà ông là một nhà lãnh đạo, cũng mang âm hưởng hào 5 quẻ Sư: Dù khởi nghĩa có chính đáng, nhưng dùng phải những người kém tài đức, thiếu thử thách, nên “xe chở thây về” là không tránh khỏi, và điều này đã được báo trước.


Trong toán Hà Lạc, tiền vận quẻ Sư hào 5 sẽ dẫn đến hậu vận quẻ Thuần Khảm, chủ mệnh hào 2, từ năm ông Cao 40 tuổi (1847). Khảm là Hãm, Hiểm, Gian nan, Trở ngại. Tượng quẻ Thuần Khảm là hai làn Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới. Không gì hiểm bằng nước sâu, Khảm có tượng Nước, nên Khảm là hiểm. Người quẻ Thuần Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng xem tượng quẻ mà xử thời hiểm thì không sợ gì, lấy lòng chí thành, linh hoạt, khôn ngoan mà tránh hiểm. Được quẻ Khảm, thì một là trở thành anh hùng, hai là trở thành kẻ bần cùng chìm ngập trong nguy khốn.


Đối chiếu với hành trạng CBQ, năm 1847 bắt đầu vào thời Khảm hiểm. Mảng thơ thời Khảm hiểm của ông cũng rất phong phú, mang dấu ấn một cái nhìn từng trải, sắc sảo, ít sách vở hơn, nhiều trắc ẩn, đau buồn hơn, đầy bản lĩnh trước họan nạn, chúng tôi tạm bóc tách ra cũng có đến hơn 50 bài. Bài hát ngắn đi trên cát là bài thơ thời Khảm hiểm:

 

               (Dịch) (Bài hát ngắn “ Đi trên bãi cát” tr. 716)


Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?

Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt,

bước đường ghê sợ thì nhiều

Hãy nghe ta hát khúc ca “đường cùng”

Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng

Phía nam núi Nam sóng muôn đợt

                            Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?


Thời kỳ này, thơ vẫn đằm thắm về tình bạn, nhưng đã man mác cái truân chuyên thời khảm hiểm :


Một chung rượu nhạt, ngọn đèn lay

Mấy nước cờ tàn, mưa bụi bay

… … …

Ngày cũ lênh đênh nhiều vụng dại

Hương Giang khúc mới chuyển nhờ ai.

(Họa bài của Thúc Minh tiễn Doãn Trai – Thái Trọng Lai dịch thơ. Tr. 496)


Lại thử coi năm Giáp Dần 1854 là năm có nhiều sự kiện đặc biệt. Năm này ông Cao được quẻ Thuần Càn hào 1: “Như con rồng ẩn dưới thấp, chưa bay lên được. Chưa đem tài ra dùng được. ”Số xấu thì nương náu nơi địa vị thấp kém, tài mỏng, đức mọn, chịu đựng hình khắc gian nan”. Mệnh thì như vậy. Nhưng trong hiện thực thì ông Cao thoạt tiên không làm con rồng ở ẩn, mà là con rồng bay lên cao. Cuộc khởi nghĩa đã chuẩn bị từ mấy năm trước, tình thế không cho phép ông ẩn tránh, mà buộc phải ra quân. Lại thêm những tin tức nghĩa quân bị lộ, nhà vua biết được và lính triều đình đã ra tay trước. Hành động trái với những gì trời đất đã báo trước nên phải trả giá: nghĩa quân thất bại và tan rã, còn về bản thân ông thì triều đình thông báo chính thức là đã bắn chết, chém đầu, bêu đầu và vằm nát thi thể ném xuống sông.


Nhưng theo các tin đồn truyền miệng của dân gian được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận và đặc biệt, mật truyền của gia tộc họ Cao thì ông Cao không chết. Ông đã được nhân dân bảo vệ, đưa đi trốn tránh. Thủ cấp đã biến dạng, bị đưa đi treo (bêu đầu) là của người khác thế mạng.


Đến đây, bài toán Hà Lạc của chúng tôi cũng cho biết: nhân vật chủ thể của mình không chết. Cuối cùng, cái năm Giáp Dần ấy sau những tai ương dồn dập, thì ông Cao vẫn là “con rồng ẩn dưới hang” đúng như mệnh của mình. Những năm sau đó cũng không có tín hiệu chết. Năm thì hòa đồng với người dưới ánh mặt trời, chỉ khác là hòa đồng với người họ hàng, làm khách nơi rừng núi. Năm thì nguồn thơ vẫn như mạch nước dưới giếng, chỉ tiếc là không được dùng. Phải đến năm Nhâm Tuất (1862) mới có tín hiệu chết. Năm này ông được quẻ Trạch Thủy Khốn hào 4: Khốn là nguy khốn. Lời hào 4 nói rằng: Bị cỗ xe bằng kim khí chặn (nên nguy khốn), có điều ân hận đấy, nhưng được trọn vẹn về sau. Lại còn xung khắc Can Chi nữa: Tuổi Mậu Thìn xung khắc với năm Nhâm Tuất (Mậu Thổ khắc Nhâm Thủy, Thìn Tuất tương xung) gọi là Thiên khắc Địa xung. Đấy là nói trong tín hiệu quẻ hào. Còn trong hiện thực, chúng tôi nhận thấy có đến hơn 30 bài thơ tả cảnh khốn cùng, nơi rừng núi, tâm trạng cô đơn, lo buồn, ẩn nhẫn, chắc chắn được sáng tác trong thời gian ông trốn lánh. Trước hết là bài: Tỵ địa (nơi ẩn tránh) trong Cao Chu Thần thi tập:

                     (dịch)    

Lại đem cả gia quyến

Hướng Bắc bước đường lên

Thuyền nhẹ đi Nghĩa Trụ

Mây cách xa Long Biên

Nghẹn đường về quê quán

Phòng người biết họ tên…

                     (Sa Minh Tạ Thúc Khải dịch thơ - Cao Bá Quát – Tư liệu. Tr. 670)


Trong bài thơ có địa danh (thôn) Đồng Tỉnh (xã) Nghĩa Trụ, nơi đây có nhà của Phạm Văn Chính là bạn thân cao tuổi của Cao Bá Quát. Rất có thể đây cũng là một trong những nơi ẩn náu đầu tiên sau sự kiện Mỹ Lương. Nhân đây cần nói rằng cái chiếu chỉ “tru di tam tộc” nghe ghê gớm vậy, nhưng cho đến nay, trong các họ hàng làng xóm có liên quan đến họ Cao không hề có dư âm nào về vụ thảm sát nói trên, trừ tin Cao Bá Đạt đang làm tri huyện ở Nông Cống, bị bắt giải về kinh, giữa đường tự vẫn, người Nông Cống đã lập miếu thờ; và tin Cao Bá Nhạ (con trai Cao Bá Đạt) trốn lánh 8 năm, còn đủ thời giờ dạy học, lấy vợ, sinh con rồi mới bị phát giác, bị bắt giam giải về kinh, để trở thành tác giả của những áng thơ ca trác tuyệt Trần tình vănTự tình khúc. Về mật truyền của dòng họ Cao, đã được cố nhà thơ Thao Thao (tức Cao Bá Thao quê Phú Thị - Gia Lâm – Hà Nội) thuật lại trong một bài báo đăng báo Người Hà Nội số 33 ngày 1-9-1986: (Tóm tắt) “Theo các cụ trong làng và theo cha tôi ngày trước kể thì Ông Quát không bị chết trận. Hai con trai ông Quát là Bá Phùng và Bá Thông bỏ làng đi, chứ không bị giết cùng với bố như sử sách đã ghi. Sau khi ông Nhạ (tức Cao Bá Nhạ) chết độ 10 năm, Bá Thông có về làng ít ngày rồi đi hẳn. Còn về cái chết của Cao Bá Quát, tôi được nghe kể: Thất trận, ông Quát bí mật về thẳng Hà Nội, vào một ngôi chùa ở Khâm Thiên, có người nhà trụ trì ở đó, thay hình đổi dạng thành một nhà sư, rồi biệt tích từ đấy”.

Trong số hơn 30 bài thơ có dấu ấn (về phong cảnh, hoàn cảnh, tâm trạng) của thời kỳ ẩn náu, chứng tỏ ông đã trôi nổi ẩn chìm nơi rừng núi, sông nước, có bữa không cơm ăn:

Gió thổi ngược lên vách núi cao chót vót

Khói trong sương đậm nhỏ từng giọt như sợi tơ

Đom đóm lập loè không giấu ánh sáng

Muỗi bay lọt vào màn chẳng bị đói

Bó gối hết hứng ngâm nga người tự thấy xa vời

                                                                                               (Xẩm tối – Tr. 117)

 

Gió trăng vẫn như thế, còn người ở đâu

Nơi quan san nghìn dặm việc đã sai rồi

Ai buồn đứt ruột khi lá thông rụng?

Lòng nóng nảy muốn giục hoa liễu bay

Phòng văn suốt ngày càng thêm buồn

 Từ lâu tin tức đã như bóng chim tăm cá vắng bặt.

                                                              (Cuối xuân, thấy cảnh nhớ người. Tr. 588)

 

Một đời đã phụ cả năm xe sách

Trải mãi gió bụi mái tóc càng thưa thêm

Tâm sự và tóc có cần chi phải so sánh vắn dài

Đã đến lúc rối bời thì cùng rối bời như nhau.

                                                                                              (Chải đầu – Tr. 718)


Bậc hiền giả còn có người khói không nhọ bếp

Huống chi đức mỏng như ta bị đời ghét bỏ?

Ông hàng xóm có ý giúp ta

Lục giỏ rách để tìm cơm nguội.

Ta nói khẽ bảo ông rằng:

Đời tôi chỉ là quả bầu treo không mà thôi!

                                          (Bữa chiều không cơm, viết đùa ghi việc – Tr. 582)


Như vậy, nhờ khả năng của Hà Lạc, chúng tôi có thể tìm ra dấu ấn thời gian trong một số lớn bài thơ văn và có thể thiết lập một bộ nhật ký bằng thơ của CBQ.

 

2 - Từ góc nhìn quê hương , chúng tôi đọc nhật ký trong đêm thế kỷ của CBQ:


Thơ văn CBQ chủ yếu viết bằng chữ Hán và chất liệu văn chương phần lớn chắt lọc từ nguồn gốc Hán. Nhưng lạ thay, toàn bộ văn thơ cho đến từng câu chữ thấm đẫm một tâm hồn dân tộc.  Trước hết cái tâm hồn dân tộc ấy bắt nguồn từ tâm hồn quê hương. Quê hương chúng tôi nói ở đây là làng Sủi, tức thôn Phú Thị, huyện Gia Lâm – Hà Nội. Đây là một làng nhỏ, ven kinh đô Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 15 km. Theo truyền thuyết, đó là quê Nguyên phi Ỷ Lan thời Lý, nơi đây có Chùa Đại Dương là nơi Lý Thái Tông về cầu tự sinh ra con trai tức Lý Nhân Tông. Cuộc cầu tự này xảy ra chuyện Lý Bông bị chết oan, sau được Lý Nhân Tông minh oan và từ cuộc minh oan này mà sinh ra hội dân gian mang tên Hội Bông Sòng (Bông là tên ông Bông, Sòng là sòng phẳng). Đình làng là nơi thờ một Sứ quân thời Hoa Lư. Đền làng thờ Nguyên phi Ỷ Lan.


Làng Sủi cũng nổi tiếng là một làng khoa bảng, đã có thời kỳ có đến bốn thượng thư đồng triều. Quê hương ấy có dấu ấn trong thơ CBQ, chỉ riêng tập 1 Toàn tập, chúng tôi điểm thấy hơn 30 bài. Đọc thơ Người, chúng tôi có thể hình dung ra phong cảnh quê hương với gò Thọ Chương, sông Thiên Đức, cổng làng Trung Nghĩa Lý, cây gạo ở đầu làng, đôi voi ông Lý đắp “đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi” chỉ thiếu “cái kia”…, ngôi nhà cổ thời thơ ấu của Người, lớp học của các thày đồ, phòng văn của Người với bầu rượu, cây đèn, điếu đóm, bồ đựng bản thảo, mảnh vườn nhỏ với cây mai, khóm cúc, ao sen, cầu ao, gian hàng xáo của người vợ nghèo họ Đỗ với cối xay lúa, cối giã gạo, dần sàng thúng mủng, tấm áo của người đi xa để lại, mảnh gương nhỏ trong khăn gói người đi… Bài thơ bốn chữ Mất con gồm 640 chữ viết theo gợi ý của một người bạn, dùng sự suy nghĩ lung tung để đỡ bớt sự đau buồn khi mất con. Nhưng chính là mạch thơ “loạn tứ thư nhi ai” ấy lại thấm đẫm hồn Việt hơn bao giờ hết, bao trùm cả vũ trụ, âm dương, huyền sử, cho đến đời thường, từ kẻ “mũ cao chót vót/triện giắt ấn đeo”, “kẻ ôm sách sử/kẻ vác gươm đao”, cho đến “thợ rèn thợ mộc/thày lang thày mo/nô tỳ hành khất/quả phụ quan phu”. Cái quan hệ Thiên Địa Nhân ấy của một cộng đồng văn minh lúa nước, là cốt lõi, là tinh hoa trong tâm hồn Việt. Thơ CBQ đã cảm nhận được cái tinh hoa Việt ấy. Ông nhìn dòng Kiếp Bạc, thấy bao nhiêu chuyện cũ anh hùng còn gửi cả trên làn sóng xanh. Sông Trà như khúc ruột quặn đau, còn sông Hương thì như gươm dựng dưới trời.


Người quê tôi thường truyền vào tai nhau bài thơ Vịnh chim sáo nói lên cái khát vọng tự do của CBQ, mà tự do trước hết là tự do “mở miệng”. Con chim sáo chỉ vì nói được tiếng người mà cụt mất cả đầu lưỡi. Cứ nhảy nhót trong cái lồng son. Biết làm sao cái thảnh thơi của con hạc trên ngàn. Lại truyền nhau bài thơ về chú bé chăn bọ ngựa. Chú buộc chằng chịt những sợi tơ vào mình nó. Biết đâu rằng nó chết trên cành cây khô. Hỡi người chăn dân, hãy nhìn kỹ cái lông mày của mọi người!


Nhà thơ Thanh Thảo trong trường ca Đêm trên cát  viết về CBQ cũng đã nghe tiếng nói tâm hồn ấy:


Ta chỉ vung sự thật như những cái vồ bằng đá

giáng xuống những cơn mê.

Nếu con người không biết đau khổ

nếu con người đánh đổi

cả cuộc sống cho sự bình yên giả tạo

nếu con người tránh né

những câu hỏi của riêng mình

ta sẽ rung lên hồi chuông

từng tiếng chuông sẽ vỗ vào vai họ

 

Nhân đây tôi nhắc lại một quan điểm nổi tiếng về tâm lý học đám đông của Guýtx-ta-vơ Lơ Bông (Pháp): Tâm hồn dân tộc bao giờ cũng có vai trò chủ đạo trong tâm hồn đám đông. Nó là tầng nền vững chắc để hạn chế những dao động của đám đông. Chính những lực lượng tinh thần ấy mới là động lực chính của lịch sử. (Guýtx-ta-vơ Lơ Bông: Tâm lý học đám đông NXB Tri thức 2006). Nhật ký trong đêm thế kỷ của CBQ có cái tâm hồn dân tộc ấy, cái động lực ấy của lịch sử .

Bài & ảnh do Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp