• Pic Mgmt

    45 TẤM BẢN ĐỒ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ 10 (Phần 2)

    Tiếp tục với bộ sưu tập bản đồ Việt Nam qua các giai đoạn từ thế kỷ 10, ở phần 1 - tôi đã chia sẻ đến bản đồ năm 1400, sau đây mời các bạn xem tiếp...

  • Pic Mgmt

    MỘT TÀI NĂNG LỚN CỦA VĂN HÓA VIỆT ĐÃ RA ĐI

    Nhà ngữ học Cao Xuân Hạo (ảnh) là con cả cụ Cao Xuân Huy, nhà Hán học và nghiên cứu triết học nổi tiếng. Cụ Huy là con trai Phó bảng Cao Xuân Tiếu; chánh chủ khảo các kỳ thi Hương cuối thế kỷ 19 và cụ Tiếu là con trai cụ Cao Xuân Dục, Thượng thư bộ Học, nhà nghiên cứu triết học (tác phẩm “Nhân thế tu tri” và các tác phẩm khác). Cụ Cao Xuân Huy và cụ Cao Xuân Dục đều được đặt tên đường tại TP Hồ Chí Minh; cụ Huy được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh...

  • Pic Mgmt

    NGÂN HÀNG DỮ LIỆU DI SẢN

    Ý tưởng thành lập Ngân hàng dữ liệu văn hoá phi vật thể các dân tộc Việt Nam đã được manh nha từ đầu những năm 90 với các tác giả như GS.TS Tô Ngọc Thanh, GS. Nhạc sĩ Nguyễn Xinh, TS. Hoàng Sơn... Các giai đoạn thử nghiệm được mở đầu vào năm 1994 với "Chương trình điều tra cơ bản về văn hoá các dân tộc Việt Nam" do Viện nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật nay là Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tiến hành. Đến năm 2004 những điều kiện trong ý tưởng đó đã trở thành hiện thực đó là Trung tâm dữ liệu di sản văn hoá của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước là Viện Văn hoá Thông tin - Bộ Văn hoá Thông tin)...

  • Pic Mgmt

    ĐỒNG TỘC NGUYỄN DUY HÒA HỢP

    Dòng họ Nguyễn Duy ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc từ xưa nổi tiếng là phụ tử, huynh đệ kế thế đăng khoa. Tuy nhiên, trước nay, nhiều người lại phân biệt có hai dòng họ Nguyễn Duy ở Bình Xuyên...

  • Pic Mgmt

    NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VIỆT NAM TẠI MỸ

    Theo Giáo sư Peter Zinoman, Đại học California, ngành nghiên cứu lịch sử Việt Nam tại Mỹ đang mạnh, bởi có nhiều học giả trẻ với khả năng ngôn ngữ tốt, đề tài nghiên cứu đa dạng; tuy vậy, có sự mất cân bằng giữa nghiên cứu các đề tài thời kỳ hiện đại và tiền hiện đại...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẤN VỀ HÀNG TRĂM BIA ĐA CỔ CÒN SÓT LẠI

    Dân trí Những bia đá còn sót lại tại một số địa phương ở miền Tây Thanh Hóa được người dân xem là dấu tích của những ngôi mộ cổ. Có những nhận định cho rằng, đây là mộ của người Tày Thái và cũng có ý kiến khác là mộ của nghĩa quân Lam Sơn...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ

    Ghi chú: Có nhiều điều nên tránh trong cuộc sống và cũng có những điều rất cần ghi nhớ đối với mỗi người chúng ta. Xin chia sẻ thông tin dưới đây với quý vị & các bạn gần xa...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ HOÀNG/HUỲNH

    Hoàng hay Huỳnh (chữ Hán: 黃) là một tên họ ở Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, và Triều Tiên. Họ Hoàng trong tiếng Trung có thể phiên âm Latinh thành Huang, Wong, Vong, Bong, Ng, Uy, Wee, Oi, Oei or Ooi, Ong, Hwang, hay Ung theo phương ngữ từng vùng. Họ Hoàng trong tiếng Triều Tiên được phiên âm thành Hwang. Ở miền Nam Việt Nam, do kị húy chúa Nguyễn Hoàng nên họ Hoàng được đọc chệch thành Huỳnh từ hàng trăm năm nay...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    PHẢI CHĂNG TIẾNG VIỆT CHỈ CÓ 12.000 NĂM LỊCH SỬ

    Trong Hội thảo Việt học quốc tế lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội năm 1998, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có tham luận nhan đề: “Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt”...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

    Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng phía Nam sông Dương Tử, xuống hết phía Nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay (phụ lục, bản đồ)...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU TOÀN VĂN BẢN DỊCH NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG

    Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc phả gồm 21 tờ tức 42 trang chữ Hán, tổng cộng gần 10.000 (1 vạn) chữ, xưa nay, chưa thấy ai dịch trọn vẹn. Bằng sự kiên trì và gắng sức của tuổi già, sau hơn nửa tháng, GS Ngô Đức Thọ đã hoàn thành trọn vẹn bản dịch, chỉ với một mục đích cao cả là cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc văn bản quý báu được gọi là Quốc bảo này. Và như GS Ngô Đức Thọ từng viết: Là người Việt Nam, dòng dõi con Lạc cháu Hồng, không thể không biết đến Ngọc phả Hùng Vương...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

    Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    ĐẤT BÁCH VIỆT TRONG SỬ VIỆT VÀ TÀU

    Khi còn học Tiểu học, môn sử địa - người viết đã được dạy về Thừa tướng Lữ Gia và nước Nam Việt. Lúc đó chỉ hiểu đại khái Thừa tướng Lữ Gia vì không muốn nước Nam Việt bị nhà Hán chiếm, nên đã giết chết hai mẹ con Cù thị...

  • Pic Mgmt

    BÁU VẬT CHÙA BÚT THÁP

    Nằm trên địa phận xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, từ lâu chùa Bút Tháp đã rất nổi tiếng bởi sự độc đáo về nghệ thuật kiến trúc, lịch sử lâu đời, cũng như phong cảnh hữu tình thơ mộng. Theo sách Địa chí Hà Bắc thì chùa Bút Tháp có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) với tên chữ là “Ninh Phúc Thiền Tự”...

Chi tiết

CAO BÁ QUÁT CÓ BỊ GIẾT...

Đăng lúc: 2014-03-29 15:10:00 - Đã xem: 2354

Cao Bá Quát - Có bị giết như sử sách nhà Nguyễn ghi ?

Xuân Cang (10/11/2008 11:28:16 AM )
 
   















    

Nhà văn Xuân Cang. Photo: Cao Bá Nghiệp

1 - Từ góc nhìn Bát quái chúng tôi đã tìm thấy Ngày Giờ sinh và số mệnh Cao Bá Quát:

Như có hồn thiêng của Người hiện về mách bảo, chúng tôi đã căn cứ vào nhiều nhà nghiên cứu, xác định năm sinh của CBQ là năm Mậu Thìn (1808), lại căn cứ những bài thơ có liên quan đặt giả thuyết ông sinh ngày 9-9 âm lịch năm đó. Sau đó sử dụng thuật toán Hà Lạc do nhà tiên tri Trần Đoàn đời nhà Tống (Trung Hoa) sáng tạo và công nghệ máy tính tìm ra giờ sinh là giờ Tị (từ 9 -11g) ngày nói trên, can chi là năm Mậu Thìn, tháng Nhâm Tuất, ngày Nhâm Thân, giờ Ất Tị.

Từ can chi này mà dùng thuật toán Hà Lạc tính ra số mệnh thì thấy ra ông được quẻ Kinh Dịch tên là Địa Thủy Sư, chủ mệnh hào 5, từ quẻ này mà tìm ra từng chặng đường đời, từng năm. Lại lấy từng lời phán đoán trong quẻ Dịch đối chiếu với niên biểu CBQ và thơ ca CBQ thì bàng hoàng nhận thấy từng chặng đường, từng năm, lời quẻ lời hào phán xét ra sao, thực tế hành trạng và thơ ca của nhà thơ diễn biến đúng như thế, ăn khớp nhau một cách kỳ lạ. Điều đó chứng tỏ rằng giả thuyết về ngày giờ sinh đã đúng với thực tế.  Ví dụ: Tiền vận ông Cao gồm 39 năm (1808-1846) được quẻ  Địa Thủy Sư, hào chủ mệnh chi phối những năm tiền vận là hào 5. Sư là Đám đông, là Quân đội. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, hoặc làm lính thì trở thành người chỉ huy quân đội. Hào 5 quẻ Sư thuộc về mệnh của người nguyên thủ đất nước bảo rằng: Đất nước bị xâm hại, việc ra quân không lỗi. Khi có việc dùng binh hãy dùng người lão thành làm tướng cầm quân, nếu dùng bọn tài đức kém, thì phải chở thây mà về, dù có danh nghĩa chính đáng, kết quả vẫn xấu.


Đối chiếu với hành trạng và thơ CBQ, chúng tôi nhận thấy đúng là ông có mệnh quẻ Sư hào 5. Nhiều nhà nghiên cứu đều có chung nhận xét thơ CBQ có khẩu khí đế vương (nguyên thủ) từ rất sớm. Chúng tôi sơ bộ tách ra trong 418 bài thơ Tập I Toàn tập Cao Bá Quát có 60 bài mang khí thế và suy ngẫm người quẻ Sư. Tiêu biểu nhất là bài:
   

Vũ Hầu xuất sư biểu

      (Bài biểu ra quân của Vũ Hầu Gia Cát Lượng (tr. 1079):


(Dịch)

Chí cũng muốn phò Viêm Hán

Lòng những bời bời việc ra quân

Đem hết lòng lo việc nước

Chắp máu làm thành lời.

 

   Tắm ở khe Bàn Thạch (tr. 283)

(Dịch) 

Sớm lên đứng trên núi Hoành Sơn

Chiều xuống tắm ở dòng khe Bàn Thạch

Nhặt lấy mỗi nơi một viên đá

Cả non sông không đầy một vốc tay.


Quẻ Sư của họ Cao đã chi phối và dẫn ông đến một sự nghiệp thơ ca lộng lẫy, bạn bè với những người nổi tiếng và có thanh thế trong xã hội, được vua vời đến, được tuyển vào kinh làm chức quan nhỏ trong bộ Lễ và dẫn đến vai trò chấm thi sơ khảo năm 1841. Chính trong cuộc chấm thi này ông đã thất bại: Dùng muội đèn chữa bài thi cho thí sinh phạm quy, việc bị phát giác, ông bị giam cầm, tra khảo, may mà còn sống. Ông chỉ biết đi theo ý chí và lòng nhân từ của mình, không tính đến thời thế và hoàn cảnh, nên thất bại là điều dễ hiểu. Lời hào 5 có câu: Dù chính đáng cũng thất bại, xe chở thây về. Ta sẽ thấy cuộc thất bại của khởi nghĩa Mỹ Lương sau này mà ông là một nhà lãnh đạo, cũng mang âm hưởng hào 5 quẻ Sư: Dù khởi nghĩa có chính đáng, nhưng dùng phải những người kém tài đức, thiếu thử thách, nên “xe chở thây về” là không tránh khỏi, và điều này đã được báo trước.


Trong toán Hà Lạc, tiền vận quẻ Sư hào 5 sẽ dẫn đến hậu vận quẻ Thuần Khảm, chủ mệnh hào 2, từ năm ông Cao 40 tuổi (1847). Khảm là Hãm, Hiểm, Gian nan, Trở ngại. Tượng quẻ Thuần Khảm là hai làn Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới. Không gì hiểm bằng nước sâu, Khảm có tượng Nước, nên Khảm là hiểm. Người quẻ Thuần Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng xem tượng quẻ mà xử thời hiểm thì không sợ gì, lấy lòng chí thành, linh hoạt, khôn ngoan mà tránh hiểm. Được quẻ Khảm, thì một là trở thành anh hùng, hai là trở thành kẻ bần cùng chìm ngập trong nguy khốn.


Đối chiếu với hành trạng CBQ, năm 1847 bắt đầu vào thời Khảm hiểm. Mảng thơ thời Khảm hiểm của ông cũng rất phong phú, mang dấu ấn một cái nhìn từng trải, sắc sảo, ít sách vở hơn, nhiều trắc ẩn, đau buồn hơn, đầy bản lĩnh trước họan nạn, chúng tôi tạm bóc tách ra cũng có đến hơn 50 bài. Bài hát ngắn đi trên cát là bài thơ thời Khảm hiểm:

 

               (Dịch) (Bài hát ngắn “ Đi trên bãi cát” tr. 716)


Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?

Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt,

bước đường ghê sợ thì nhiều

Hãy nghe ta hát khúc ca “đường cùng”

Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng

Phía nam núi Nam sóng muôn đợt

                            Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?


Thời kỳ này, thơ vẫn đằm thắm về tình bạn, nhưng đã man mác cái truân chuyên thời khảm hiểm :


Một chung rượu nhạt, ngọn đèn lay

Mấy nước cờ tàn, mưa bụi bay

… … …

Ngày cũ lênh đênh nhiều vụng dại

Hương Giang khúc mới chuyển nhờ ai.

(Họa bài của Thúc Minh tiễn Doãn Trai – Thái Trọng Lai dịch thơ. Tr. 496)


Lại thử coi năm Giáp Dần 1854 là năm có nhiều sự kiện đặc biệt. Năm này ông Cao được quẻ Thuần Càn hào 1: “Như con rồng ẩn dưới thấp, chưa bay lên được. Chưa đem tài ra dùng được. ”Số xấu thì nương náu nơi địa vị thấp kém, tài mỏng, đức mọn, chịu đựng hình khắc gian nan”. Mệnh thì như vậy. Nhưng trong hiện thực thì ông Cao thoạt tiên không làm con rồng ở ẩn, mà là con rồng bay lên cao. Cuộc khởi nghĩa đã chuẩn bị từ mấy năm trước, tình thế không cho phép ông ẩn tránh, mà buộc phải ra quân. Lại thêm những tin tức nghĩa quân bị lộ, nhà vua biết được và lính triều đình đã ra tay trước. Hành động trái với những gì trời đất đã báo trước nên phải trả giá: nghĩa quân thất bại và tan rã, còn về bản thân ông thì triều đình thông báo chính thức là đã bắn chết, chém đầu, bêu đầu và vằm nát thi thể ném xuống sông.


Nhưng theo các tin đồn truyền miệng của dân gian được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận và đặc biệt, mật truyền của gia tộc họ Cao thì ông Cao không chết. Ông đã được nhân dân bảo vệ, đưa đi trốn tránh. Thủ cấp đã biến dạng, bị đưa đi treo (bêu đầu) là của người khác thế mạng.


Đến đây, bài toán Hà Lạc của chúng tôi cũng cho biết: nhân vật chủ thể của mình không chết. Cuối cùng, cái năm Giáp Dần ấy sau những tai ương dồn dập, thì ông Cao vẫn là “con rồng ẩn dưới hang” đúng như mệnh của mình. Những năm sau đó cũng không có tín hiệu chết. Năm thì hòa đồng với người dưới ánh mặt trời, chỉ khác là hòa đồng với người họ hàng, làm khách nơi rừng núi. Năm thì nguồn thơ vẫn như mạch nước dưới giếng, chỉ tiếc là không được dùng. Phải đến năm Nhâm Tuất (1862) mới có tín hiệu chết. Năm này ông được quẻ Trạch Thủy Khốn hào 4: Khốn là nguy khốn. Lời hào 4 nói rằng: Bị cỗ xe bằng kim khí chặn (nên nguy khốn), có điều ân hận đấy, nhưng được trọn vẹn về sau. Lại còn xung khắc Can Chi nữa: Tuổi Mậu Thìn xung khắc với năm Nhâm Tuất (Mậu Thổ khắc Nhâm Thủy, Thìn Tuất tương xung) gọi là Thiên khắc Địa xung. Đấy là nói trong tín hiệu quẻ hào. Còn trong hiện thực, chúng tôi nhận thấy có đến hơn 30 bài thơ tả cảnh khốn cùng, nơi rừng núi, tâm trạng cô đơn, lo buồn, ẩn nhẫn, chắc chắn được sáng tác trong thời gian ông trốn lánh. Trước hết là bài: Tỵ địa (nơi ẩn tránh) trong Cao Chu Thần thi tập:

                     (dịch)    

Lại đem cả gia quyến

Hướng Bắc bước đường lên

Thuyền nhẹ đi Nghĩa Trụ

Mây cách xa Long Biên

Nghẹn đường về quê quán

Phòng người biết họ tên…

                     (Sa Minh Tạ Thúc Khải dịch thơ - Cao Bá Quát – Tư liệu. Tr. 670)


Trong bài thơ có địa danh (thôn) Đồng Tỉnh (xã) Nghĩa Trụ, nơi đây có nhà của Phạm Văn Chính là bạn thân cao tuổi của Cao Bá Quát. Rất có thể đây cũng là một trong những nơi ẩn náu đầu tiên sau sự kiện Mỹ Lương. Nhân đây cần nói rằng cái chiếu chỉ “tru di tam tộc” nghe ghê gớm vậy, nhưng cho đến nay, trong các họ hàng làng xóm có liên quan đến họ Cao không hề có dư âm nào về vụ thảm sát nói trên, trừ tin Cao Bá Đạt đang làm tri huyện ở Nông Cống, bị bắt giải về kinh, giữa đường tự vẫn, người Nông Cống đã lập miếu thờ; và tin Cao Bá Nhạ (con trai Cao Bá Đạt) trốn lánh 8 năm, còn đủ thời giờ dạy học, lấy vợ, sinh con rồi mới bị phát giác, bị bắt giam giải về kinh, để trở thành tác giả của những áng thơ ca trác tuyệt Trần tình vănTự tình khúc. Về mật truyền của dòng họ Cao, đã được cố nhà thơ Thao Thao (tức Cao Bá Thao quê Phú Thị - Gia Lâm – Hà Nội) thuật lại trong một bài báo đăng báo Người Hà Nội số 33 ngày 1-9-1986: (Tóm tắt) “Theo các cụ trong làng và theo cha tôi ngày trước kể thì Ông Quát không bị chết trận. Hai con trai ông Quát là Bá Phùng và Bá Thông bỏ làng đi, chứ không bị giết cùng với bố như sử sách đã ghi. Sau khi ông Nhạ (tức Cao Bá Nhạ) chết độ 10 năm, Bá Thông có về làng ít ngày rồi đi hẳn. Còn về cái chết của Cao Bá Quát, tôi được nghe kể: Thất trận, ông Quát bí mật về thẳng Hà Nội, vào một ngôi chùa ở Khâm Thiên, có người nhà trụ trì ở đó, thay hình đổi dạng thành một nhà sư, rồi biệt tích từ đấy”.

Trong số hơn 30 bài thơ có dấu ấn (về phong cảnh, hoàn cảnh, tâm trạng) của thời kỳ ẩn náu, chứng tỏ ông đã trôi nổi ẩn chìm nơi rừng núi, sông nước, có bữa không cơm ăn:

Gió thổi ngược lên vách núi cao chót vót

Khói trong sương đậm nhỏ từng giọt như sợi tơ

Đom đóm lập loè không giấu ánh sáng

Muỗi bay lọt vào màn chẳng bị đói

Bó gối hết hứng ngâm nga người tự thấy xa vời

                                                                                               (Xẩm tối – Tr. 117)

 

Gió trăng vẫn như thế, còn người ở đâu

Nơi quan san nghìn dặm việc đã sai rồi

Ai buồn đứt ruột khi lá thông rụng?

Lòng nóng nảy muốn giục hoa liễu bay

Phòng văn suốt ngày càng thêm buồn

 Từ lâu tin tức đã như bóng chim tăm cá vắng bặt.

                                                              (Cuối xuân, thấy cảnh nhớ người. Tr. 588)

 

Một đời đã phụ cả năm xe sách

Trải mãi gió bụi mái tóc càng thưa thêm

Tâm sự và tóc có cần chi phải so sánh vắn dài

Đã đến lúc rối bời thì cùng rối bời như nhau.

                                                                                              (Chải đầu – Tr. 718)


Bậc hiền giả còn có người khói không nhọ bếp

Huống chi đức mỏng như ta bị đời ghét bỏ?

Ông hàng xóm có ý giúp ta

Lục giỏ rách để tìm cơm nguội.

Ta nói khẽ bảo ông rằng:

Đời tôi chỉ là quả bầu treo không mà thôi!

                                          (Bữa chiều không cơm, viết đùa ghi việc – Tr. 582)


Như vậy, nhờ khả năng của Hà Lạc, chúng tôi có thể tìm ra dấu ấn thời gian trong một số lớn bài thơ văn và có thể thiết lập một bộ nhật ký bằng thơ của CBQ.

 

2 - Từ góc nhìn quê hương , chúng tôi đọc nhật ký trong đêm thế kỷ của CBQ:


Thơ văn CBQ chủ yếu viết bằng chữ Hán và chất liệu văn chương phần lớn chắt lọc từ nguồn gốc Hán. Nhưng lạ thay, toàn bộ văn thơ cho đến từng câu chữ thấm đẫm một tâm hồn dân tộc.  Trước hết cái tâm hồn dân tộc ấy bắt nguồn từ tâm hồn quê hương. Quê hương chúng tôi nói ở đây là làng Sủi, tức thôn Phú Thị, huyện Gia Lâm – Hà Nội. Đây là một làng nhỏ, ven kinh đô Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 15 km. Theo truyền thuyết, đó là quê Nguyên phi Ỷ Lan thời Lý, nơi đây có Chùa Đại Dương là nơi Lý Thái Tông về cầu tự sinh ra con trai tức Lý Nhân Tông. Cuộc cầu tự này xảy ra chuyện Lý Bông bị chết oan, sau được Lý Nhân Tông minh oan và từ cuộc minh oan này mà sinh ra hội dân gian mang tên Hội Bông Sòng (Bông là tên ông Bông, Sòng là sòng phẳng). Đình làng là nơi thờ một Sứ quân thời Hoa Lư. Đền làng thờ Nguyên phi Ỷ Lan.


Làng Sủi cũng nổi tiếng là một làng khoa bảng, đã có thời kỳ có đến bốn thượng thư đồng triều. Quê hương ấy có dấu ấn trong thơ CBQ, chỉ riêng tập 1 Toàn tập, chúng tôi điểm thấy hơn 30 bài. Đọc thơ Người, chúng tôi có thể hình dung ra phong cảnh quê hương với gò Thọ Chương, sông Thiên Đức, cổng làng Trung Nghĩa Lý, cây gạo ở đầu làng, đôi voi ông Lý đắp “đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi” chỉ thiếu “cái kia”…, ngôi nhà cổ thời thơ ấu của Người, lớp học của các thày đồ, phòng văn của Người với bầu rượu, cây đèn, điếu đóm, bồ đựng bản thảo, mảnh vườn nhỏ với cây mai, khóm cúc, ao sen, cầu ao, gian hàng xáo của người vợ nghèo họ Đỗ với cối xay lúa, cối giã gạo, dần sàng thúng mủng, tấm áo của người đi xa để lại, mảnh gương nhỏ trong khăn gói người đi… Bài thơ bốn chữ Mất con gồm 640 chữ viết theo gợi ý của một người bạn, dùng sự suy nghĩ lung tung để đỡ bớt sự đau buồn khi mất con. Nhưng chính là mạch thơ “loạn tứ thư nhi ai” ấy lại thấm đẫm hồn Việt hơn bao giờ hết, bao trùm cả vũ trụ, âm dương, huyền sử, cho đến đời thường, từ kẻ “mũ cao chót vót/triện giắt ấn đeo”, “kẻ ôm sách sử/kẻ vác gươm đao”, cho đến “thợ rèn thợ mộc/thày lang thày mo/nô tỳ hành khất/quả phụ quan phu”. Cái quan hệ Thiên Địa Nhân ấy của một cộng đồng văn minh lúa nước, là cốt lõi, là tinh hoa trong tâm hồn Việt. Thơ CBQ đã cảm nhận được cái tinh hoa Việt ấy. Ông nhìn dòng Kiếp Bạc, thấy bao nhiêu chuyện cũ anh hùng còn gửi cả trên làn sóng xanh. Sông Trà như khúc ruột quặn đau, còn sông Hương thì như gươm dựng dưới trời.


Người quê tôi thường truyền vào tai nhau bài thơ Vịnh chim sáo nói lên cái khát vọng tự do của CBQ, mà tự do trước hết là tự do “mở miệng”. Con chim sáo chỉ vì nói được tiếng người mà cụt mất cả đầu lưỡi. Cứ nhảy nhót trong cái lồng son. Biết làm sao cái thảnh thơi của con hạc trên ngàn. Lại truyền nhau bài thơ về chú bé chăn bọ ngựa. Chú buộc chằng chịt những sợi tơ vào mình nó. Biết đâu rằng nó chết trên cành cây khô. Hỡi người chăn dân, hãy nhìn kỹ cái lông mày của mọi người!


Nhà thơ Thanh Thảo trong trường ca Đêm trên cát  viết về CBQ cũng đã nghe tiếng nói tâm hồn ấy:


Ta chỉ vung sự thật như những cái vồ bằng đá

giáng xuống những cơn mê.

Nếu con người không biết đau khổ

nếu con người đánh đổi

cả cuộc sống cho sự bình yên giả tạo

nếu con người tránh né

những câu hỏi của riêng mình

ta sẽ rung lên hồi chuông

từng tiếng chuông sẽ vỗ vào vai họ

 

Nhân đây tôi nhắc lại một quan điểm nổi tiếng về tâm lý học đám đông của Guýtx-ta-vơ Lơ Bông (Pháp): Tâm hồn dân tộc bao giờ cũng có vai trò chủ đạo trong tâm hồn đám đông. Nó là tầng nền vững chắc để hạn chế những dao động của đám đông. Chính những lực lượng tinh thần ấy mới là động lực chính của lịch sử. (Guýtx-ta-vơ Lơ Bông: Tâm lý học đám đông NXB Tri thức 2006). Nhật ký trong đêm thế kỷ của CBQ có cái tâm hồn dân tộc ấy, cái động lực ấy của lịch sử .

Bài & ảnh do Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp