• Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS VŨ KHIÊU...

    Đại hội chúng ta mang một ý nghĩa rất lớn. Có thể nói đây là Đại hội đại đoàn kết và đông đảo nhất của dòng họ chúng ta từ 12 thế kỉ. Ba ngàn đại biểu không chỉ tới đây với sự hào hứng của mình mà còn mang theo nhiệt tình của gần 8 triệu bà con trong toàn quốc. Nhiệt tình ấy thể hiện lòng biết ơn và ngưỡng mộ công đức của Thủy tổ chúng ta đồng thời cũng nói lên nguyện vọng sâu xa được học tập và noi theo những phẩm chất tốt đẹp của Thủy tổ và các thế hệ tiên tổ của chúng ta qua chiều dài lịch sử...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi ra mắt cuốn sách “CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ" và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    SÀIGÒN-CHỢ LỚN & NAM BỘ

    Ít người biết là vùng đất Saigon-Gia Định-Đồng Nai-Bà Rịa, Cần Giờ và Mỹ Tho cách đây hơn 300 năm, chủ nhân không phải là người Việt, cũng không phải là người Khmer, mà là người Mạ và Stieng. Thuộc hệ ngôn ngữ Mon-Khmer, họ đã hiện diện trên vùng đất rừng rậm hoang dại nhiều thú dữ và sông ngòi chằng chịt này từ ngàn năm trước, cuộc sống của họ một phần bị ảnh hưởng sau đó bởi văn hóa Sa Huỳnh, văn minh Phù Nam, văn hóa Chân Lạp-Khmer và sau cùng là văn hóa Việt–Hoa...

  • Pic Mgmt

    KỲ TÀI NGƯỜI CHỮA KHỎI BỆNH VÔ SINH...

    Cô Quách Thị Huệ ở thôn Xuân Phong xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa) nổi tiếng khắp vùng quê với những bài thuốc gia truyền hay trị hiếm muộn, bệnh gút, xương khớp. Đến xã Hải Vân hỏi thăm cô Huệ thuốc nam, từ đứa trẻ đến người già đều nhiệt tình chỉ dẫn. Cô Huệ trước là Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Hải Vân. Từ lúc mới vài tuổi, cô đã theo bà, theo mẹ lên rừng tìm cây thuốc. Năm 1991, khi mẹ đẻ của cô bị tai nạn ốm yếu, cô bắt đầu thay mẹ đảm nhận việc bốc thuốc gia truyền...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

    Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Việt, các học giả Trung Quốc đã cố gắng phân loại các nhóm Việt khác nhau, thường dựa trên phép gọi tên của các học giả Hán cổ hơn. Ở phía Nam vùng Quảng Đông, Quảng Tây, vùng đất mà từ thời nhà Tần đã được gọi là Lĩnh Nam, người Hán đã xác định các nhóm với tên: Dương Việt, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang .v.v..

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LƯƠNG CHỮ & VĂN HÓA LẠC VIỆT

    Địa điểm khảo cổ Lương Chử (Liangzhu) gần Hàng Châu – Chiết Giang được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới 3000 – 2000 năm trước công nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp với những hình thao thiết (taotie) độc đáo, phạm vi phân bố nền văn hóa rất rộng từ Trường giang đổ xuống đến biển đông, kể từ khi khai quật lần đầu vào năm 1936 dần về sau phạm vi mang dấu ấn văn hóa Lương chữ ngày 1 rộng thêm...

  • Pic Mgmt

    VỊ TƯỚNG KHAI SINH ĐẤT SÀI GÒN

    Hơn 300 năm trước, Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định, tập hợp lưu dân, khai khẩn vùng đất quạnh hiu, hoang vắng lập nên Sài Gòn ngày nay. Sài Gòn trải qua hơn 300 năm lịch sử, khá trẻ so với nghìn năm văn hiến của dân tộc, song hiện là thành phố năng động và là đầu tàu kinh tế của cả nước...

  • Pic Mgmt

    ĐẤT BÁCH VIỆT TRONG SỬ VIỆT VÀ TÀU

    Khi còn học Tiểu học, môn sử địa - người viết đã được dạy về Thừa tướng Lữ Gia và nước Nam Việt. Lúc đó chỉ hiểu đại khái Thừa tướng Lữ Gia vì không muốn nước Nam Việt bị nhà Hán chiếm, nên đã giết chết hai mẹ con Cù thị...

  • Pic Mgmt

    ĐÃ CÓ SÁCH TRUNG QUỐC KHẲNG ĐỊNH… HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM !!!

    ...Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909)...

  • Pic Mgmt

    CHÙA TẢO SÁCH, NGÔI CỔ TỰ HƠN 600 NĂM TUỔI

    Thời tiền Lê, trên nền thảo am cô tịch, người dân đã xây dựng thành chùa Tảo Sách với ý nghĩa là đọc sách dưới ánh ban mai. Đến thế kỷ XVI, thiền sư Thủy Nguyệt, vị sư tổ đầu tiên của phái Tào Động, truyền thụ đệ tử trụ trì các chùa quanh hồ Tây, chùa Tảo Sách còn có tên gọi là Tào Sách, thuộc Sơn Môn, có tên chữ là Linh Sơn tự...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU TOÀN VĂN BẢN DỊCH NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG

    Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc phả gồm 21 tờ tức 42 trang chữ Hán, tổng cộng gần 10.000 (1 vạn) chữ, xưa nay, chưa thấy ai dịch trọn vẹn. Bằng sự kiên trì và gắng sức của tuổi già, sau hơn nửa tháng, GS Ngô Đức Thọ đã hoàn thành trọn vẹn bản dịch, chỉ với một mục đích cao cả là cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc văn bản quý báu được gọi là Quốc bảo này. Và như GS Ngô Đức Thọ từng viết: Là người Việt Nam, dòng dõi con Lạc cháu Hồng, không thể không biết đến Ngọc phả Hùng Vương...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG THAY ĐỔI MỚI VỀ CÁCH NHÌN NHẬN LỊCH SỬ VN !

    Ngày 22/2/2017 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” do GS.NGND Phan Huy Lê - chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trình bày...

  • Pic Mgmt

    TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

    Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA CHỨNG ĐAU NGƯỜI

    Theo quan niệm y học cổ truyền chứng đau người, nhức mỏi cơ thể là bởi huyết không thông, khí không hành. Bộ phận hay bị nhức mỏi là vai, cơ bắp, tứ chi, lưng, khớp xương... người già, phụ nữ sau sinh, người có cơ thể gầy yếu,… thường mắc. Ngoài ra, những người bị thấp tà tích sẵn trong người, khi thời tiết thay đổi thì gây mệt mỏi, đau nhức. Sau đây xin giới thiệu bài thuốc tùy thuộc vào thể trạng của người bệnh mà áp dụng cho phù hợp...

  • Pic Mgmt

    SỰ THÂM THÚY ẨN CHỨA TRONG BÀI CA TRÙ "HỒNG HỒNG TUYẾT TUYẾT"

    ...Từ trước đến nay, khoảng trên dưới 100 năm, những nhà nghiên cứu văn học và yêu thích nghê thuật ca trù đã biết khá rõ những bài thơ nói của tiến sĩ Dương Khuê (1839-1902) trong toàn bộ di sản văn chương và thơ ca của cụ ở nửa thế kỉ XIX trong thiên niên kỉ trước, nhưng ít ai đánh giá đúng giá trị đích thực phẩm chất Dương Khuê trong mảng văn chương được thể hiện bằng loại ca trù, đặc biệt là bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”...

Chi tiết

DI SẢN VĨ ĐẠI CỦA VĂN HIẾN VIỆT TRONG VĂN MINH TRUNG QUỐC

Đăng lúc: 2014-04-25 14:32:07 - Đã xem: 1036

Cao Thế Dung
 
Lời mở đầu: Tác gia Cao Thế Dung vừa hoàn tất bộ “Tinh Hoa Văn Hiến Việt Nam – Toàn tập” sau hơn 30 năm kiên tâm sưu khảo theo lối người xưa “một công đôi ba việc”, “năng nhặt chặt bị”, “kiến tha lâu đầy tổ”.
 
Đặc biệt, mỗi tập là một chủ đề, một bộ sách, có thể đọc tập IV trước tập III, đọc tập II trước tập III. Tập đầu, 875 trang khổ lớn với 429 tấm hình văn hóa, nghệ thuật và lịch sử cùng nhiều bản đồ, do NXB Tiếng Mẹ Phoenix, Arizona xuất bản và phát hành nay mai.
 
Với phụ bản “Di sản vĩ đại của Văn hiến Việt trong văn minh Trung quốc”, trân trọng giới thiệu đến quí đồng hương qua phần Dẫn Nhập.
 
Để hoàn tất phụ bản này, tác gia Cao Thế Dung đã nghiên cứu và sưu khảo trực tiếp từ sử sách văn minh, văn hóa và lịch sử Trung Quốc xưa và nay.
 
Từ tàu viễn dương đến Hoàng thành Bắc kinh
 
Tấm bản đồ Trung Hoa xưa và nay, in trên phụ trương tạp chí Mỹ National Goegraphic, 1991 (1) thì gần một nửa lãnh thổ Trung Hoa ngày nay là đất đai của dân tộc Việt. Ngày khai mạc "Thế vận hội Bắc Kinh 8-2008" có màn trình diễn thuyền viễn dương của Hạm đội Trịnh Hòa, vượt biển Đông đi tới biển Tây: Đấy lại là thuyền viễn dương ba tầng lầu do thợ Việt đóng theo kiểu thuyền Việt Nam đời Trần và đời nhà Hồ.
 
Hạm đội Trịnh Hòa: Người Hoa gốc Ả Rập với tàu viễn dương Đại Việt

Cuộc trình diễn Hạm đội Trịnh Hòa vượt đại dương năm 1405 (2), rất hùng tráng, sôi nổi, sống động, đầy tự hào và hãnh diện. Đây là niềm tự hào cho cả Phương Đông. Trịnh Hòa là người Ả Rập theo đạo Hồi (Islam), sinh trưởng ở Vân Nam, năm 10 tuổi bị hoạn đưa về Kim Lăng dâng Minh để làm hoạn quan, tên thật là Hâdji. Hán hóa thành Trịnh Hòa (Cheng Ho) (1371-1433), mở đầu cho các cuộc di dân của người Hoa đến Đông Nam Á và các hải cảng miền Nam Ấn Độ (3).
 
Chuyến cuối cùng vào năm 1433, Trịnh Hòa chết trên tầu và thủy táng. Vĩ nhân Hâdji Trịnh Hòa vượt Tây dương trước Kha Luân Bố tìm ra Châu Mỹ 87 năm (4). “Cuộc hải trình vĩ đại của Trịnh Hòa tới Tây dương là trang sử huy hoàng của ngành hàng hải Trung Quốc thời cổ đại. Từ năm 1405-1433 ông được Minh Thành Tổ Chu Đệ sai thống lĩnh hơn 27,000 người cùng 62 thuyền Đại tông bảo và hơn 100 thuyền khác tổ chức thành đội thuyền lớn nhất thế giới thời đó” (5). Thuyền viễn dương 2 và 3 tầng lầu của Hạm đội Trịnh Hòa do thợ Việt Nam đóng theo kiểu thuyền vận tải của Hồ Nguyên Trừng vào cuối đời Trần. Lẽ tự nhiên không có thợ VN tạo tác, chắc là không thể có hạm đội viễn dương Trịnh Hòa để Trung Hoa tự hào. “Bẩy lần tới Tây dương của Trịnh Hòa vào nửa đầu thế kỷ thứ 15 là hiện tượng vĩ đại chưa từng có trong lịch sử chinh phục đại dương của nhân loại” (6).
 
Thuyền viễn dương Việt cổ

Lâu thuyền là công trình tạo tác của dân tộc Lạc Việt, ít nhất cách nay (2008) khoảng trên 4000 năm, niên đại khảo cổ C-14.
 
Theo Solheim II: “Thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên sông ở Đông Nam Á trước hơn 5000 năm trước Công nguyên (…). Tôi tin rằng, phong trào di dân khỏi vùng (Đông Nam Á) bằng thuyền bắt đầu vào khoảng 4000 năm trước Công nguyên đã tình cờ đưa người lên Đài Loan và Nhật Bản chở theo khoai sọ và các ngũ cốc khác.
 
Vào khoảng niên đại 3000 trước Công nguyên, người Đông Nam Á đã biết sử dụng thuyền rất thành thạo, đi tới vùng đảo Phi Luật Tân và Nam Dương. Họ đem theo kỹ thuật kỷ hà vòng trôn ốc, tam giác, hình chữ nhật dùng trong các đồ gốm, chạm gỗ, xâm mình, vỏ cây dùng làm quần áo, sau này biến thành nghề dệt sợi. Những hình kỷ hà này cũng thấy trên các đồ đồng Đông Sơn mà các giả thuyết thường cho rằng chúng có nguồn gốc Đông Âu.
 
Người Đông Nam Á còn đi về phía Tây, đến cả đảo Madagascar vào khoảng năm 2000 trước Công nguyên. Hình như họ đã đem đến miền Đông Phi châu những cây nông nghiệp đã được thuần dưỡng. Cũng vào thời kỳ ấy, đã có sự giao lưu giữa Việt Nam và miền Địa Trung Hải. Ở Đông Sơn, có rất nhiều đồ đồng khác lạ đã được tìm thấy. Những đồ này dường như có nguồn gốc Địa Trung Hải” (7).
 
Thành Cổ Loa cũng là căn cứ Thủy quân đời Thục An Dương Vương. Lễ hội tế thần Cao Lỗ ở Cổ Loa, dân tổ chức đua thuyền “diễn lại trận thủy chiến Cao Lỗ đánh Triệu Đà” (8)
 
Dự đoán nhà Minh sẽ đánh, vua Hồ Hán Thương “hạ lệnh đóng thuyền đinh sắt, đặt hiệu thuyền là “tải lương cổ lâu” tuy mượn tiếng vận tải để đặt tên thuyền nhưng thực ra là để phòng bị quân nhà Minh” (9), “lại cho đóng cọc gỗ ở nơi xung yếu tại các cửa biển và sông cái để phòng bị chống cự quân giặc” (10).
 
Thủy quân là ưu thế, “Quý Ly lấy Hành khiển Đỗ Mân làm Thủy quân Đô tướng” (11). Hán Thương “cho đóng thuyền sắt (…) bên trên có đường sàn đi lại để tiện việc chiến đấu, bên dưới thì hai người chèo một mái chèo” (12).
 
Thủy quân nhà Hồ đã có chiến hạm theo chiến pháp “phía ngoài liên kết chiến hạm của Thủy quân, trên bờ thì binh tướng của ta đóng đối diện với doanh trại giặc” (13). Lâu thuyền tức trên thuyền có lầu chỉ huy. Trung lâu thuyền tải lương có trọng tải từ 100 đến 150 tấn chống chọi được với gió lớn, đi nhanh. Đặc biệt có thể đi ngược chiều gió, có buồm phụ giương lên, chạy theo chữ chi. Có nhiều loại: Loại lớn chở binh lương, có loại 30 tay chèo. Thuyền làm 2 tầng, tay chèo ngồi tầng dưới an toàn. Tầng trên là thủy binh. Thuyền có thể đi hai chiều: không cần quay tay lái, mà đổi tay chèo, thuyền chạy ngược lại phía sau, không cần quay lại. Thủy binh rút xuống lầu dưới, thuyền lao vào thuyền địch như một khúc gỗ khổng lồ. Lầu chỉ huy có bộ phận kéo xuống khoang. Thủy binh, chèo cứ chèo, thủy binh chiến đấu như “Lính thủy đánh bộ ngày nay”.
 
Chiến hạm lâu thuyền đời Hồ có ba tầng, tầng trên là mặt bằng (như sân bay trên hàng không mẫu hạm ngày nay). Lúc trời yên biển lặng “lâu thuyền là nơi luyện tập hay diễn võ. Tầng dưới có từ 20 đến 30 tay chèo, 2 người một mái chèo, luân phiên nhau. Khi tác chiến cần phóng nhanh thì cả 2 tay chèo cùng hợp lực chèo”.
 
"Thời nhà Hồ và nhà Lê thuyền bè nước ta tiếp tục phát triển về kiểu dạng và số lượng. Thời kỳ này thuyền Đinh với quy mô khác nhau là loại thuyền thông dụng. Kháng chiến chống Minh của Lê Lợi, nghĩa quân trong điều kiện khó khăn cũng đã tự đóng được 70 chiếc thuyền vượt biển dùng vận tải ở vùng Tân Bình, Thuận Hóa.
 
Thời trước khởi nghĩa Tây Sơn, sách “Lê triều Hội điển” có in tới 3 loại thuyền của nước ta, như Thuyền Thiện Hải, Thuyền Hàng (đại, trung, tiểu) và Thuyền Cổ (đại, trung, tiểu). Các loại thuyền này đóng bằng gỗ, dùng đinh sắt, không thấy hệ thống cột buồm, mà dùng rất nhiều mái chèo” (14).
 
“Hình ảnh xác thực sớm nhất về con thuyền mà ngày nay chúng ta biết được là trang trí thuyền trên các trống đồng và hiện vật khác thời Đông Sơn, thuộc thiên niên kỷ I trước công nguyên. Trên tang trống, thạp, rìu đồng… thuyền là mô típ trang trí chủ đạo.
 
Các loại thuyền thời văn minh Đông Sơn không những đã thể hiện sự đa dạng về kiểu dáng, mà còn chứng tỏ trình độ cao của kỹ thuật chế đóng thuyền bè đúng thời” (15). Việt Nam dư giả nguyên liệu đóng thuyền, dân số khoảng 5.2 triệu (16), quân Minh chiếm Đại Việt, cướp của ta 2,670 chiến thuyền (17).
 
Hoàng thành Bắc Kinh: Tự hào, hãnh diện của Trung quốc vĩ đại

Chúng tôi đến Bắc Kinh ở lại gần ba tuần lễ khảo cứu “Cội nguồn văn minh văn hiến Việt tộc trong văn minh và lịch sử Trung Hoa” do Nhà xuất bản Tiếng Mẹ, Phoenix, Arizona tài trợ. Nhờ vậy đã 3 lần chúng tôi đến thăm và chiêm ngưỡng kiến trúc vĩ đại Hoàng Thành Bắc Kinh từ Thiên An Môn đến Tử Cấm Thành, từ các cung điện đến đàn Bắc Giao tế Trời. Du khách từ các châu lục đến thăm, nườm nượp hàng ngày. Người Tầu rất tự hào, hãnh diện: một đại kiến trúc, lộng lẫy hùng tráng (18).
 
Nguyễn An, kiến trúc sư, Tổng công trình sư, một tay ông đã vẽ kiểu và điều hợp thực hiện công trình vĩ đại này. Hoàng đế Minh Thành Tổ rất lấy làm hài lòng. Hơn 70 người thợ VN lành nghề đưa qua Bắc Kinh, gồm thợ chạm, khắc, trang trí nội thất cung điện, đắp rồng, phượng… Với 70,000 thợ và binh lính (trong khi Bộ Công dự trù phải sử dụng 180,000 người) do Nguyễn An điều động. Bộ Công đặt dưới quyền Nguyễn An. Bộ Sử Thế giới của Đại học Cambridge, “Sử Trung Hoa” viết về Nguyễn An tức Juan An: “Người An Nam”, hoạn quan, là kiến trúc sư trưởng, đóng vai trò chủ yếu xây Bắc Kinh đời vua Minh Thành Tổ” (19).
 
Nhà vua thưởng trọng hậu cho thợ và các quan chức hữu công. Vua cho Thái giám Nguyễn An 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấm lụa, một vạn quan tiền (20) Nguyễn An nộp vào kho của nhà nước, ông sống trọn vẹn với đức thanh liêm, được vua sủng ái, triều đình kính nể.
 
Mười một cái Trung Hoa không có
 
Đất nước Trung Hoa vĩ đại ngày nay với 5,000 năm văn minh văn hiến nhưng lại có mười một (11) cái Không có thực. Nếu có cũng chỉ là sự kiện ảo do đời xưa và đời nay người Hán hư cấu.
 
- Một là: Đã không có nước Trung Quốc cho đến khi Lưu Bang lập được nhà Hán năm 208 trước Công nguyên. Trung Quốc không phải là tên gọi dân tộc Hán, chỉ có nghĩa là Trung Châu. Cũng không có dân tộc Hoa-Hạ.
- Hai: Đã không có cỗi nguồn đầu tiên của loài người ở bản địa Hoa Lục. Loài người, một là từ Phi Châu di cư qua Đông Nam Á rồi đi lên miền Bắc đến Trường Giang (Dương Tử Giang) hay từ Phi Châu đi lên Âu Châu ngày nay rồi đi về phía Đông, qua Trung Á đến phía Bắc sông Hoàng Hà và Đông Bắc nước Tầu bây giờ. Còn một hướng khác, con người từ chiếc nôi loài người ở miền Bắc Việt Nam ngày nay gọi là người Hòa Bình đi lên vùng trung châu Trường Giang-Việt Giang và duyên hải Quảng Đông, Phúc Kiến, Thượng Hải, Thiên Tân.
- Ba: Đã không có nền văn minh đồ đá mới “người Vượn Bắc Kinh”. Văn minh trên toàn lãnh thổ trung châu Hoàng Hà và Trường Giang là nền văn minh có cỗi nguồn văn minh Hòa Bình (VN).
- Bốn: Đã không có dân tộc Trung Quốc mà chỉ có Hán tộc và 56 dân tộc khác ở Hoa Lục ngày nay. Thế kỷ 14, Tây phương gọi chung là China, do tiếng Phạn Cina rồi “Chinois”, “Chinese”. Người Nga ngày nay vẫn còn gọi người Hoa-Hán là Kitai (có lẽ khởi nguồn từ 2 chữ Khiết Đan). Đạo Hồi (Islam) gọi Tầu là Tamghaj, Tomghaj hay Tohaj.
- Năm: Trung Hoa từ cổ thời cho đến Cách mạng Tân Hợi (1911) không có nữ quyền. Khác hẳn với Việt tộc, phụ nữ Tầu chỉ là thứ yếu “chồng chúa vợ tôi”. Cung A phòng của Hán Vũ Đế có tới 18,000 cung nữ, nô lệ tình dục.
- Sáu: Đã không có sự cố Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung quốc mà chỉ có sự thực lịch sử này: Tần Thủy Hoàng chinh phục thiên hạ, cướp đoạt các nước lập ra đế quốc Tần và xây Vạn Lý Trường Thành. Nhà Tần bị diệt, Sở Vương Hạng Vũ thua, bấy giờ Hán Vương Lưu Bang mới được hưởng lãnh thổ bao la của đế quốc Tần.
- Tám: Lão Tử với Đạo Đức Kinh, một nền triết học vĩ đại của Đông Phương không phải là người Hán mà là người Việt nước Sở.
- Chín: Khổng Tử không phải là người lập ra Nho giáo. Đã không có Khổng giáo, Chu Công mới là Thánh tổ, tiên khởi của Nho. Nhà Chu và Chu Công không phải Hán tộc.
- Mười: Các triều đại Trung Hoa từ nhà Hán đến nhà Thanh không có quốc hiệu, lấy tên triều đại gọi tên nước như nước Đường, nước Tống, nước Thanh. Sau cách mạng Tân Hợi (1911), vua Phổ Nghi thoái vị (1912), lúc ấy Trung Hoa mới đặt quốc hiệu Cộng Hòa Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên cáo thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa với quốc kỳ “Ngũ tộc Cộng hòa” 5 sao: sao lớn ở giữa là Đại Hán, 4 sao nhỏ chung quanh là Hồi, Mông, Tạng và Mãn. Hơn 50 dân tộc thiểu số còn lại gộp cả vào Đại Hán.
- Mười một: Hoa ngữ - văn tự của Tầu xưa nay không do Hán tộc sáng tạo. Cách xa nhà Hán cả trăm năm, đại thi hào Khuất Nguyên và thi hào Tống Ngọc sáng tác thơ văn bằng văn tự mà thủa ấy cho đến thế kỷ 19, người Việt gọi là chữ Nho, Nho học. Người Tây phương thế kỷ thứ 13 và người Pháp ở VN thế kỷ 19 gọi chữ Nho là chữ Tầu “Caractères Chinois”, ta dịch lại là Hán tự-chữ Hán, từ bấy giờ cho đến nay quen gọi như thế.
 
Trung Hoa và Hoa Hán còn nhiều cái không có khác nữa như h‎ý khúc-tuồng Tầu, không phải là sáng tạo của Hoa-Hán mà là của dân tộc Kim và Mông Cổ.
 
Mười hai di sản lớn của văn minh Việt trong văn minh Trung hoa

Di sản Việt rất đậm đà, sống động và đầy hiện thực trong Văn minh Văn hóa Trung Hoa từ cổ thời cho đến ngày nay. Với 12 Di sản lớn, cụ thể được tìm ra trong khảo cổ học, nhân chủng học và sử sách Trung Hoa kim và cổ.
 
- Một là: Thi hào Khuất Nguyên là người Sở Việt với trường ca Ly Tao đã khai mở nền thi ca Trung Hoa và thể thơ Ly Tao.
- Hai: Triết học Vô vi của Lão Tử người Việt là khởi nguồn Đạo Giáo vĩ đại của Trung Hoa.
- Ba: Nhạc Đạo tức nhạc chương của Đạo Giáo có cội nguồn từ Cửu Ca và Đạo Thần Tiên của Sở Việt - Lạc Việt - Bách Việt gọi chung là Việt tộc.
- Bốn: Duy Vật luận của triết gia Vương Sung, cũng là nhà thiên văn, khí hậu, cổ học, âm học thật lớn lao trong Lịch sử Triết học và Văn hóa Trung Hoa. Vương Sung là người Việt.
- Năm: Trống và Mõ, trong kho tàng nhạc khí Trung Hoa du nhập từ Đông Nam Á, Lạc Việt, Việt Thường, Việt Đông.
- Sáu: Rồng và múa rồng, múa lân, nhiều đặc trưng khác trong bộ môn ca-múa, tức vũ đạo Trung Hoa xuất phát từ Việt tộc phương Nam.
- Bẩy: Nhạc ngũ âm và bát âm trong nhạc luật Trung Hoa có cội nguồn ngũ âm, bát âm Việt tộc.
- Tám: Nghề đúc thủy tinh, đồ gốm, nghề sơn, nghề rèn kiếm, đồ sứ, bể cảnh, làm men nấu rượu và nhiều nghề khác của người Hoa-Hán đều là học được của người Việt, cỗi nguồn Việt tộc.
- Chín: Trồng bông,  dệt  vải, dệt gấm, khảm, nạm vàng của Trung Hoa xưa đều du nhập từ Việt tộc.
- Mười: Lâu thuyền của đoàn quân viễn chinh Tần Thủy Hoàng rồi đến Hán Đế do người Việt sáng chế.
- Mười một: Thuyền viễn dương trong Hạm đội Trịnh Hòa (1403), được trình diễn lại trong ngày lễ khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh tháng 8-2008 là thuyền do thợ người Việt đóng theo mẫu thuyền 2 tầng lầu, 2 tay lái do Hồ Nguyên Trừng sáng chế.
- Mười hai: Nghề nông và trồng lúa nước Hán tộc học được của Việt tộc. Còn nhiều di sản khác của văn minh Việt trong văn minh Trung Hoa trong đó có các món ăn Việt, kể cả phù chú và kinh kệ Phật giáo Giao Châu truyền vào Hoa Nam từ trung tâm Phật giáo Luy Lâu với người Việt là Mâu Bác và Lý hoặc Luận là đại biểu viết về các triều đại không phải Hán tộc trong lịch sử Trung Hoa - trước hết để sáng danh các dân tộc khác, trong đó có Việt tộc từng là chủ thể ở Trung Châu Trung Hoa cổ, là dân tộc đã góp công lao “trời biển” xây dựng đất nước Trung Hoa văn minh bậc nhất loài người. Một hoàng đế Đường Thái tông, hậu duệ của người Việt là Lý Nhĩ - Lão tử nước Sở, sử gia Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa  vinh danh: “So với các hoàng đế Trung Quốc, ông là một nhân vật “xuất loại bạt tụy”, lỗi lạc xuất chúng, đánh tan Đột Quyết (Duy Ngô Nhĩ-Ughers) mở ra một đất nước lớn rộng, dựng lên một đại đế quốc vượt hẳn các đế quốc đời trước (21).
 
Danh nhân Lương Khải Siêu, dâng cả thân thế cho đất nước Trung Hoa trước một nước Tầu suy kiệt, bị các đế quốc liệt cường chia năm xẻ bẩy không ngóc đầu lên được, họ Lương sót xa kêu lên: “Ô hô! Hồn Trung Quốc bây giờ ở đâu?” (22). Nhờ Lương Khải Siêu từ Balê gióng lên tiếng kêu trầm thống “quốc nhục Trung Hoa”, phong trào Ngũ Tứ (1919) như giông tố bùng lên khắp nước, mở đầu cuộc phục hưng Trung Hoa (23). Dù là huyết thống Việt, trước sau vẫn là Tầu - Trung Hoa. Từ hoàng đế Đường Thái Tông đến Tôn Dật Tiên, Lương Khải Siêu, Lý Đặng Huy thì cốt lõi vẫn là Việt.
 
Hai danh nhân vĩ đại của Trung Hoa cận kim là Tôn Dật Tiên chủ trương cách mạng, còn Lương chống lại cho rằng “Cộng hòa không hay bằng Lập hiến” (24). Cả hai ông đều là đại công thần của cách mạng cận kim Trung Hoa. Hai ông là người Tầu gốc Việt Đông.
 
Nêu lên các triều đại và danh nhân Việt ở Trung Hoa không phải là điều “thấy sang bắt quàng làm họ”. Mà ai đã sang hơn ai! Nêu lên ở đây để thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai biết cho rằng, người Việt và tài năng Việt đã đóng góp lớn lao không kém Hán tộc đã dựng lên nước Trung Hoa, xưa và nay. Cứu tinh của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (CS) là Đặng Tiểu Bình, người Khách gia. Nói cho chính danh tổ tiên ông là người Mân Việt.
 
Chúng tôi viết về các triều đại phi-Hán và ngoại tộc trong lịch sử Trung Hoa để thế hệ hôm nay và ngày mai nhận ra rõ: không phải chỉ có Hán tộc dựng lên đất nước Trung Hoa mà còn do các dân tộc khác, chủ yếu là Việt tộc đã bị cố ý xoá bỏ. Lịch sử Văn hóa Trung Quốc trịnh trọng viết về Trịnh Hòa “nhà hàng hải nổi tiếng thế giới Trịnh Hòa thời Minh là người dân tộc Hồi” (25). Trước đây, họ đã cố ý quên Nguyễn An.
 
Hoa Hạ chưa phải là Hoa Hán
 
Các dân tộc ở ngoài Trung Nguyên, người Hán gọi là Man, Di, Nhung, Địch. Hoa Hạ ở Trung Nguyên chưa phải chỉ có Hán tộc. Các tộc lớn Ngu, Hạ, Thương, Chu cội nguồn không phải Hoa Hạ. Sau này, các đại tộc kể trên mới hội nhập thành Hoa Hạ.
 
Vua Sở (Việt) tự xưng là Man Di. Ngô (Việt) và Việt cũng là 2 nước “Di-Địch” lớn. Bốn nước lớn Sở (Việt), Tần, Ngô (Việt), Việt trước cả thời Xuân Thu đã trở thành Hoa Hạ (26). Thời Chiến quốc, nhiều tộc Man như Bộc (Việt-Tầu gọi là Bộc Lão), Man, Dung, Thu đã được nước Sở đưa vào phạm vi Hoa Hạ.

Hoa Hạ không phải là một chủng tộc.

Việt tộc là đa số chủ thể ở Hoa Hạ, phân ra nhiều tộc như Sở, Ngô, Việt, Mân, Lạc (Lạc Việt) là một thành phần trong Sở Việt, lớn mạnh nhất. Dân tộc Hán, vốn là dân du mục, sống trên mình ngựa, hiếu chiến tràn xuống Trung Nguyên.
 
Hán tộc ở Trung Nguyên đã bị cuốn hút vào “ánh sáng văn minh Hoa Hạ” mà chủ thể là Việt tộc. Do các tộc Việt kình chống nhau như Ngô và Sở đánh nhau, Sở và Việt (Việt Vương Câu Tiễn) thanh toán nhau, Hán tộc vì sinh tồn đoàn kết lại, chuyên nghề chinh chiến, dần dần Việt tộc bị xâm lấn, cướp đoạt và Hán Hóa. Đến thời Bắc Tề mãi sau này mới xuất hiện những tên gọi như Hán tử, Hán bối, Hán gia, Hán phụ nhân, Hán lão ẩu, Hán tiểu nhi, nhất Tiền Hán, Cẩu Hán, Tặc Hán.
 
                      Cao Thế Dung
  (Vào Hè – 2010)
                                                                                                         
CHÚ THÍCH
(1) – National Geographic, "China's youth wait for tomorrow", vol. 180, n˚ 1, July 1999, pp.110-136 – double map supplement: China.
(2) - Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc. Văn nghệ xb, Westminster, CA, USA, 2003, tt.462-464: Chuyến đi đầu tiên, xuất phát vào tháng 6, từ một hải cảng ở Tô Châu, ghé Phúc Kiến, Việt Nam, Chiêm Thành, Java…chuyến thứ 6 đi đến Madagascar, chuyến thứ 7 đi đến tận Ba Tư (Persia tức Iran). Hạm đội đông tới 28,000 người gồm cả y sĩ, thông ngôn, thợ thủ công đủ nghề.
(3) Jacques Gernet, A History of Chinese civilization, translated by J.R.Foster. Cambridge Uni. Press, N.Y.1989, pp.398-402 “The big maritime expansions”.
(4) Christopher Columbus (1451-1506), Kha Luân Bố người Tây Ban Nha, vượt Đại Tây dương, bấy giờ gọi là Tây Ấn (West India) ngày 1-8-1492 rời cảng Palos với tầu nhỏ, Columbus trên tầu Santa Maria, đến ngày 12-10 thì đến một đảo nhỏ (Waiting island). Ngày 27-10 nhìn thấy đảo Cuba. Đêm Giáng Sinh 1492 đặt chân lên Châu lục mới. Xem: Columbus, The New Columbia Encyclopedia, illustrated. p.606.
(5) - Cát Tráng, “Tình  hình hàng hải của Trung Quốc thời cổ như thế nào?” trong Lịch sử Văn hóa Trung Quốc, T.I, p.496.
(6) Thẩm Lập Tâm, “Tình hình giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với Đông Nam Á thời cổ như thế nào?”, sđd, T.II, tt.648-654.
(7) Wilhelm G.Solheim II, National Geographic, “A new life on a Forgotten Past”. Vol.130, n˚ 3, Washington, March 1971.
(8) Đặng Văn Lung, Lịch sử và Văn hóa dân gian. Nxb VH, HN, 2003, tt.409-476.
(9) (10) - Cương Mục, Ch13. Q.XII, t.6-8.
(11) (12) - Toàn Thư, Q.VIII, “Hồ Quý Ly và Hán Thương”, t.311 “cử Đỗ Mân làm Thủy quân Đô tướng (Tư Lệnh)”.
(13) - Toàn Thư, Q.VIII, t.53.
(14) - Ngô Đức Thịnh và Nguyễn Việt, thuyền bè truyền thống Việt Nam Nghiên cứu Lịch sử số 6 (219) – 1984, tt.48-51.
 
Thuyền trên trống đồng
 
(15) - Ngô Đức Thịnh và Nguyễn Việt, thuyền bè truyền thống Việt Nam Nghiên cứu lịch sử số 6 (219) – 1984, tt.49.
-  Thuyền độc mộc làm từ thân cây khoét rỗng, như có thể phân biệt ba loại thuyền chính là thuyền chiến có kích thước lớn, cấu tạo phức tạp, loại thuyền vừa và thuyền độc mộc nhỏ một cái máng lớn, không lắp thêm một bộ phận phụ nào, đo theo luật tương quan dài khoảng 6-7m, dài nhất là 10m, ngắn nhất là 3m, loại thuyền này thường thấy ở trống đồng Đồi Ro, Làng Vạc.
(16) -  Về dân số năm 1407, xem: Lê Thành Khôi, Le Viêt Nam, op.cit p.205.
(17) - Hoàng Minh Thực lục, Minh sử, Q.327. An Nam truyện, trích trong Cao Thế Dung. Việt Nam Binh Sử Võ đạo, tr.521.
* Ngô Đức Thịnh và Nguyễn Việt, tlđd. Nghiên cứu Lịch sử số 6 – 1984, tr.49-50:
Về nguyên liệu chế tạo thuyền bè Việt Nam chủ yếu là các loại gỗ, tre, dầu thảo mộc, các loại xô, gai dùng để trét bịt…Kim loại được sử dụng khá muộn, đinh sắt, neo, chốt…Gỗ, tre và những loại có đặc tính nhẹ nổi trên nước, ít bị hư hỏng do tác động của nước, đặc biệt là nước mặn, lại rất sẵn trong thiên nhiên Việt Nam.
Hoàng cung Bắc Kinh
(18) - Tô Kinh, “Chế độ xây dựng cung điện thời cổ Trung Quốc đã hình thành thế nào?” trong Lịch sử Văn hóa Trung Quốc, T.II, tr 405. Trên đường trục Nam Bắc, lần lượt từ Thiên An môn (cửa chính hoàng thành), Đoan môn, Ngọ môn (cửa chính cung thành), Thái Hòa môn, Thái Hòa điện, Càn Thành môn, Càn Thành cung, tất cả là “ngũ môn tam điện” giữa Ngọ môn và Thiên An môn có các dẫy nhà hai bên đường gọi là triều phong (không nhắc đến Tổng công trình sư và kiến trúc sư Nguyễn An).
- Xem: The Chinese, by J-B Grosier, photographs. Crescent Books, Genève 1933, pp.62-66. The Forbidden City – The Temple of Heaven, text & photographs (không biết đến tác giả Nguyễn An).
(19) - The Cambridge History of China, vol.7. The Ming dynasty, Part I, op cit. p.241-243 “The chief architect was an Annamese eunuch named Juan An (d.1453), who also played a major role in the rebuilding of Peking during the Cheng-t’ung reign (…). By late 1417, most of the palace buildings had been completed, (…).
The emperor was pleased with the result and lavishly rewarded the officials in charge of the construction (…). On 28 October 1420 Peking was formally designated the principal capital of the empire. From February 1421, all documents were to refer to Peking rather than Nanking as the imperial capital”.
(20) - Xem: Trương  Tú  Dân, “Thị  dân Bắc Bình nên kỷ niệm Nguyễn An, người  An  Nam,  Thái giám nhà Minh, tổng công trình sư tạo dựng cung điện lầu thành Bắc Kinh thế kỷ XV”, đăng trên tờ Ích Thế báo, số ra ngày 11-11 năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 36 (1947), tt.115-118, do Phạm Hân, sưu khảo và dịch, sđd. tr.101.
(21) - Phạm Văn Lan, chủ biên, Trung Quốc thông sứ giản biên. T.I Bắc Kinh, 1949 Tựa, tr.7.
(22) - Tong Qui Lin, “A search for China’s soul”. Daedalus, Spring 1993, pp 171-188.
(23) – Benjamin I Schwartz, “Themes in intellectual history: May Fourth and after” in John K. Fairbank, ed. The Cambridge history of China, vol. 12 - Republican China,1912-1949. Cambridge Unv. Press. 1983, pp.406-405.
(24) - Về Lương Khải Siêu (1873-1929), xem: Tùng Vân, Bàn về nhân vật Lương Khải Siêu”. Nam Phong số 185, 6-1993, tt.549-555.- Lương Khải Siêu: quê ở Tân Hội, Quảng Đông, thông hiểu lịch sử văn hóa Trung Quốc và Tây phương với học thức uyên bác, trứ tác phong phú, vào bài sáng sủa, tài tứ mẫn tiệp, văn ông tình cảm nồng đậm sắc sảo. Văn chương của ông đa số là thuộc trứ tác chính trị. Thơ ông cũng như văn nhiều nhiệt tình rất minh bạch, đặc biệt là thơ trong thời kỳ lưu vong ở Nhật, rất cảm động. Đại bộ phận tác phẩm in trong bộ Ẩm Băng thất hợp tập, do Trung Hoa thư cục xb.1932. Xem Nguyễn Tôn Nhan, Từ điển Văn học cổ điển Trung Quốc. Nxb VN, TpHCM,1999, tt.406-407. Xem: Trung Quốc cận đại sử cương, sđd, Chg II. Tiết 2, tt.318-325, “Cách mệnh phái dữ cải lương phái đích luân chiến”.
(25) – Vương Tương Vân, “Vì sao nói nền văn hóa xán lạn của Trung Quốc là do cộng đồng các dân tộc sáng tạo?”, sđd, T.I, tt.57-61.
(26) - Giả Kính Nhan, “Thời Viễn cổ, Trung Quốc có những dân tộc nguyên thủy nào? Họ đã dung hợp như thế nào để hình thành dân tộc Hoa Hạ?” T.I, sđd. tt.221-224.
thoiluanonline.com/
Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp