• Pic Mgmt

    VIỆT NAM KHAI QUỐC - CÁC LẠC HẦU...

    Những truyền thống thuở sơ khai của Việt Nam, như đã được kể lại trong cuốn "Lĩnh Nam Chích Quái, một cuốn sách sưu tầm những truyền thuyết, được viết vào thế kỷ 15, đều có nói đến các vua Hùng cai trị nước Văn Lang. Các vua Hùng được cho là thuộc dòng dõi Lạc Long Quân–một anh hùng từ quê hương của mình từ biển khơi đến đồng bằng sông Hồng–nơi ngày nay là Bắc Việt Nam–và khuất phục được tất cả những yêu quái ở vùng đất đó, rồi truyền bá văn minh cho dân chúng, bằng cách dạy họ cách trồng lúa và may quần áo để mặc...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT - CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay...

  • Pic Mgmt

    VIỆT TỘC CÓ CHỮ VIẾT KHÔNG ?

    ...Việt tộc có một nền văn hóa cao như khảo cổ đã chứng minh, nhưng con cháu chưa bao giờ thấy chữ viết của cha ông để lại, mặc dù cổ sử Trung Quốc chép nước Việt Thường dâng Đế Nghiêu (2358 TCN) một con rùa 1000 năm, trên mai có chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) kể lại sự tạo thiên lập địa trở về sau và viết sách để lại cho thế hệ con cháu trong tiến trình dựng nước và giữ nước...

  • Pic Mgmt

    AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ DƯỚI MẮT HỌC GIẢ MỸ

    An Nam đại quốc họa đồ là tờ bản đồ có kích thước 84x45cm, phụ bản của cuốn Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latin-An Nam), do Oriental Lith. Press xuất bản ở Calcutta (Ấn Độ) vào năm 1838...

  • Pic Mgmt

    DÂN TỘC KINH Ở GIANG BÌNH (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc)

    Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh là một trong 55 dân tộc thiểu số chiếm số lượng khiêm tốn 18.700 người so với một số dân tộc khác như người Choang 15.555.800 người, người Di 6.578.500 người,... [1] Trên các trang web, bản đồ, các sách tổng quan chung về các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc hiện nay [2] khi giới thiệu về dân tộc Kinh thường ghi ngắn gọn về địa bàn cư trú tập trung nhất của họ là ở Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây...

  • Pic Mgmt

    THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG (hết)

    Không có cái gọi là thời kỳ "Bắc thuộc lần thứ nhất". Việc lập 9 quận, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thuộc Hán chỉ là sự "đoạt khống" đất đai nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của nhà Hán mà thôi. Nhà Hán "đoạt khống" đất đai nước ta - Nếu nước ta thời Hùng Vương vẫn là một nước độc lập kéo dài cho đến năm 43, nghĩa là giai đoạn “Bắc thuộc lần thứ nhất” không tồn tại? - Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát...

  • Pic Mgmt

    CỔ VẬT VIỆT NAM KHÔNG LẪN VÀO ĐÂU ĐƯỢC

    Những ngày đầu tháng 7 này, ông Jean François Hubert, chuyên gia cao cấp của hai hãng đấu giá Christie’s và Sotheby’s, lại đến Huế trong những chuyến đi tới VN đều đặn suốt 20 năm qua. Tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử VN, cổ vật VN, mỹ thuật VN, văn hóa Champa... đã dành cho TTCT một cuộc trao đổi về cổ vật VN. Mở đầu cuộc phỏng vấn về cổ vật VN, ông Hubert cho biết:...

  • Pic Mgmt

    LỜI HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG CỦA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 10/12/2010, tôi có dịp cùng đi với bạn Ngô Thế Long đến thăm ông Phan Văn Dốp - Giám đốc Thư Viện Khoa Học Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, tôi đã tìm thấy toàn văn bản dịch HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG của Cao Bá Quát được đăng trong KỶ YẾU THÔNG TIN UNESCO VIETNAM, số 7 tháng 12 năm 1964 (Chủ nhiệm kiêm chủ bút: NGUYỄN ĐÌNH HÒA. Thư ký kiêm quản lý: NGUYỄN QUỲNH)...

  • Pic Mgmt

    HỒ HOÀN KIẾM VÀ BÍ ẨN LỚN CHƯA THỂ LÝ GIẢI

    (Kienthuc.net.vn) - Từ khi có hồ Hoàn Kiếm đến bây giờ, chưa bao giờ hồ cạn nước. Nhiều người thắc mắc rằng, không biết hồ lấy nguồn nước nơi đâu, vì sao nước hồ có màu xanh? Điều khiến nhiều người quan tâm đến hồ Hoàn Kiếm, bởi bốn mùa nước hồ đều có màu xanh trong. "Xưa kia người ta cho rằng nước hồ xanh là do chất tiết của mỏ đồng dưới đáy hồ. Thế nhưng, các nhà khoa học đã chứng minh màu nước hồ xanh là do trong hồ có nhiều chủng tảo lục chứ không phải do có mỏ đồng", PGS.TS Hà Đình Đức cho biết...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

  • Pic Mgmt

    BÀN VỀ KHỞI NGHĨA TÂY VŨ VƯƠNG

    Một số sử gia xác quyết rằng: Tại Giao Chỉ và Cửu Chân vào năm 111TCN, xảy ra cuộc nổi dậy của nhân dân, chống lại sự xâm lược của nhà Tây Hán, do thủ lĩnh Tây Vu lãnh đạo. Nhà sử học Trần Quốc Vượng còn cho rằng: Tây Vu Vương đã thiết lập được một thái ấp hay chính quyền tại Cổ Loa...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN MIẾNG VÀNG HÌNH RỒNG Ở HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

    Mảnh vàng hình rồng và hoa sen phát hiện phát hiện lần này được cho là phụ kiện đính trên mũ hoặc trang phục của nhà vua. Thông tin và hình ảnh về miếng vàng đặc biệt được công bố trong hội thảo báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khu vực thành cổ đường Hoàng Diệu, Hà Nội diễn ra ngày 16/12...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI XỚ RỚ UYÊN THÂM

    Sĩ tức là người trí thức. Đương nhiên, trước hết định nghĩa thế nào là người trí thức? Người trí thức, kẻ sĩ ấy, là ai vậy, mà hễ có giang sơn thì ắt đã phải có anh ta rồi, không có anh ta thì giang sơn còn chưa trọn vẹn là giang sơn, và có anh ta thì nguồn chính khí bỗng đầy trong trời đất? Anh từ đâu đến? Anh đến để làm gì trong cuộc đời này? Trách nhiệm của anh là gì?...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN

    Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi các sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn...

  • Pic Mgmt

    KỲ TÀI NGƯỜI CHỮA KHỎI BỆNH VÔ SINH...

    Cô Quách Thị Huệ ở thôn Xuân Phong xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa) nổi tiếng khắp vùng quê với những bài thuốc gia truyền hay trị hiếm muộn, bệnh gút, xương khớp. Đến xã Hải Vân hỏi thăm cô Huệ thuốc nam, từ đứa trẻ đến người già đều nhiệt tình chỉ dẫn. Cô Huệ trước là Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Hải Vân. Từ lúc mới vài tuổi, cô đã theo bà, theo mẹ lên rừng tìm cây thuốc. Năm 1991, khi mẹ đẻ của cô bị tai nạn ốm yếu, cô bắt đầu thay mẹ đảm nhận việc bốc thuốc gia truyền...

Chi tiết

XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

Đăng lúc: 2014-04-26 07:03:53 - Đã xem: 1994

HUỲNH VĂN HOA

PDF.InEmail

Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời.


Thủ bút Cao Bá Quát - trích tạp chí Giáo dục phổ thông in tại miền Nam số 34 (15.3.1959). Có thể tài liệu quý này rút từ tập sách của Trúc Khê Ngô Văn Triện viết về Cao Bá Quát trước năm 1945. Tư liệu L.M.Q

Xứ Quảng, nơi chưa hề quen biết, vậy mà vẫn có duyên nợ với ông. Cao Bá Quát đã đi nhiều nơi. Ông đến Lạng Sơn, Thái Nguyên, Côn Sơn vào Ninh Bình, Thanh Hóa, Hoành Sơn, Huế. Nơi nào đi qua cũng có thơ để lại. Những bài thơ mượn cảnh tả tình ấy đã cho thấy một tâm hồn khoáng đạt, yêu tha thiết cảnh vật và con người của đất nước. Sau này, bị phát vãng vào Đà Nẵng, xa nhà, xa quê hương, văn chương dang dở, Cao đã gửi bao buồn vui ở những vần thơ viết trên đất Quảng.

Năm 1841, Triệu Trị nguyên niên, vua có mở chiếu ân khoa, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Do bụng liên tài, mến người giỏi, ông đã dùng muội đèn chữa cho 24 quyển thi. Việc ấy lộ ra ngoài, ông bị tống giam. Năm sau (1842), do cần những hàng tiêu dùng của người Âu, triều đình Huế cử số quan chức có tội ra nước ngoài làm công việc mua bán. Nhân đó, Cao Bá Quát được rời Huế vào Đà Nẵng, sung vào đoàn của Đào Trí Phú đi Indonesia, Singapore. Cuối hè 1843, thuyền về lại Đà Nẵng. It lâu sau, Cao về kinh. Tưởng được bổ dụng lại, không ngờ lần đó ông bị thải về quê.   

Cuối đời Thiệu Trị (1847), ông được mời vào Huế, làm ở Viện Hàn lâm, giữ công việc biên tập thơ ca. Được một thời gian, Cao được giao đi công cán một số tỉnh Nam Trung Bộ. Thực chất, chuyến đi cũng là một kiểu đi đày. Và, đây là lần thứ hai, Cao đến xứ Quảng.    

Qua những lần như thế, Cao Bá Quát viết một số bài  thơ liên quan đến đất và người xứ Quảng. Chưa có tài liệu lịch sử nào xác nhận về những nơi ông đến, những người gặp ông, chỉ căn cứ vào địa danh và tên gọi trong thơ, đời sau hiểu rằng, đất Quảng đã không ít lần được Cao Bá Quát đề cập đến, cả vui lẫn buồn.  

Cuối năm Nhâm Dần (1842). Cao Bá Quát đến Đà Nẵng. Trong bài thơ Phát vãng dương trình chu hành phó Đà Nẵng, tẩu bút lưu thân thức (1) Cao viết:

Đà Giang dao vọng nhật đông biên
Đảo dữ, thương mang lô kì thiên 
Tử khuyết vân yên thường ngọ mộng
Thiên nhai cầm kiếm thị đinh niên

Dịch nghĩa :

Bể Đà Nẵng xa trông ở về phía đông
Đảo cồn muôn lớp sóng đường đi nghìn trùng
Mây khói kinh thành, ban trưa thường nằm mộng
Việc cầm kiếm ở bên trời, chính là lúc trai tráng này.

Đọc qua những vần thơ như thế, điều dễ thấy là, giữa lúc thân tù ngục, lòng đầy ngổn ngang, tâm sự chỉ biết hỏi trời, được xa Huế vào Đà Nẵng, tâm hồn ông đã dậy lên bao niềm vui phơi phới. Đây cũng là điều dễ hiểu. Bởi lẽ, trong ông, chất nho sĩ tích cực vẫn còn, vẫn muốn “Thiên nhai cầm kiếm thị đinh niên”. Song, cảm xúc ấy chỉ là nhất thời. Cái con người ưu thời, mang nhiều tâm sự bi thương vẫn là cái chính, chiếm lĩnh sâu sắc nơi tâm hồn ông.

Ở bài Châu hành há Thanh Khê, nhân cố nhân ký biệt tòng du chư đệ tử (Thuyền xuôi Thanh Khê, nhân có người quen, gửi lời từ biệt các học trò), Cao nói đến nỗi ngậm ngùi, quyến luyến trong buổi chia tay, chia tay trong tâm trạng “hận dữ thiên giang lưu” (Mối hận tràn theo dòng sông trong). Phía kia đèo Hải Vân không còn xa mấy, nơi này “Núi Ngũ Hành chỉ còn gang tấc”, thấy mây bay lững lờ, chỉ còn một mảnh trăng “nhất phiến nguyệt”, cứ đêm đêm soi hoài trên dòng sông bạc. Bài thơ chứa chan một nỗi niềm ngán ngẫm, pha chút u hoài.

Bài Tức sự nói lên cảnh tình đau xót, sức hèn tóc bạc, làm thân đi thú. Mây trời, sông nước Đà Nẵng cũng được nhìn dưới góc độ của một “trục thần”. Hai câu thơ cuối, Cao viết :

Tiếu khan Đà hải thủy
Ba lãng bão tri tân.

Dịch nghĩa :   

Cười nhìn trước cửa bể Đà Nẵng.
Những sóng cùng gió đã làm cho ta càng biết được bờ bến nhiều hơn.

Ở bài thơ Lưu viện du nguyệt, văn đắc tái phát Đà Nẵng, thị dạ đồng Vũ Hoài Phủ thống ẩm (Ở viện hơn một tháng, được tin lại phải tái phát đi Đà Nẵng, đêm ấy cùng ông Vũ Hoài Phủ uống rượu thực say), trong cảnh ngộ tái phát phối, đêm ông cùng bạn uống rượu và bày tỏ nỗi niềm cho nhau. Ông nhìn cuộc đời mình, thấy con đường trở về quê xa lăng lắc, văn chương cũng chẳng giúp gì cho thân thế. Xa kia, mây núi của Đà Nẵng đã cảm thấy hơi thu đến gần (Đà tấn vân sơn tiệm giác thu), lòng như Lý Bạch tiễn Vương Xương Linh bị giáng chức đi Long Tiêu. Mượn sự tích Ngũ Khê và Dạ Lang, Cao Bá Quát muốn qua đây giãi bày tâm sự sắp đi đày của mình :

Một tấm lòng sầu chờ bác gửi
Năm khe thuyền Dạ bóng trăng đưa

(Xuân Trang dịch)

Một lần đến Hội An, gặp người hát cũ của thành Nam, lìa xứ, phiêu dạt vào nam, nỗi lòng cũng cô đơn, trơ trọi như mình, Cao Bá Quát viết bài thơ Du Hội An phùng Vị thành ca giả (Chơi phố Hội An, gặp người đào hát thành Vị). Thành Vị chỉ thành phố Nam Định. Cung bậc bài thơ có chút gì như tâm sự của Nguyễn Du gặp lại người ca kỹ cũ trong Long thành cầm giả ca. Nguyễn Du đã kết thúc bài thơ bằng những câu nghe ai oán, ngấn đầy nước mắt:

Ngán trăm năm thì giờ chớp mắt
Lệ thương tâm ướt vạt áo là
Nam về đầu bạc ngẫm ta
Trách gì hương phấn bông hoa chẳng tàn
Trừng trừng đôi mắt mơ màng
Quen mà hóa lạ nghĩ càng thêm thương (2)

(Hoàng Tạo dịch)

Ở Cao Bá Quát, tâm trạng có khác, song cũng không kém phần bi ai. Đêm gặp nhau, dưới ánh trăng tà, giữa nơi quê người đất khách, biết lấy gì san sẻ, nếu không mượn tiếng đàn tiếng sáo. Ngoài kia, có một quê hương nhưng khuất nẻo. Gió vi vút như gọi về, nỗi buồn như lan trên từng tiếng trúc, tiếng ti. Tâm sự tỏ bày, bình rượu vẫn còn sao nước mắt cạn, ép hoài chẳng chảy. Trong tận cùng nỗi cô đơn ấy, thôi thì hát cho nhau trọn khúc, giải nỗi sầu nhân thế:

Trúc tơ đêm trăng này
Đất nước mấy thu cách
Lệ cạn rượu còn đầy
Đèn còn lòng nỡ tắt
Bạn bè lưa thưa dần
Tiếc nhau gì khúc hát…

(Hoàng Tạo dịch) (3)

Âm vang bài thơ là nỗi buồn, nỗi buồn xa xứ và nỗi buồn thân phận. Có thể nói, trong các bài thơ đề cập đến xứ Quảng, bài Du Hội An phùng Vị thành ca giả là một bài thơ tê tái, đầy thương cảm. Chắc hẳn là, trong lần tao ngộ đó, trong ông đã thức dậy không ít nỗi niềm da diết và khắc khoải. Người gặp và kẻ được gặp, ai tâm trạng hơn ai, không biết. Chỉ thấy rằng, tiếng thơ là tiếng lòng của một nhà thơ đầy tình nhân đạo.

Và, nơi một bài thơ khác, bài Dữ Quảng Nam học chính Bùi đồng túc dạ khởi kiến nguyệt (Nằm cùng với ông đốc học Quảng Nam họ Bùi đang đêm trở dậy thấy trăng) lại cho thấy một Cao Bá Quát gắn lòng mình với cảnh trí thiên nhiên. Thiên nhiên ở đây là xứ Quảng. Gặp lại trăng sáng như gặp người bạn cũ, đang đêm trở dậy muốn mình như Tổ Địch, Lý Bạch, nhưng rốt cuộc phải quay về với chính mình, với ấm chè, mồi thuốc thức đợi mặt trời lên. Bài thơ cũng là một tâm sự.            

Nhìn chung, trong những năm tháng không vui của đời mình, Cao Bá Quát đã đến với đất Quảng. Chắc rằng, vùng đất ấy đã chia ngọt sẻ bùi với ông không ít. Có vậy, ông mới có những vần thơ để lại. Tiếc là, đến nay chưa ai sưu tập đầy đủ những bài thơ của ông đã viết về con người và vùng đất Quảng Nam này.

Chú thích:

(1) Những bài thơ, câu thơ trích ở bài viết được rút từ :

Thơ Chữ Hán Cao Bá Quát - NXB Văn học - HN 1976
- Nguyễn Tài Thư, Con người và tư tưởng Cao Bá Quát - NXB KHXH - HN 1980

(2) Thơ chữ Hán Nguyễn Du - NXB Văn học - HN 1978 - trang 241

(3) Trong tập Người Quảng Nam (NXB Trẻ - 2012), Lê Minh Quốc dịch (trang 101):

Thở than cũng đã muộn màng
Gặp nhau đất khách trang vàng tiếng tơ
Quê nhà xa lắc xa lơ
Rượu đầy. Lệ cạn. Lờ mờ đèn soi
Bạn thân nào có còn ai
Hát trọn khúc hát hẹp hòi làm chi

H.V.H

http://leminhquoc.vn/

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp