• Pic Mgmt

    HIỂU ĐÚNG VỀ PHONG TỤC ĐI LỄ CHÙA ĐẦU NĂM

    Đi lễ chùa đầu năm là một trong những nét văn hóa truyền thống không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đại đa số người Việt. Tuy nhiên, nhiều người đi chùa nhưng không biết lễ Phật thế nào, dâng lễ ra sao, xin cung cấp một số thông tin nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng việc đi lễ chùa đầu năm này...

  • Pic Mgmt

    CHÙA ĐỒNG Ở QUẢNG NINH

    Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh núi Yên Tử (Quảng Ninh) là ngôi chùa bằng đồng có một không hai trên đất nước Việt Nam và ngay cả các nước thuộc Châu Á cũng chưa có ngôi chùa bằng đồng nào lớn như vậy. Trước ngày chùa Đồng được Tổ chức Kỷ lục Châu Á công bố kỷ lục “Ngôi chùa bằng đồng (trên đỉnh núi) lớn nhất”...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

    Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ...

  • Pic Mgmt

    Việt Nam khai quốc: các lạc hầu (Chương I, Phần 1)

    Những truyền thống thuở sơ khai của Việt Nam, như đã được kể lại trong cuốn "Lĩnh Nam Chích Quái," một cuốn sách sưu tầm những truyền thuyết được viết vào thế kỷ 15, đều có nói đến các vua Hùng cai trị nước Văn Lang. Các vua Hùng được cho là thuộc dòng dõi Lạc Long Quân–một anh hùng từ quê hương của mình ở biển khơi đến đồng bằng sông Hồng–nơi ngày nay là Bắc Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ

    Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ là sự biến đổi không gian sinh tồn của người Việt, thể hiện bởi các triều đại chính thống được công nhận. Nó mang tính chất phức tạp, lúc bị mất lãnh thổ về các nhà nước khác, lúc xâm chiếm chinh phục được lãnh thổ mới...

  • Pic Mgmt

    HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG, TẦM NHÌN THỜI ĐẠI

    Xuất thân anh hùng áo vải cờ đào, Hoàng đế Quang Trung đã làm được điều mà rất ít những hào kiệt trong sử sách nước ta làm được. Đánh bại chúa Nguyễn, đập tan chúa Trịnh, đại phá quân Thanh. Nhưng, quan trọng hơn cả chính là tầm nhìn mang tính thời đại của Hoàng đế Quang Trung trong chính sách đối phó với lân bang, cụ thể là nhà Thanh của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÁO ÂN

    Báo Ân Tự là tên chữ một ngôi chùa lớn thời Trần, nay chỉ mới khôi phục được một phần. Xếp hạng: Di tích lịch sử văn hóa (ngày 3-9-2003). Lễ hội hàng năm tổ chức vào ngày 14 tháng 4 âm lịch. Địa chỉ: thôn Quang Trung, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    THỤC PHÁN LÀ AI?

    Những nhận định và đánh giá về Thục Phán và thời đại của ông hầu hết đều thiếu bằng chứng lịch sử, nên phần lớn chỉ là những lời đồn đoán hoặc thêu dệt, đầy mâu thuẫn. Kết quả đó biến ông thành một nhân vật của truyền thuyết hay huyền thoại hơn là một nhân vật lịch sử có vai trò vô cùng quan trọng đối với dân tộc...

  • Pic Mgmt

    HỌ DƯƠNG TẠI CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

    Đây lần thứ hai, Hội đồng họ Dương (HĐHD) tại Cộng hòa Liên bang Đức tỗ chức Lễ giỗ Tổ vào ngày 05.10 vừa qua. Không biết có phải vì có duyên hay không, mà với tôi, đây cũng là lần thứ hai được tham dự, dù không mang họ Dương. Để rồi sau đó, lòng cứ băn khoăn về một câu hỏi, do đâu, mà ở một nơi xa quê cha đất Tổ như thế, có một dòng tộc vẫn giữ được một sinh hoạt đậm phong vị Việt...

  • Pic Mgmt

    VĂN MINH CỔ & NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Có lẽ, phát biểu rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của văn hóa chắc không quá đáng: bởi vì một khuynh hướng chung hiện nay là các quốc gia trên thế giới đang (hay sắp) qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa, mà không dựa trên ý thức hệ (như Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản trong thời gian qua). Trong thế kỷ 21, người ta sẽ hỏi "Anh là ai", thay vì "Anh thuộc phe nào" trong thế kỷ vừa qua. Tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ ý thức hệ sang văn hóa...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN DẤU TÍCH 2 NGÔI CHÙA CỔ Ở HÀ GIANG

    Cán bộ Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Hà Giang vừa tìm ra dấu tích ngôi chùa Nậm Dầu cổ, có niên đại 600 năm, tại khu vực thôn Nậm Thanh, xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần...

  • Pic Mgmt

    CỔ VẬT ĐỒ ĐỒNG VÀ LỊCH SỬ ĐÔNG DƯƠNG

    “Các nhà sử học và các nhà khảo cổ học không mấy quan tâm đến nhau lúc gặp rủi ro, nhưng sự rủi ro đối với các nhà sử học lớn hơn, khi có chứng cứ cụ thể phản bác lại một lý thuyết riêng về sự phát triển của lịch sử, không thể đơn giản cho qua và cuối cùng phải xem xét lại. Trong một số lĩnh vực điều tra nghiên cứu, hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, khoa học lịch sử và di vật khảo cổ phảo phục vụ cho nhau bởi vì chỉ riêng một cái nào đó có thể không đủ.” (Stephen O’Harow, 1978)...

  • Pic Mgmt

    LÀNG PHÚ THỊ, LÀNG KHOA BẢNG

    Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, Phú Thị có trên ba trăm người đỗ từ cử nhân đến tiến sĩ. Dưới thời Lê trung hưng, trong giai đoạn từ năm 1735-1745, Phú Thị cùng lúc có bốn người làm Thượng thư trong triều (Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc và Trịnh Bá Tương)...

  • Pic Mgmt

    SỰ THỰC VỀ THỦY TỔ DÒNG HỌ BAN - PHAN

    Theo dòng thời sự… nhân sự kiện Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đến dâng hương ở nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn, thử bàn xem thủy tổ của họ Ban – Phan là người nước nào. Họ Phan ở Trung Quốc, Việt Nam hay Hàn Quốc đều công nhận thủy tổ của mình là Tất Cao Công, một trong những đại công thần của nhà Chu. Ví dụ tộc phả họ Ban – Phan của Hàn Quốc chép rằng bọn họ là hậu duệ của Quý Tôn Công...

Chi tiết

XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

Đăng lúc: 2014-04-26 07:03:53 - Đã xem: 2551

HUỲNH VĂN HOA

PDF.InEmail

Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời.


Thủ bút Cao Bá Quát - trích tạp chí Giáo dục phổ thông in tại miền Nam số 34 (15.3.1959). Có thể tài liệu quý này rút từ tập sách của Trúc Khê Ngô Văn Triện viết về Cao Bá Quát trước năm 1945. Tư liệu L.M.Q

Xứ Quảng, nơi chưa hề quen biết, vậy mà vẫn có duyên nợ với ông. Cao Bá Quát đã đi nhiều nơi. Ông đến Lạng Sơn, Thái Nguyên, Côn Sơn vào Ninh Bình, Thanh Hóa, Hoành Sơn, Huế. Nơi nào đi qua cũng có thơ để lại. Những bài thơ mượn cảnh tả tình ấy đã cho thấy một tâm hồn khoáng đạt, yêu tha thiết cảnh vật và con người của đất nước. Sau này, bị phát vãng vào Đà Nẵng, xa nhà, xa quê hương, văn chương dang dở, Cao đã gửi bao buồn vui ở những vần thơ viết trên đất Quảng.

Năm 1841, Triệu Trị nguyên niên, vua có mở chiếu ân khoa, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Do bụng liên tài, mến người giỏi, ông đã dùng muội đèn chữa cho 24 quyển thi. Việc ấy lộ ra ngoài, ông bị tống giam. Năm sau (1842), do cần những hàng tiêu dùng của người Âu, triều đình Huế cử số quan chức có tội ra nước ngoài làm công việc mua bán. Nhân đó, Cao Bá Quát được rời Huế vào Đà Nẵng, sung vào đoàn của Đào Trí Phú đi Indonesia, Singapore. Cuối hè 1843, thuyền về lại Đà Nẵng. It lâu sau, Cao về kinh. Tưởng được bổ dụng lại, không ngờ lần đó ông bị thải về quê.   

Cuối đời Thiệu Trị (1847), ông được mời vào Huế, làm ở Viện Hàn lâm, giữ công việc biên tập thơ ca. Được một thời gian, Cao được giao đi công cán một số tỉnh Nam Trung Bộ. Thực chất, chuyến đi cũng là một kiểu đi đày. Và, đây là lần thứ hai, Cao đến xứ Quảng.    

Qua những lần như thế, Cao Bá Quát viết một số bài  thơ liên quan đến đất và người xứ Quảng. Chưa có tài liệu lịch sử nào xác nhận về những nơi ông đến, những người gặp ông, chỉ căn cứ vào địa danh và tên gọi trong thơ, đời sau hiểu rằng, đất Quảng đã không ít lần được Cao Bá Quát đề cập đến, cả vui lẫn buồn.  

Cuối năm Nhâm Dần (1842). Cao Bá Quát đến Đà Nẵng. Trong bài thơ Phát vãng dương trình chu hành phó Đà Nẵng, tẩu bút lưu thân thức (1) Cao viết:

Đà Giang dao vọng nhật đông biên
Đảo dữ, thương mang lô kì thiên 
Tử khuyết vân yên thường ngọ mộng
Thiên nhai cầm kiếm thị đinh niên

Dịch nghĩa :

Bể Đà Nẵng xa trông ở về phía đông
Đảo cồn muôn lớp sóng đường đi nghìn trùng
Mây khói kinh thành, ban trưa thường nằm mộng
Việc cầm kiếm ở bên trời, chính là lúc trai tráng này.

Đọc qua những vần thơ như thế, điều dễ thấy là, giữa lúc thân tù ngục, lòng đầy ngổn ngang, tâm sự chỉ biết hỏi trời, được xa Huế vào Đà Nẵng, tâm hồn ông đã dậy lên bao niềm vui phơi phới. Đây cũng là điều dễ hiểu. Bởi lẽ, trong ông, chất nho sĩ tích cực vẫn còn, vẫn muốn “Thiên nhai cầm kiếm thị đinh niên”. Song, cảm xúc ấy chỉ là nhất thời. Cái con người ưu thời, mang nhiều tâm sự bi thương vẫn là cái chính, chiếm lĩnh sâu sắc nơi tâm hồn ông.

Ở bài Châu hành há Thanh Khê, nhân cố nhân ký biệt tòng du chư đệ tử (Thuyền xuôi Thanh Khê, nhân có người quen, gửi lời từ biệt các học trò), Cao nói đến nỗi ngậm ngùi, quyến luyến trong buổi chia tay, chia tay trong tâm trạng “hận dữ thiên giang lưu” (Mối hận tràn theo dòng sông trong). Phía kia đèo Hải Vân không còn xa mấy, nơi này “Núi Ngũ Hành chỉ còn gang tấc”, thấy mây bay lững lờ, chỉ còn một mảnh trăng “nhất phiến nguyệt”, cứ đêm đêm soi hoài trên dòng sông bạc. Bài thơ chứa chan một nỗi niềm ngán ngẫm, pha chút u hoài.

Bài Tức sự nói lên cảnh tình đau xót, sức hèn tóc bạc, làm thân đi thú. Mây trời, sông nước Đà Nẵng cũng được nhìn dưới góc độ của một “trục thần”. Hai câu thơ cuối, Cao viết :

Tiếu khan Đà hải thủy
Ba lãng bão tri tân.

Dịch nghĩa :   

Cười nhìn trước cửa bể Đà Nẵng.
Những sóng cùng gió đã làm cho ta càng biết được bờ bến nhiều hơn.

Ở bài thơ Lưu viện du nguyệt, văn đắc tái phát Đà Nẵng, thị dạ đồng Vũ Hoài Phủ thống ẩm (Ở viện hơn một tháng, được tin lại phải tái phát đi Đà Nẵng, đêm ấy cùng ông Vũ Hoài Phủ uống rượu thực say), trong cảnh ngộ tái phát phối, đêm ông cùng bạn uống rượu và bày tỏ nỗi niềm cho nhau. Ông nhìn cuộc đời mình, thấy con đường trở về quê xa lăng lắc, văn chương cũng chẳng giúp gì cho thân thế. Xa kia, mây núi của Đà Nẵng đã cảm thấy hơi thu đến gần (Đà tấn vân sơn tiệm giác thu), lòng như Lý Bạch tiễn Vương Xương Linh bị giáng chức đi Long Tiêu. Mượn sự tích Ngũ Khê và Dạ Lang, Cao Bá Quát muốn qua đây giãi bày tâm sự sắp đi đày của mình :

Một tấm lòng sầu chờ bác gửi
Năm khe thuyền Dạ bóng trăng đưa

(Xuân Trang dịch)

Một lần đến Hội An, gặp người hát cũ của thành Nam, lìa xứ, phiêu dạt vào nam, nỗi lòng cũng cô đơn, trơ trọi như mình, Cao Bá Quát viết bài thơ Du Hội An phùng Vị thành ca giả (Chơi phố Hội An, gặp người đào hát thành Vị). Thành Vị chỉ thành phố Nam Định. Cung bậc bài thơ có chút gì như tâm sự của Nguyễn Du gặp lại người ca kỹ cũ trong Long thành cầm giả ca. Nguyễn Du đã kết thúc bài thơ bằng những câu nghe ai oán, ngấn đầy nước mắt:

Ngán trăm năm thì giờ chớp mắt
Lệ thương tâm ướt vạt áo là
Nam về đầu bạc ngẫm ta
Trách gì hương phấn bông hoa chẳng tàn
Trừng trừng đôi mắt mơ màng
Quen mà hóa lạ nghĩ càng thêm thương (2)

(Hoàng Tạo dịch)

Ở Cao Bá Quát, tâm trạng có khác, song cũng không kém phần bi ai. Đêm gặp nhau, dưới ánh trăng tà, giữa nơi quê người đất khách, biết lấy gì san sẻ, nếu không mượn tiếng đàn tiếng sáo. Ngoài kia, có một quê hương nhưng khuất nẻo. Gió vi vút như gọi về, nỗi buồn như lan trên từng tiếng trúc, tiếng ti. Tâm sự tỏ bày, bình rượu vẫn còn sao nước mắt cạn, ép hoài chẳng chảy. Trong tận cùng nỗi cô đơn ấy, thôi thì hát cho nhau trọn khúc, giải nỗi sầu nhân thế:

Trúc tơ đêm trăng này
Đất nước mấy thu cách
Lệ cạn rượu còn đầy
Đèn còn lòng nỡ tắt
Bạn bè lưa thưa dần
Tiếc nhau gì khúc hát…

(Hoàng Tạo dịch) (3)

Âm vang bài thơ là nỗi buồn, nỗi buồn xa xứ và nỗi buồn thân phận. Có thể nói, trong các bài thơ đề cập đến xứ Quảng, bài Du Hội An phùng Vị thành ca giả là một bài thơ tê tái, đầy thương cảm. Chắc hẳn là, trong lần tao ngộ đó, trong ông đã thức dậy không ít nỗi niềm da diết và khắc khoải. Người gặp và kẻ được gặp, ai tâm trạng hơn ai, không biết. Chỉ thấy rằng, tiếng thơ là tiếng lòng của một nhà thơ đầy tình nhân đạo.

Và, nơi một bài thơ khác, bài Dữ Quảng Nam học chính Bùi đồng túc dạ khởi kiến nguyệt (Nằm cùng với ông đốc học Quảng Nam họ Bùi đang đêm trở dậy thấy trăng) lại cho thấy một Cao Bá Quát gắn lòng mình với cảnh trí thiên nhiên. Thiên nhiên ở đây là xứ Quảng. Gặp lại trăng sáng như gặp người bạn cũ, đang đêm trở dậy muốn mình như Tổ Địch, Lý Bạch, nhưng rốt cuộc phải quay về với chính mình, với ấm chè, mồi thuốc thức đợi mặt trời lên. Bài thơ cũng là một tâm sự.            

Nhìn chung, trong những năm tháng không vui của đời mình, Cao Bá Quát đã đến với đất Quảng. Chắc rằng, vùng đất ấy đã chia ngọt sẻ bùi với ông không ít. Có vậy, ông mới có những vần thơ để lại. Tiếc là, đến nay chưa ai sưu tập đầy đủ những bài thơ của ông đã viết về con người và vùng đất Quảng Nam này.

Chú thích:

(1) Những bài thơ, câu thơ trích ở bài viết được rút từ :

Thơ Chữ Hán Cao Bá Quát - NXB Văn học - HN 1976
- Nguyễn Tài Thư, Con người và tư tưởng Cao Bá Quát - NXB KHXH - HN 1980

(2) Thơ chữ Hán Nguyễn Du - NXB Văn học - HN 1978 - trang 241

(3) Trong tập Người Quảng Nam (NXB Trẻ - 2012), Lê Minh Quốc dịch (trang 101):

Thở than cũng đã muộn màng
Gặp nhau đất khách trang vàng tiếng tơ
Quê nhà xa lắc xa lơ
Rượu đầy. Lệ cạn. Lờ mờ đèn soi
Bạn thân nào có còn ai
Hát trọn khúc hát hẹp hòi làm chi

H.V.H

http://leminhquoc.vn/

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp