• Pic Mgmt

    CHUYỆN TÂM LINH LY KỲ Ở TỔ MIẾU HÙNG VƯƠNG

    ...“Tổ miếu Hùng Vương là nơi thờ bài vị các Vua Hùng, đây cũng là chốn linh thiêng bậc nhất nước Nam. Nhiều câu chuyện có thực đã xảy ra khiến nhiều người khiếp sợ. Cũng nhờ thế, mà miếu Tổ giữ được đến giờ mà không mất mát, suy suyển một vật báu giá trị nào...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TỔ TIÊN VIỆT

    Hành trình Đi Tìm Tổ Tiên Việt của con cháu Việt ngày nay đã trở nên hùng hậu, đa ngành, đa phương cách, nhiều hy sinh, dâng hiến lặng thầm, tụ hội bốn bể năm châu, rạng ngời hào quang Tổ Tiên Bách Việt...

  • Pic Mgmt

    VÀI NÉT VỀ VIỆC THÀNH LẬP HỌC VIỆN VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ

    Cuối thế kỷ XIX, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu trên thực địa về văn hóa phương Đông đã trở thành một nhu cầu bức thiết đối với các nhà khoa học phương Tây. Lúc đó, một số viện sĩ, nhà nghiên cứu văn khắc và ngôn ngữ thuộc Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn chương của Pháp[2] (Académie des Inscriptions et Belles Lettres) thuộc Học viện Pháp quốc (Institut de France[3]) là Auguste Barth (1834-1916), Émile Sernat (1847-1928) và Michel Bréal (1832-1915) có ý tưởng thành lập một Học Viện nghiên cứu về phương Đông đặt tại châu Á,...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN DẤU TÍCH 2 NGÔI CHÙA CỔ Ở HÀ GIANG

    Cán bộ Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Hà Giang vừa tìm ra dấu tích ngôi chùa Nậm Dầu cổ, có niên đại 600 năm, tại khu vực thôn Nậm Thanh, xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

  • Pic Mgmt

    NGHI ÁN THÁI SƯ HÓA HỔ & 30 ĐẠO SẮC MINH OAN

    Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử. Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay)...

  • Pic Mgmt

    LÃNG QUÊN… THÀNH CỔ LUY LÂU?

    Thành cổ Luy Lâu (thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành) nằm cách tỉnh lộ 282 về phía Bắc 200m và cách sông Đuống về phía Nam khoảng hơn 2km. Với những giá trị lịch sử, văn hóa to lớn, ngày 13-1-1964, thành cổ Luy Lâu đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO VỀ NGÀY GIỖ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

    ...Ngày 5 tháng 10 (dương lịch) năm 2011 năm nay (tức là ngày 9 tháng 9 âm lịch), lần đầu tiên, tại NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Ban quản lý khu di tích và Ban đại diện gia tộc họ Cao sẽ tổ chức trọng thể NGÀY GIỖ DANH NHÂN VĂN HOÁ CAO BÁ QUÁT...

  • Pic Mgmt

    ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN ĐÃ "THOÁT TRUNG" NHƯ THẾ NÀO?

    Ta thường nói Đại Việt thời Trần ba lần đánh tan quân xâm lược Mông – Nguyên, đó là cách nói tắt; còn nói chính xác, lần thứ nhất (1258) là đánh thắng đế quốc Mông Cổ và hai lần sau (1285, 1288), đánh thắng đế quốc Nguyên. Triều Nguyên là một “mảnh vỡ” của đế quốc Mông Cổ, thiết lập ở Trung Quốc sau khi Hốt Tất Liệt (Khubilai) đánh thắng triều Tống...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU TOÀN VĂN BẢN DỊCH NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG

    Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc phả gồm 21 tờ tức 42 trang chữ Hán, tổng cộng gần 10.000 (1 vạn) chữ, xưa nay, chưa thấy ai dịch trọn vẹn. Bằng sự kiên trì và gắng sức của tuổi già, sau hơn nửa tháng, GS Ngô Đức Thọ đã hoàn thành trọn vẹn bản dịch, chỉ với một mục đích cao cả là cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc văn bản quý báu được gọi là Quốc bảo này. Và như GS Ngô Đức Thọ từng viết: Là người Việt Nam, dòng dõi con Lạc cháu Hồng, không thể không biết đến Ngọc phả Hùng Vương...

  • Pic Mgmt

    ĐẶC ĐIỂM CỦA DÒNG HỌ NGƯỜI MẠ Ở LÂM ĐỒNG

    Người Mạ là dân tộc thiếu số bản địa ở tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn cư trú của người Mạ nằm trong vùng Trung và Thượng sông Đồng Nai (Đạ Đơng), trong đó tập trung đông nhất là ở thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Ngoài ra người Mạ còn cư trú ở một số huyện phía Nam Lâm Đồng như Đạ Huoai, Đạ Teh, Cát Tiên...

  • Pic Mgmt

    QUY ƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO VIỆT NAM

    Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với Họ CAO mong muốn liên kết với nhau để thực hiện tâm nguyện chung của bà con trong Dòng tộc về việc Họ, là đầu mối liên lạc kết nối các Gia tộc, Dòng Họ, Chi họ và cá nhân tâm huyêt với Họ CAO hướng về cội nguồn, đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giữ gìn và phát huy phẩm chất, truyền thống Họ CAO .

  • Pic Mgmt

    HỊCH TƯỚNG SĨ THẾ KỶ 21

    Ta cùng các ngươi, Sinh ra phải thời bao cấp. Lớn lên gặp buổi thị trường...

  • Pic Mgmt

    CHÙA AN PHÚ, QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Chùa thường được gọi là chùa Miểng Sành, tọa lạc ở số 24 đường Chánh Hưng, phường 10, quận 8, TP. Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trải qua 6 đời trụ trì. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã tổ chức trùng tu chùa từ năm 1960 đến năm 1993...

  • Pic Mgmt

    MỘT CUỘC GẶP BẤT NGỜ & THÚ VỊ

    Bất ngờ nhất là đối với mấy ông: Lê Minh Ngọc, Lê Xuân Thìn & Lê Thành Nhân - họ không ngờ lại gặp người đồng hương ờ chùa Linh Sơn, Đà Lạt – là sư thầy Viên Như (người gốc Phong Điền, Thừa Thiên-Huế) - và cũng là điều bất ngờ đối với thầy Viên Như, vì đã nhiều lần ông về quê Phong Điền tìm gặp nhà tỷ phú đỏ này, nhưng chưa gặp được, nay lại có duyên gặp nhau tại đây...

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA ÔNG CAO TIẾN PHIẾM NHÂN DỊP ĐẦU XUÂN NHÂM THÌN 2012

    Trong ngày gặp mặt bà con họ CAO Việt Nam đầu Xuân Nhâm Thìn tại trụ sở của Ban Liên Lạc Họ CAO Việt nam – Khách Sạn Suối Hoa – tỉnh Bắc Ninh (04/02/2012 tức 13 tháng Giêng năm Nhâm Thìn), ông Cao Tiến Phiếm-trưởng Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam đã có bài phát biểu rất có ý nghĩa sau đây:

Chi tiết

CỔ VẬT ĐỒ ĐỒNG VÀ LỊCH SỬ ĐÔNG DƯƠNG

Đăng lúc: 2014-05-22 19:15:32 - Đã xem: 15304

“Các nhà sử học và các nhà khảo cổ học không mấy quan tâm đến nhau lúc gặp rủi ro, nhưng sự rủi ro đối với các nhà sử học lớn hơn, khi có chứng cứ cụ thể phản bác lại một lý thuyết riêng về sự phát triển của lịch sử, không thể đơn giản cho qua và cuối cùng phải xem xét lại. Trong một số lĩnh vực điều tra nghiên cứu, hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, khoa học lịch sử và di vật khảo cổ phải phục vụ cho nhau bởi vì chỉ riêng một cái nào đó có thể không đủ.” (Stephen O’Harow, 1978)
Những gì nói trên rất đúng cho trường hợp Đông Dương thời kỳ trước Công nguyên. Cổ vật Lào, Kh'mer và Chăm-pa thường được mường tượng theo phong cách của Ấn Độ với tượng các vị thần Hindu giáo, tượng phật, các chùa tháp, … Nhưng khảo cổ khu vực Đông Dương thời kỳ trước Công nguyên cho thấy một bức tranh khác hẳn về nguồn gốc của văn hóa và con người các nước này.
Lịch sử Trung Hoa ghi nhận khoảng năm 1124 TCN Cơ Phát tiếp cơ nghiệp của cha là Cơ Xương, phát động chư hầu tấn công Ân Trụ Vương ở Triều Ca. Trụ Vương thua, tự thiêu ở Lộc Đài. Cơ Phát về đất Phong, lên ngôi thiên tử của Trung Hoa là Chu Vũ Vương, phân phong cho các công thần. Ba đại công thần lớn nhất được phong là:
- Lã Vọng được phong ở đất Doanh Khâu, sau là nước Tề của Khương Thái Công
- Em trai là Cơ Đán được phong ở Khúc Phụ, sau là nước Lỗ của Chu Công
- Người trong họ Cơ là Cơ Thích được phong ở đất Thiệu, sau là nước Yên của Thiệu Công.
Đất của thiên tử Chu ở đâu? Tề, Yên, Lỗ ở đâu. Có lẽ nào Chu, Lỗ, Yên, Tề lại là tiền thân của 4 quốc gia vùng Đông Dương Việt, Lào, Chăm và Kh'mer? Những cổ vật văn hóa của vùng Đông Dương hé lộ những liên hệ trực tiếp của khu vực này với thời Chu của Trung Hoa.
  
Vũ khí đồng ở Căm-pu-chia, mang đậm phong cách
của đồ đồng Đông Sơn
Nói tới đồ đồng Đông Dương trước hết phải nói tới trống đồng. Trống đồng không chỉ tập trung ở vùng Bắc Việt mà hàng loạt những trống đồng to, đẹp nhất tìm thấy khắp vùng Đông Dương, từ Lào tới vùng Nam Bộ và Căm-pu-chia.
  
Bản đồ các địa điểm phát hiện trống đồng ở Căm-pu-chia
(Bảo tàng lịch sử Phnom Penh)
Ví dụ gần đây trong đợt khảo cổ tại làng Prohear, tỉnh Prey Veng của Căm pu chia gần biên giới với Việt Nam đã phát hiện hàng chục trống đồng Heger loại I bị đào trộm. Niên đại của mộ táng có chiếc trống này xác định vào khoảng thế kỷ 3 tới thế kỷ 1 TCN. Giai đoạn này ở Căm-pu-chia được xếp vào thời kỳ “tiền sử” vì không có sách nào chép gì về thời gian này ở đây.
Các nhà khảo cổ đoán định đây là do ảnh hưởng của việc di cư của cư dân Đông Sơn xuống phía Nam dưới sự tấn công của nhà Tây Hán, ý không muốn công nhận đây là hiện vật của nền văn hóa bản địa. Biện luận như vậy không vững chắc vì đây là văn hóa bản địa và thời Tây Hán quá muộn so với niên đại của các cổ vật.
  
Trống đồng Heger loại I trong mộ táng ở Prohear, Cam-pu-chia
(Hiện vật tại Bảo tàng lịch sử Phnom Penh)
Thực ra những chiếc trống đồng Đông Sơn tìm thấy ở Nam Bộ và Căm-pu-chia cho thấy khu vực này có liên quan trực tiếp tới trung tâm đồ đồng Đông Sơn ở Bắc Việt. “Tiền sử” Căm-pu-chia là một phần trong lịch sử của cả Đông Dương dưới nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ.
Cũng trong khu vực, cách làng Prohear 60 km về phía Đông Bắc còn khai quật được khu mộ cổ có niên đại từ thế kỷ 4 đến thế 1 TCN. Trong số các hiện vật ở đây đặc biệt có một chiếc đĩa đồng, nhiều khả năng là gương. Gương đồng là đặc trưng của văn hóa Trung Hoa. Sự có mặt của gương đồng thời Chu ở Căm-pu-chia cho thấy mối liên hệ khu vực này với nhà Chu.
 
Gương đồng trong mộ cổ ở làng 10.8 (Bảo tàng lịch sử Phnom Penh)
Ở Lào cũng đã phát hiện rất nhiều trống đồng cổ và trống đồng là một phần trong văn hóa Lào cho tới tận bây giờ. Lạ hơn, ở Luang Phrabang còn thấy có nhiều hiện vật đồ đồng phong cách của Trung Hoa thời Thương Chu như tước ba chân, bình đựng, lư hương, …
  
Bình đồng cổ ở Luang Phra bang với hình rồng phong cách Chiến Quốc
Tại sao ở Lào lại có nhiều cổ vật thời Thương Chu đến vậy? Theo chính sử thì Trung Quốc chưa có thời kỳ nào tiến chiếm đất Lào, nói gì tới thời Thương Chu. Đất nhà Thương và Chu được xác định ở tận Hoàng Hà thì những cổ vật thời này làm thế nào có mặt ở Lào được?
Với việc nhìn nhận Lào là đất Lỗ của Trung Hoa xưa thì sự có mặt của đồ đồng thời Chu lại là bản địa của Lào trở nên dễ hiểu.
  
Bình đựng rượu hình tê giác ở Luang Phrabang
Bình đựng rượu hình tê giác này mang đậm phong cách thời Thương Chu. Điều kỳ lạ là đồ đồng Thương Chu lại lấy con tê giác làm hình tượng. Tê giác là loài động vật chỉ gặp ở vùng nhiệt đới, không thể có ở vùng Hoàng Hà. Bình rượu này giúp khẳng định những đồ đồng thời Thương Chu ở Lào là đồ bản địa.
Tê giác ở Đông Dương gặp chủ yếu ở vùng rừng núi Đông Nam Bộ và đất Căm-pu-chia giáp với Việt Nam. Đây cũng chính là nơi tìm thấy những chiếc trống đồng Đông Sơn ở trên. Cho dù con tê giác cuối cùng của Đông Dương ở Nam Cát Tiên mới “qua đời” cách đây vài năm nhưng hình ảnh tê giác đã đi sâu vào văn hóa của vùng đất này.
Ngoài tê giác vùng Đông Nam Bộ và Căm-pu-chia còn có con “tê tê”, một loài bò sát có vảy dày, hiếm gặp. Có lẽ chữ “tê” ở đây chính là … Tề. Tê giác là loài động vật tượng trưng cho phương Tây, cùng với con voi (Tượng). Con “tê” là con linh thú của nước Tề ở phía Tây nhà Chu. Còn con voi, rất rõ, là linh thú của nước Lỗ bên Lào.
Nếu nước Lỗ của Chu Công nằm ở thượng lưu sông Mê Kông (Lào) và lưu vực sông Mã (Thanh Nghệ) thì nước Tề của Khương Thái Công nằm ở trung và hạ lưu sông Mê Kông. Sông Mê Kông được gọi trong Hán văn là sông Mễ Khang, tức là sông Khương, con sông chảy qua nước Tề của Khương Công.
  
Gương đồng dạng chiếc lá có hình chim cú thời Thương hoặc Tây Chu,
tìm thấy tại Quảng Khê – Quảng Bình
Trên vùng đất của người Chăm cũng không thiếu hiện vật thời Thương Chu. Được biết đến nhiều và rõ ràng nhất là những chiếc gương đồng. Ở Quảng Bình, Quảng Trị từng phát hiện những chiếc gương đồng thời Tây và Đông Chu, mang cả cổ triện trên đó hoặc cả hình đồ Bát quái. Những chiếc gương tương tự thậm chí bên đất Trung Quốc còn hiếm gặp, vậy mà lại gặp nhiều ở miền Trung Việt Nam.
Hình ảnh các gương đồng trích từ sách Bí ẩn về những chiếc gương cổ được tìm thấy trong các di chỉ Champa ở miền Trung Việt Nam của Hồ Xuân Em và Hồ Anh Tuấn.
  
Gương tròn có 4 cổ tự thời Đông Chu, tìm thấy ở Mỹ Đức – Quảng Bình
Phần miền Trung Việt từ Quảng Bình tới Bình Định được biết là nước Hồ Tôn, phía Nam nước Văn Lang thời Hùng Vương. Hồ Tôn là nước của người Hồ, người Hời, tức là người Chăm xưa. “Tôn” hay Tâng, là tính chất bốc lên của phương Nóng (phương Nam). Hồ Tôn là đất của người Hời ở phía Nam Văn Lang. Thành phố Đồng Hới của Quảng Bình đọc đúng là “Động Hời”, một trung tâm dân cư của người Hời, nên việc có hiện vật từ thời Thương Chu ở Quảng Bình cũng hợp lý.
  
Gương đồng có Bát quái thời Chiến Quốc,
tìm thấy tại Hà Trung – Quảng Trị
Nước Hồ Tôn với cổ vật thời Thương Chu thì chính là nước Yên, đất phong của Thiệu Công nhà Chu. Đất này sau (thời Trần) được gọi là An Chiêm.
Khảo cổ đồ đồng thời “tiền Ấn Độ hóa” của Đông Dương cho thấy toàn bộ vùng này nằm trong khu vực văn hóa Trung Hoa. Theo chính sử hiện tại, sớm lắm thì tới tận thời Tần, người Trung Quốc mới tấn công Bách Việt. Vậy mà ở khắp Việt, Lào, Căm-pu-chia, đâu cũng có hiện vật từ thời Thương Chu. Những bằng chứng vật chất này ngày càng buộc phải xem xét hoàn toàn lịch sử các quốc gia Đông Nam Á và chính lịch sử Trung Hoa.
Bách Việt trùng cửu viết thêm:
Đồng tiền “Quốc bảo kim quỹ”, một hiện vật đẹp thời nhà Tân của Vương Mãn, nhưng lại thấy có mặt ở Luang Phra bang – Lào
Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp