• Pic Mgmt

    LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN

    Về nguồn gốc dòng họ, Hoan Châu Nghi tiên Nguyễn gia thế phả chép một cách sơ lược ở phần tiểu truyện Nam Dương công Nguyễn Nhiệm như sau: “Các vị trưởng lão kể rằng ông là con nhà gia thế. Xưa truyền, nguyên quán của ông ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam. Thủy tổ là Nguyễn Doãn Địch. Ông nội là Nguyễn Thiến, trạng nguyên năm Nhâm Thìn, Mạc Đại Chính (1532) quy thuận Lê triều,...

  • Pic Mgmt

    Có tên Hoàng Sa, Trường Sa bằng tiếng Việt

    Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Hoàng Ngọc Lâm, phó cục trưởng Cục Đo đạc và bản đồ VN (Bộ Tài nguyên - môi trường), cho biết như vậy...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc. Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    VÀI NÉT VỀ CÔNG TRÌNH CHỮ VIỆT CỔ CỦA GIÁO SƯ LÊ TRỌNG KHÁNH

    Đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, mỗi người đều tìm cho mình một con đường để đi đến cái đích chung. Với giáo sư Lê Trọng Khánh, là một nhà khoa học, nên giáo sư tìm cho mình con đường rất riêng, đó là: Ngoài thông qua các thư tịch cổ trong và ngoài nước, thì chủ yếu là thông qua những căn cứ khoa học đã được kiểm chứng, trong một hệ thống phát triển từ thấp lên cao, mang tính bản địa đặc thù và nhất quán...

  • Pic Mgmt

    CHÙA SỦI TỔ CHỨC KHÓA TU "TRÁI TIM TỪ BI" DÀNH CHO GIỚI TRẺ

    Ngày mùng 07 tháng 12 năm 2013 tức ngày 05/11 Quý Tỵ. Quý Thầy chùa Sủi – Đại Dương Sùng Phúc Tự, thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội tổ chức khóa tu “Trái tim từ bi” dành cho các bạn trẻ. Hòa Thượng Thích Thanh Từ từng dạy: "Tuổi trẻ các bạn thanh niên phần nhiều tâm hồn sôi nổi bồng bột, thiếu đức bình tĩnh, thiếu chí kiên nhẫn, các bạn cần phải siêng đi chùa hơn hết mới phải. Vì khung cảnh tịch tịnh của nhà chùa sẽ giúp các bạn mát dịu phần nào nhiệt khí, thấy gương nhẫn nại hy sinh của Phật, các bạn sẽ tăng thêm phần kiên chí...

  • Pic Mgmt

    QUY ƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO VIỆT NAM

    Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với Họ CAO mong muốn liên kết với nhau để thực hiện tâm nguyện chung của bà con trong Dòng tộc về việc Họ, là đầu mối liên lạc kết nối các Gia tộc, Dòng Họ, Chi họ và cá nhân tâm huyêt với Họ CAO hướng về cội nguồn, đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giữ gìn và phát huy phẩm chất, truyền thống Họ CAO .

  • Pic Mgmt

    DINH THỰ VUA MÈO TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

    Khu dinh thự nằm trên thung lũng được chọn kỹ theo phong thủy. Đây là di tích quốc gia, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng từ ngày 23/7 năm 1993. Chủ dinh thự, ông Vương Chí Sình là người H’mông trong dòng tộc từng được biết đến như “vua người H’mông” khu vực Hà Giang những năm trước cách mạng...

  • Pic Mgmt

    ĐI LỄ HỘI ĐỂ CẦU MAY, CẦU LỢI

    Lễ hội càng ngày càng bát nháo với đủ thứ biến tướng của mê tín, kinh doanh trục lợi, nguyên nhân sâu xa của nó từ đâu? Niềm tin mong manh, cuộc sống bất trắc, con người phải bám víu vào tâm lý cầu lợi để lấp đầy hố sâu ham muốn quyền lợi...

  • Pic Mgmt

    TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ ĐẾN THĂM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

    Sáng thứ tư, ngày 10 tháng 4 năm 2013, ông Võ Ngọc An-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Thực hành Gia phả (TTNC & THGP) và ông Cao Bá Nghiệp-Nhà nghiên cứu Cao tộc đã đến thăm và làm việc tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, thành phố Hồ Chí Minh...

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG - CHƯƠNG TRÌNH LỄ DÂNG HƯƠNG KHAI MẠC

    Được tin trưa nay, 13/4/2013 ông Cao Bá Nghiệp ở TPHCM nhận được thư Chuyển Phát Nhanh do Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Phát triển (ở Hà Nội) gửi (dấu bưu điện ghi ngày gửi là 11/4/2013). Dưới đây là nôi dung chính thức của Lễ hội Cao Lỗ Vương năm 2013 sẽ được tổ chức tại Gia Bình, Bắc Ninh:...

  • Pic Mgmt

    HOAN HÔ CHI HỌ CAO VĂN (HOẰNG HÓA, THANH HÓA)

    Ông Cao Văn Nga, đại diện một số chi họ Cao ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa cho biết: Sau khi đọc tin trên website caobaquat.com.vn và được biết về Lễ Hội kỷ niệm 2290 năm Thánh Tổ Cao Lỗ Vương lần này sẽ được khai mạc trọng thể tại Gia Bình, Bắc Ninh từ ngày 18-19/4/2013...

  • Pic Mgmt

    BẢO THÁP PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

    Bảo tháp Phật hoàng Trần Nhân Tông đã 700 năm tuổi, vẫn còn đó, uy nghi, sừng sững giữa trời mây gió....Tôi quả thực xúc động khi lần đầu tiên trong cuộc hành trình xuyên rừng dọc ngang Yên Tử, được chứng kiến một di tích còn khá nguyên vẹn, hoang sơ, đặc biệt, đó lại là di tích quan trọng nhất của hệ thống Ngọa Vân cũng như của cả dải Yên Tử này...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ DỊCH LÍ & CHỮ VUÔNG...

    …những bằng chứng cho thấy rằng chính người Lạc Việt đã sáng tạo nên hệ thống dịch lí và chữ vuông. Do hoàn cảnh lịch sử, câu chuyện ấy đã được kể lại hoặc là mơ hồ hoặc là dưới tên của dân tộc khác. Tuy nhiên, tổ tiên người Việt đã khéo léo cất dấu cái văn hóa huyền vĩ của mình dưới những cách thức khác nhau của ngôn ngữ…

  • Pic Mgmt

    VIỆT TỘC CÓ CHỮ VIẾT KHÔNG ?

    ...Việt tộc có một nền văn hóa cao như khảo cổ đã chứng minh, nhưng con cháu chưa bao giờ thấy chữ viết của cha ông để lại, mặc dù cổ sử Trung Quốc chép nước Việt Thường dâng Đế Nghiêu (2358 TCN) một con rùa 1000 năm, trên mai có chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) kể lại sự tạo thiên lập địa trở về sau và viết sách để lại cho thế hệ con cháu trong tiến trình dựng nước và giữ nước...

  • Pic Mgmt

    BẰNG CHỨNG KHẲNG ĐỊNH KINH DỊCH LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT

    ...Ở Việt nam, ảnh hưởng của Kinh Dịch và thuyết âm dương ngũ hành cũng hết sức mạnh mẽ; đồng thời do hoàn cảnh lịch sử hầu hết các tác phẩm viết về Kinh Dịch cũng bằng chữ Nho. Với bề dày lịch sử phát triển và truyền bá kinh Dịch như vậy, nên đa phần những người nghiên cứu mặc nhiên xem Trung hoa như là quê hương của kinh Dịch. Tuy nhiên trong vài thập niên qua, tại Việt nam, có nhiều người lên tiếng cho rằng kinh Dịch là sản phẩm của người Lạc Việt...

Chi tiết

VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XIX - MỘT CÁCH NHÌN KHÁC

Đăng lúc: 2014-05-28 17:09:51 - Đã xem: 1427


ĐINH KIM PHÚC
Thứ tư, 30 Tháng 11 2011 22:27

Khi nhận xét về triều đình nhà Nguyễn, Lê Thành Khôi đã viết: “dửng dưng với nhịp bước của các biến cố quốc tế dù cuộc chiến á phiện đã báo động, triều đình Huế, vì khinh bỉ bọn “bạch quỷ” và nghi ngại những kỹ thuật của họ, vẫn cố giữ đất nước ở trong một trạng huống cô lập huy hoàng” (1).

Đọc bài viết của Frédéric Mantienne(2) và trong quá trình thu thập tài liệu về mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong thế kỷ XIX, chúng tôi đã tình cờ phát hiện ra 1 chi tiết khá lý thú về chuyến “dương trình hiệu lực” của Cao Bá Quát vào năm 1844 đến vùng Hạ Châu thuộc Đông Nam Á. Trong bài viết này, dựa trên những tư liệu của Việt Nam và của nước ngoài, chúng tôi sẽ đưa ra 1 số thông tin nhằm thấy rõ hơn về mục đích của phái bộ Việt Nam đi Hạ Châu và 1 số vấn đề cần trao đổi.

Trước hết, chúng ta cần xác định rõ vị trí của vùng Hạ Châu thuộc khu vực Đông Nam Á mà bài viết này đề cập đến.

Trong bộ Đại cương lịch sử Việt Nam do Trương Hữu Quýnh chủ biên thì thấy địa danh Hạ Châu được đề cập: “Khác với các triều trước, nhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại thương khá chặt và trên cơ sở đó, tổ chức các chuyến buôn và công cán ở nước ngoài. Từ năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu Ba (Indonexia). Sau đó, từ các năm 1831 - 1832 trở đi, việc cử thuyền đi công cán, buôn bán ngày càng nhiều sang Hạ Châu, Giang Lưu Ba, Quảng Đông, Lữ Tống (Luy xông – Philippin), Boocnêô, Băng cốc… Hàng đem bán là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len, dạ, vũ khí, đạn dược. Nhân hoạt động này, một số thương nhân giàu có cũng lén lút chở gạo, lâm thổ sản quý sang Hạ Châu hay Quảng Đông buôn bán”(3).

Đại Nam Thực lục (4) đã viết: “trước kia, dưới triều Minh Mạng chắc hẳn là chuyến đi vào tháng 11 năm Minh Mạng thứ 21, tức 1840”, Trí Phú đã được phái đi mua tàu hơi nước, đó là các tàu Yên Phi, Vụ Phi, và Hương Phi, … Nhưng những tàu này chỉ thuộc loại cỡ nhỏ. Trong cùng mục tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Thực lục cho biết: “Đào Trí Phú về lại từ Tây dương, mua một chiếc tàu hơi nước trị giá hơn 28 vạn quan tiền...”.

Trong thời điểm đó, Siam và Việt Nam là hai nước láng giềng có quan hệ rất xấu. Khi chiến tranh Nha phiến vừa bùng nổ, vì nghe tin đồn là các chiến hạm Anh ở Trung Quốc sẽ tiện đường “ghé viếng thăm Siam" một khi chiến tranh kết thúc, vua Siam lo sợ nên đã đặt mua nhiều súng ống và một chiếc tàu chạy bằng hơi nước qua công ty của Robert Hunter lo về việc mậu dịch giữa Bangkok với các nước Âu Châu. Vì các mặt hàng vua Siam đặt mua đến chậm, đến lúc sắp sửa giao hàng thì chiến tranh Nha phiến đã kết thúc và nỗi lo sợ của người Siam bị vạ lây với Trung Quốc cũng đã vơi dần. Chính vì vậy, vua Siam eo sách, không chịu mua chiếc tàu chạy bằng hơi nước theo giá hai bên đã thỏa thuận lúc ban đầu. Hunter do đó mới đề nghị bán cho người Việt Nam (đối thủ của người Siam). Kết quả là Hunter bị trục xuất ra khỏi Bangkok, tuy sau đó có được phép trở về Siam để thu hồi tài sản. “Trong thời gian ở Singapore, ông ta đã hoàn tất thủ tục bán chiếc tàu chạy bằng hơi nước cho người An Nam”(5).

Trong khi đó, nhìn lại mậu dịch giữa Việt Nam với các thuộc địa Anh thuộc vùng Hạ Châu chỉ bắt đầu sau khi tân cảng Singapore trở thành thuộc địa của người Anh (1819). Trước đó hầu như không có dấu vết gì về mậu dịch giữa Campuchia và Cochin-China với các thuộc địa Anh ở trên eo biển.

Theo số liệu thống kê của Toàn quyền Anh ở Singapore, John Crawfurd, năm 1821, số thuyền mành đến Singapore từ hai nước này và Siam là 21 chiếc, và 3 năm sau (1824) số thuyền đến Singapore tăng lên thành 70 chiếc mỗi năm. Mậu dịch với Singapore rất bị hạn chế vào thập niên 1820, bởi lẽ phần lớn những sản phẩm của Cochin-China chỉ thích hợp với thị trường Trung Quốc, và chỉ có giai cấp thượng lưu ở Cochin - China và quân đội của nhà vua mới có nhu cầu về những hàng bông và hàng nỉ của Anh. Hàng nỉ của Anh dùng may trang phục cho quân đội của nhà vua hầu hết được đặt mua từ Quảng Đông. Mậu dịch giữa An Nam và Singapore do người Hoa trong nước đảm nhiệm.

Báo cáo của Toàn quyền Anh ở Singapore John Crawfurd về London cho biết là năm 1825 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc mậu dịch giữa Cochin-China và Singapore. Vào năm ấy, “nhà vua [vua Minh Mạng] gửi hai thuyền mành có trang bị vũ khí cùng quan viên sang Singapore để mua hàng nỉ và hàng thủy tinh”. Sau đó, nhà đương cuộc Anh đã “khám phá là những quan viên này đến Singapore có nhiệm vụ nghiên cứu nhằm báo cáo về tình hình trên những thuộc địa của người Âu Châu ở eo biển Malacca”. Tuy người ta không biết trong báo cáo đó đã ghi những gì, nhưng sau lần thăm viếng đó, triều đình “đã giành độc quyền mậu dịch với Singapore” (6).

Báo cáo trên đã cho chúng ta thấy rằng nếu như khả năng xuất khẩu của Việt Nam bị giới hạn trong thập niên 1810, khi nó vẫn còn phải phấn đấu để phục hồi từ sự tổn hại của các cuộc nội chiến hồi cuối thế kỷ thứ XVIII.  Tổng số trọng tải đầu thập niên 1820 chắc chắn ít hơn 30.000 tấn mỗi năm, phán đoán theo sự ước lượng của Crawfurd trong năm 1823(7). Song vận tải đường biển đã gia tăng một cách rõ rệt trong các thập niên sau đó. Mậu dịch của Việt Nam với Singapore vào khoảng 4.000 tấn trong năm 1823 (8). Con số này đã tăng hơn gấp hai lần vào khoảng 10.000 tấn trong năm 1839, và vào năm 1857 nó lên tới 31.000 tấn, hay một sự tăng trưởng gấp 7 lần(9).

Từ những cứ liệu trên chúng tôi không chia sẻ lối khẳng định phiến diện của Lê Thành Khôi khi ông viết về triều Nguyễn. Và nó hoàn toàn phù hợp với nhận định của Frédéric Mantienne: “Thời kì 1790-1802 đánh dấu sự chuyển đổi trong thái độ của người Việt đối với đại dương và các nước khác. Trong vòng 12 năm, dân tộc Việt Nam, những người trước đó bị cho là không hợp với các chuyến hải hành đường dài, đã học được các kỹ thuật nước ngoài, áp dụng chúng trong hoàn cảnh địa phương để xây dựng một hạm đội mạnh. Một ví dụ mang tính biểu tượng cho sự mở cửa của Việt Nam ra với biển: đoàn sứ thần do nhà Nguyễn gửi đến Trung Quốc để xin hoàng đế nhà Thanh công nhận triều Nguyễn đã đi bằng đường biển thay vì đi qua biên giới phía Bắc như hàng thế kỷ trước đó.

Trong thời hậu chiến, các con tàu kiểu châu Âu cũng được dùng cho việc buôn bán. Chúng không chỉ chở gạo từ miền Nam ra miền Trung Việt Nam, mà còn dùng cho các hành trình ra nước ngoài. Gia Long năm 1802 chấm dứt việc gửi phái đoàn thương mại ra nước ngoài để mua súng đạn, nhưng Minh Mạng sau đó lặp lại lề thói này. Các chuyến hải hành thương mại cũng đem lại cơ hội cho thủy thủ đoàn Việt Nam tập ra biển lớn, và sử dụng kỹ thuật phương Tây. Năm 1823, Minh Mạng ra lệnh cho thủy thủ đoàn học sử dụng các dụng cụ đi biển, học xác định phương hướng. Năm 1835, các chỉ thị tương tự ban hành xoay quanh việc nhập khẩu các kỹ thuật hải trình; năm 1842, đến lượt người kế vị Minh Mạng, Thiệu Trị, ra các chỉ thị như vậy.

Ý chí chính trị học hỏi các kỹ thuật nước ngoài đạt đỉnh cao trong cuối thập niên 1830 khi Minh Mạng ra lệnh mua tàu chạy bằng hơi nước. Phan Huy Chú năm 1833 lần đầu tiên nhìn thấy tàu hơi nước ở Batavia, và Lý Văn Phức mô tả một tàu khác trong chuyến đi đến Calcutta. Năm 1839, Việt Nam mua con tàu hơi nước đầu tiên, sau đó là ba thuyền khác – có tên Yên Phi, Vũ Phi và Hương Phi. Năm 1844, một con tàu lớn hơn được mua, với tên Diễn Phi.

Đáng lưu ý là ngay cả người Pháp, cho đến trước năm 1816-1818, còn chưa dùng tàu hơi nước cho các sứ mạng thương mại. Đến cuối thập niên 1820, các hạm đội Anh và Pháp mới đặt hàng các tàu hơi nước đầu tiên. Tại châu Á, người Hà Lan đặt hàng con tàu hơi nước đầu tiên cho hạm đội của họ năm 1837, và một hai năm sau mới có con tàu thương mại đầu tiên.

Trong khi đó mãi đến thập niên 1830, vua Rama III của Thái Lan mới quyết định chỉ dùng toàn mô hình châu Âu cho hạm đội nhà nước Thái. Tức là trong khi người Thái mới bắt đầu nói về tàu kiểu Tây phương, thì Việt Nam đã mua tàu chạy bằng hơi nước. Có vẻ như trong nửa đầu thế kỷ 19, tại châu Á, Việt Nam thuộc một vài nước đầu tiên quan tâm kỹ thuật hàng hải châu Âu”(10).

Như vậy chúng ta thấy rằng 3 vị vua đầu tiên của triều Nguyễn không phải là những người đã theo đuổi chính sách bế quan tỏa cảng, mà ngược lại, là những nhà lãnh đạo đã thực hành chính sách mở cửa để tiếp thu và thích nghi các khoa học, kỹ nghệ mới lạ từ bên ngoài có lợi cho quyền lợi của quốc gia.

Với ý chí tiến thủ như thế của triều đình nhà Nguyễn nhưng tại sao 20 năm sau đó khát vọng canh tân nước nhà và những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ lại bị không được chấp nhận? Và không phải chỉ có vậy, các chủ trương mở cửa, giao lưu với bên ngoài của Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện… đều bị triều đình ngăn cản và thất bại.

Phải chăng nhà Nguyễn lúc này đã phân hóa thành các thế lực, các phe phái dẫn đến có những quan điểm khác nhau trong nhận thức về đối nội và đối ngoại. Một dẫn chứng cho thấy là triều Nguyễn dưới thời vua Tự Đức đã có chính sách cấm đạo cực đoan. Chính sách này rất có thể là một nguyên nhân khiến các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ bị rơi vào quên lãng. Đó là những ẩn số của lịch sử mà chúng ta cần nghiên cứu để xác định./.
  
-----------------
(1) Yoshiharu Tsuboi. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa. Ban KHXH Thành ủy Tp.HCM 1990.
(2) Xem “The Transfer of Western Military Technology to VietNam in the late 18th and early 19th Centuries: The case of the Nguyễn”. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á. Đại học quốc gia Singapore, số tháng 10 năm 2003.
(3) Trương Hữu Quýnh chủ biên. Đại cương Lịch sử Việt Nam. Tập 1. NXB Giáo dục, 1998.
(4) Quốc Sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục (nhiều tập).Bản dịch tiếng Việt của Trịnh Đình Rư-Trần Duy Hân Hoa Bằng hiệu đính).NXB KHXH,HN, 1971.
(5) Anthony Reid, “A New Phase of Commercial Expansion”, New York: MacMillan Press, 1997, trang 70.
(6) Vĩnh Sính. Thử tìm hiểu thêm về chuyến đi công vụ ở Hạ Châu của Cao Bá Quát. Tạp chí DĐĐT Paris 2004.
(7) (8) Crawfurd, Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochinchina, Oxford University Press, 1987, trang 513.
(9) Wong Linken, “Singapore: Its Growth as an Entrepot Port, 1819-1941, Journal of Southeast Asian Studies, no. 9, 1978, trang 61.
(10) Xem “The Transfer of Western Military Technology to VietNam in the late 18th and early 19th Centuries: The case of the Nguyễn”. Sđd.
(11) Chu Thiên, Đặng Huy Văn, đồng chủ biên, Hợp tuyển thơ văn yêu nước: thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX , Nhà Xuất bản Văn Học, Hà Nội,1970, trang 416.
(12) Bài dụ: khiển trách viện thương bạc và viện Thừa Thiên Phủ trong tập Tự Đức thánh chế văn tam tập, bản dịch của Bùi Tấn Niên và Trần Tuấn Khải, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa xuất bản, Sài Gòn, 1973, trang 45-46.


Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

(Video tham khảo)


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp