• Pic Mgmt

    NHỮNG HANG ĐỘNG "MADE IN VIETNAM" KHÔNG KÉM HANG SƠN ĐOÒNG

    Động Hương Tích, Thạch Động... là những hang động mang trên mình vẻ đẹp kỳ vĩ, không kém hang Sơn Đoòng bao xa. Mới đây, New York Times đăng tải bài viết của tác giả David W.Lloyd ca ngợi vẻ đẹp của hang động Sơn Đoòng. Khi ghé thăm hang Sơn Đoòng, David W.Lloyd đã phải thốt lên rằng, những ngày khám phá Sơn Đoòng là chuỗi thời gian phiêu lưu thú vị nhất trong cuộc đời ông...

  • Pic Mgmt

    Phú Thị - Làng cổ, làng khoa bảng

    "Chung lưng đất Sủi ai bì Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh" (Kinh Bắc phong thổ kí diễn quốc sự) Làng Phú Thị, tên Nôm là làng Sủi, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, đầu thời Nguyễn thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Theo các nhà nghiên cứu thì Sủi có gốc từ âm Việt cổ "Slủi" hay "Tlủi", sau này phiên âm ra chữ Hán là Thổ Lỗi...

  • Pic Mgmt

    DANH HỌA NGUYỄN PHAN CHÁNH

    Tranh lụa Việt Nam ra đời từ những năm 1930 và nhanh chóng hình thành một phong cách riêng trong nền hội họa tại Việt Nam. Có nhiều họa sĩ vẽ tranh lụa nhưng người phải nhắc đến đầu tiên đó là danh họa Nguyễn Phan Chánh...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

  • Pic Mgmt

    KÍNH BÁO

    Ban liên lạc họ Cao Việt Nam xin trân trọng kính báo về việc phát sóng chương trình ngày kỷ niệm thánh tổ Cao Lỗ Vương như sau:...

  • Pic Mgmt

    LÀNG PHÚ THỊ, LÀNG KHOA BẢNG

    Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, Phú Thị có trên ba trăm người đỗ từ cử nhân đến tiến sĩ. Dưới thời Lê trung hưng, trong giai đoạn từ năm 1735-1745, Phú Thị cùng lúc có bốn người làm Thượng thư trong triều (Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc và Trịnh Bá Tương)...

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG - CHƯƠNG TRÌNH LỄ DÂNG HƯƠNG KHAI MẠC

    Được tin trưa nay, 13/4/2013 ông Cao Bá Nghiệp ở TPHCM nhận được thư Chuyển Phát Nhanh do Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Phát triển (ở Hà Nội) gửi (dấu bưu điện ghi ngày gửi là 11/4/2013). Dưới đây là nôi dung chính thức của Lễ hội Cao Lỗ Vương năm 2013 sẽ được tổ chức tại Gia Bình, Bắc Ninh:...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    ...Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

    Nguồn gốc của người Việt, luôn là chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm, chính vì thế mà những tranh luận về đề tài này diễn ra gay gắt, trong bài này chúng ta không đưa ra một giả thuyết mà sẽ cùng nhau khảo sát những bằng chứng...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG (KHẢO SÁT ĐỊA BẠ LÀNG VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ)

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần.

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ THẬT VIỆT TỘC

    Trong vòng 5000 năm lịch sử con cháu Việt tộc đã và đang được đọc những dòng cổ sử do các sử gia ngoại bang viết lại, và tiếc thay vài sử gia Việt vô tình truyền lại một số sai lạc vì thiếu nghiên cứu, phân tách khách quan và phán xét một cách có phương pháp khoa học...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC KỲ DIỆU TỪ RAU SAM...

    Rau sam là một loại thân thảo mọc hoang ở những vùng ẩm mát như bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẽ trong những luống hoa màu. Rau sam có tên là khoa học: Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau sam Portulacea. Thân cao khoảng 10 – 30cm, gồm nhiều cành nhẵn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt nhỏ màu đen...

  • Pic Mgmt

    THẦN TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI GIA ĐÌNH HÙNG VƯƠNG

    ...Dấu ấn về thời kỳ Hùng Vương đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ và các ngành khoa học khác chứng minh; và cũng được phản ánh sâu đậm qua nguồn tài liệu ngọc phả, thần phả, phả lục, cổ lục… mà theo thuật ngữ chuyên môn gọi chung là thần tích. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 568 tập thần tích mang ký hiệu AE ghi chép về sự tích các thần và việc thờ cúng các thần ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    Trống đồng Ngọc Lũ trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam.

    Niềm hãnh diện lớn nhứt của dân tộc Việt ở Châu Á là sự xuất hiện nền văn hóa trống đồng Đông Sơn rực rỡ thời Cổ Đại trên đất Lạc Việt, trải dài cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Đó là nhờ sự ra đời của kim loại đồng và thành quả phát triển kỹ nghệ luyện kim trong nhiều thế kỷ trước đó...

  • Pic Mgmt

    VẬN NƯỚC RỒI SẼ RA SAO ?

    Thượng tọa Thích Viên Như là sư trụ trì chùa Linh Sơn, Đà Lạt. Tình cờ tôi đọc được bài viết của Thầy nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long với tiêu đề VẬN NƯỚC RỒI SẼ RA SAO? Nhận thấy nội dung bài viết này của Thầy Viên Như có ý nghĩa nhân văn rất cụ thể. Tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết này để quý vị & bạn đọc gần xa tham khảo, nếu có duyên. Mọi ý kiến phản hồi, xin liên lạc trực tiếp với Thầy theo số điện thoại: 0919 389 379

Chi tiết

CỐ ĐÔ HOA LƯ (NINH BÌNH)

Đăng lúc: 2014-07-06 05:07:04 - Đã xem: 2419

Kinh đô Hoa Lư - thủ đô của nước Đại Cồ Việt
 
Có thể nói, kinh đô Hoa Lư là một quân thành vững chắc do thiên nhiên và con người làm nên...


Cách Hà Nội chừng 100km về phía Nam theo Quốc lộ 1A, cố đô Hoa Lư thuộc địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, một vùng núi non kỳ vĩ và hiểm trở làm thủ đô - “kinh đô đá”.
 
Đại Việt sử lược ghi: “Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai Bảo (968) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ, vương xưng hoàng đế ở động Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế”. Tại đây, ông cho xây cung điện, đặt triều nghi, đắp thành, đào hào, dựa vào thế núi xây dựng một công trình phòng ngự kiên cố như một pháo đài hiểm, biệt lập với bên ngoài. Kinh đô Hoa Lư được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ. Khoảng trống giữa các sườn núi được xây kín bằng đất ken gạch, chân thành có gạch bó, đắp cao từ 8-10m, hiện vẫn còn dấu vết của nhiều đoạn tường thành.
 

Vua Đinh Tiên Hoàng đã biết khai thác triệt để thiên nhiên phục vụ cho con người. Lối kiến trúc này tiết kiệm tối đa sức người sức của. Có thể nói, kinh đô Hoa Lư là một quân thành vững chắc do thiên nhiên và con người làm nên. Phía Bắc thành nằm bên sông Hoàng Long nên đường giao thông thủy rất thuận tiện. Khu vực Thành Ngoại, nay thuộc địa phận thôn Yên Thượng, Yên Thành, xã Trường Yên, là cung điện chính, nơi vua Đinh cắm cờ nước, hiện là đền thờ vua Đinh, vua Lê. Trước cung điện có núi Mã Yên, tương truyền, vua Đinh Tiên Hoàng lấy núi này làm án. Tại thôn Yên Thành hiện vẫn còn nhiều đền, chùa là một phần kiến trúc trong khu cung điện chính. Đó là chùa Nhất Trụ, được xây từ đời vua Lê Đại Hành, trước cửa chùa có cột Kinh bằng đá, cao 4,16m hình tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm do nhà vua làm để dâng nhà Phật, tạo nên vẻ đẹp tâm linh, thánh thiện và để chuyển tải sinh lực vũ trụ. Liền đó là đền Phất Kim - thờ con gái thứ ba của vua Đinh Tiên Hoàng, nàng công chúa thà nhảy xuống giếng tự vẫn chứ không chịu theo người chồng phản tặc chống lại vua cha. Trong khu Thành Ngoại xưa hiện vẫn còn nhiều chùa cổ khác, đều được xây dựng từ thời nhà Đinh như chùa Đìa, chùa Tháp, Bà Ngô. Khu Thành Nội rộng hơn, ăn thông với Thành Ngoại bằng một ngách núi, gọi là Quèn Vòng với những cầu Đông, cầu Rền... bằng đá, làm nơi nuôi trẻ em và kho chứa. Bên ngoài thành có nhiều trạm gác bảo vệ. Kinh thành nằm giữa những quả núi lớn bao bọc xung quanh, mang nặng tính chất quân sự, vị trí kín đáo, thuận lợi cho việc phòng thủ, tiến công, lại xa biên thùy, khó khăn trong việc giặc phương Bắc tìm hiểu, mở những đợt tấn công chớp nhoáng.


Phía đông bắc thành có núi Cột Cờ, xưa là nơi vua Đinh cắm cờ nước, gần đó là nơi vua đứng để duyệt thủy quân trên sông Sào Khê. Phía đông nam khu Thành Ngoại còn có động Am Tiên trên lưng chừng núi, xưa là nơi vua Đinh nuôi nhốt hổ báo để trừng trị những kẻ có tội, còn ngay dưới chân núi là Ao Giải, nơi vua nuôi giải để ném những kẻ có tội xuống ao cho giải ăn thịt. Ngoài ra còn có hang Muối, hang Tiền... là nơi vua cất giữ lương thực, ngân khố...

Tất cả núi sông và khu vực thành cổ nhấp nhô do thiên tạo và nhân tạo, giống như một vịnh Hạ Long trên cạn đã hình thành một quần thể kiến trúc trang nghiêm, đồ sộ, khoáng đạt mà không một kinh đô cổ nào có được. Tới đời Tiền Lê, khi Thái Hậu Dương Vân Nga thấy hiểm họa giặc ngoại xâm đang đe dọa mà vua Đinh Toàn còn ít tuổi, không thể lãnh đạo cuộc kháng chiến đã suy tôn Lê Hoàn lên làm vua, vua Lê Đại Hành đã cho xây thêm nhiều cung điện lộng lẫy, làm kinh đô Hoa Lư càng hoàn chỉnh. Suốt 42 năm tồn tại (968-1010), kinh đô Hoa Lư chủ yếu là đại bản doanh của hai vị vua kiêm Tổng tư lệnh quân đội: Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Đó cũng là nơi ra đời của một vương triều mới: nhà Lý. Khi dời đô ra thành Đại La (Thăng Long), để tưởng niệm công lao đặt nền móng xây dựng độc lập tự chủ của đất nước và nhớ đến cố đô Hoa Lư, Lý Thái Tổ đã lấy tên một số cầu, chùa ở kinh đô Hoa Lư đặt cho nhiều khu vực ở Thăng Long và vẫn tồn tại đến tận ngày nay như: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, chùa Một Cột... Ngày nay, đến cố đô Hoa Lư, du khách không những được thăm lại những đền chùa cũ, những động xưa còn nguyên vẹn đến ngày nay mà còn thấy cả nhiều vết tích của kinh đô đá. Khu vực chính trong kinh thành xưa, nhân dân ta đã xây dựng đền thờ vua Đinh, vua Lê với những kiểu kiến trúc độc đáo, tinh xảo, gợi nhớ cung điện xưa lộng lẫy vàng son nhưng vẫn đậm chất dân gian; nghệ thuật chạm khắc trên gỗ, đá rất điêu luyện, công phu. Ngay trước đền Đinh, trên đỉnh Mã Yên Sơn cao tới 265 bậc là lăng mộ vua Đinh, nơi nhân dân đã đưa thi hài vua lên an táng để con người bất tử đó vẫn như còn ngồi trên yên ngựa để cứu dân, cứu nước. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt bao quát hết cả cố đô, thấy rõ từng ngọn núi, dòng sông với bao huyền thoại kỳ bí. Cùng với những di tích trên mặt đất, gần đây ngành khảo cổ đã phát hiện và khai quật dưới tầng đất giữa hai đền vua Đinh, vua Lê vốn là nền cung điện cách đây trên 1.000 năm nhiều hiện vật quý giá, minh chứng cho những công trình kiến trúc của cố đô Hoa Lư và trình độ phát triển về kiến trúc, nghệ thuật, kinh tế, văn hóa xã hội của dân tộc Việt thời bấy giờ.
 
Thanh Hòa 
Nguồn:http://www.quehuong.org.vn


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp