• Pic Mgmt

    DÒNG HỌ CAO ĐÌNH (THUẬN THÀNH, BẮC NINH)

    Nhiều năm trở lại đây, dòng họ Cao Đình thôn Đại Tự, xã Thanh Khương (Thuận Thành) được ghi nhận như một điểm sáng giáo dục, khuyến học. Gần 1/4 thành viên trong dòng họ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học (ở nhiều gia đình tỷ lệ này là 100%). Số con em Cao Đình có thành tích học tập tốt cũng như thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng luôn nằm trong tốp đầu của địa phương. Phong trào khuyến học, khuyến tài được khơi dậy từ khá sớm với cách làm bài bản và quy mô...

  • Pic Mgmt

    KỲ DIỆU BÀI THUỐC NAM CHỮA KHỎI UNG THƯ GAN

    Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ...Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15.6.1882, trong một gia đình nghèo tại Thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc Huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Để thoát khỏi cảnh sống cơ cực do chế độ Phong kiến tạo ra, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã tìm ra kinh thành Thăng Long, tìm kế sinh nhai và tá túc tại nhà một người họ hàng ở 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    SAU GẦN HAI THẾ KỶ, LẦN ĐẦU TIÊN "QUẢ TIM LỬA" HẠ SƠN !

    Sau gần 2 thế kỷ được vua Minh Mạng ban cho, lần đầu tiên "Quả Tim Lửa" từ chùa Tam Thai (khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) hạ sơn để tham gia cuộc triển lãm "Tinh hoa cổ vật Phật giáo" do Bảo tàng Đà Nẵng tổ chức nhân mùa lễ Vu Lan!...

  • Pic Mgmt

    VĂN CHỈ HOẰNG HÓA: CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ TÔN TẠO

    Nằm trong cụm Di tích lịch sử Bảng Môn Đình, Văn chỉ Hoằng Hóa gắn liền với truyền thống trọng đạo học của miền quê xứ Thanh hiện đang bị xâm phạm...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng nam sông Dương Tử xuống hết phía nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY HÀ ĐỒ - KINH DỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN

    Trước hết xin bàn qua chuyện RỒNG. Theo truyền thuyết con Rồng cháu Tiên thì Lạc Long Quân nói với Âu Cơ “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên… không ở với nhau được”. Vậy giống Rồng là giống gì? Từ đâu mà có giống này? Tất nhiên là không phải con Rồng trong thần thoại rồi. Căn cứ vào câu chuyện thì ta biết rằng Lạc Long Quân là người Đồng bằng, còn Âu cơ là người miền Núi. Chữ Rồng được hình thành theo cách sau: Lạc Long Quân là dân lúa nước...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC VIỆT

    Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

  • Pic Mgmt

    CƠ CẤU DI TRUYỀN BÁCH VIỆT

    ... Các tài liệu nhân loại học phân tử mới nhất, cho thấy ADN mang nhiễm sắc thể Y, có thể giúp tiến hành phân tích tỉ mỉ hơn về hệ thống tộc người. Các kết quả phân tích di truyền ở tập đoàn Bách Việt cho thấy, sự khác biệt rất lớn so với các tập đoàn dân tộc khác ở Trung Quốc, ngược lại rất gần gũi với tập đoàn Nam Đảo (chủng Mã-Lai), đặc biệt là nhóm các dân tộc bản địa tại đảo Đài Loan...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ MA CÓ TỪ THỜI VUA HÙNG

    (Dân Việt) - Ông Ma Ngọc Bảo - Trưởng Ma tộc đời thứ 77 ở Phú Thọ khẳng định dòng họ mình là dòng họ duy nhất còn giữ được ngọc phả chứng minh cụ tổ đã sinh ra và có công giúp Hùng Vương dựng nước...“Đến năm 2015, nếu dòng họ Nguyễn và Cao không tìm được thấy ngọc phả, dòng họ Ma sẽ được ghi nhận là dòng họ lâu đời nhất ở Việt Nam”.

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN 3 BỘ XƯƠNG NGƯỜI VIỆT CỔ NIÊN ĐẠI 5000 NĂM TUỔI Ở HÀ TĨNH

    Ba bộ xương người Việt cổ nằm sát nhau trong ô đất ở núi Rú Điệp (Hà Tĩnh) rộng 6 m2, dưới lớp trầm tích độ sâu 1,8m. Hộp sọ, răng, xương sườn, xương tay, chân còn khá nguyên vẹn...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ THÀNH CÔNG BỘ GENE NGƯỜI ĐÀN ÔNG 45.000 NĂM TUỔI

    ...Các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu xương từ một chiếc xương đùi được tìm thấy vào năm 2008 trên bờ sông Irtysh, gần khu định cư Ust'-Ishim, Siberia. Họ đã dùng collagen lấy từ xương để xác định tuổi và các mẫu DNA để xác định trình tự bộ gene của người đàn ông này. Khi có được chuỗi trình tự đầy đủ, họ đã có thể so sánh nó với bộ gene của con người hiện đại và tìm các thiếu sót đột biến trong bộ gene của người đàn ông Ust'-Ishim...

  • Pic Mgmt

    TIẾNG VIỆT TRONG ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN VÀ PHƯƠNG PHÁP DIỄN TẤU ĐÀN BẦU

    Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật có âm hưởng biểu đạt cảm xúc, trong đó tác phẩm khí nhạc dân tộc được biến hóa thông qua diễn tấu của người nghệ nhân, nghệ sĩ nhằm biểu đạt hàm ý và phong thái của tác phẩm, truyền đạt nội dung, cái đẹp của nghệ thuật. Trong nghệ thuật diễn tấu, các cách thức và phương pháp biểu hiện khác nhau sẽ tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật khác nhau. Một trong những điều quan trọng nhất chính là bất luận âm hưởng phát ra từ diễn tấu hay diễn xướng,...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI GIỮ HỒN DÂN TỘC QUA NHỮNG CHIẾC TRỐNG ĐỒNG

    Từ sâu thẳm, tôi muốn gọi anh - một nghệ nhân đã đạt đến đỉnh cao, sự tinh túy trong nghệ thuật đúc trống đồng – là người đang làm sống lại và lưu giữ hồn cốt đất Việt. Bởi lẽ, cứ mỗi lần được nghe tiếng âm vang từ dàn trống đồng, do chính tay anh chế tác, tôi lại thấy lòng mình trào dâng xúc cảm. Có điều gì đó thiêng liêng, lớn lao lắm mà khó diễn đạt hết bằng lời...

  • Pic Mgmt

    CHÙA ĐỒNG Ở QUẢNG NINH

    Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh núi Yên Tử (Quảng Ninh) là ngôi chùa bằng đồng có một không hai trên đất nước Việt Nam và ngay cả các nước thuộc Châu Á cũng chưa có ngôi chùa bằng đồng nào lớn như vậy. Trước ngày chùa Đồng được Tổ chức Kỷ lục Châu Á công bố kỷ lục “Ngôi chùa bằng đồng (trên đỉnh núi) lớn nhất”...

Chi tiết

SỰ THÂM THÚY ẨN CHỨA TRONG BÀI CA TRÙ "HỒNG HỒNG TUYẾT TUYẾT"

Đăng lúc: 2014-08-24 15:08:31 - Đã xem: 1556

VOV.VN - Bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” về hình thức là bài thơ hát nói không chỉ có một “nghĩa đen” mà còn có “nghĩa ẩn dụ”.

Năm 2005 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, trong liên hoan ca trù toàn quốc do Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức có 14 tỉnh, thành phố tham gia. Một vấn đề đặt ra về yêu cầu là các chiếu hát của những đơn vị ấy, khi trình diễn bắt buộc phải trình bày bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” trước khi hát những bài sở trường quen thuộc của mình. Đây là một trong những bài mẫu mực về nghệ thuật và có giá trị tư tưởng tốt.

Từ trước đến nay, khoảng trên dưới 100 năm, những nhà nghiên cứu văn học và yêu thích nghê thuật ca trù đã biết khá rõ những bài thơ nói của tiến sĩ Dương Khuê (1839-1902) trong toàn bộ di sản văn chương và thơ ca của cụ ở nửa thế kỉ XIX trong thiên niên kỉ trước, nhưng ít ai đánh giá đúng giá trị đích thực phẩm chất Dương Khuê trong mảng văn chương được thể hiện bằng loại ca trù, đặc biệt là bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”. Chúng ta chỉ biết cái nghĩa đen của lời ca mà không hiểu gì hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả, bối cảnh lịch sử cụ thể mà cụ Dương Khuê đã trải qua.

Ảnh minh họa: Quang Trung

Cụ Dương Khuê sinh năm Kỷ Hợi (1839), quê làng Vân Đình, tổng Phương Đình, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Năm Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức 21 (1868) cụ thi Hội đỗ tiến sĩ, ngay sau đó được bổ nhiệm chức tri phủ Bình Giang, Hải Dương. Cụ bước vào quan trường, đến khi Tự Đức qua đời (16/6/1883) và Hòa ước mất nước ký giữa triều Nguyễn và Pháp (1883). Đó là giai đoạn 15 năm đầu trong cuộc đời làm quan của cụ có nhiều tâm trạng mà cụ đã gửi gắm trong bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”. Năm 1897, cụ cáo quan về ở ẩn, và mất năm 1902, hưởng thọ 63 tuổi. Có thể dự đoán bài ca trù ấy được viết vào năm 1883 với đầy đủ những sự kiện lịch sử và tâm trạng của tác giả.

Qua nhiều tài liệu còn lưu lại thì bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” về hình thức là bài thơ hát nói khá mẫu mực, bài có điệu Mưỡu 1 và 2 ở đầu, phần hát nói có 11 câu với 3 trổ cơ bản, ý tứ khúc chiết, rõ ràng, và không chỉ có một “nghĩa đen” mà nhà thơ còn gửi tâm trạng của mình với một “nghĩa ẩn dụ” trong đó. Đoạn mở đầu, tác giả viết:

       Ngày xưa Tuyết muốn lấy chồng
       Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì
       Bây giờ Tuyết đã đến thì
       Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già

Nghĩa “đen” thì đã quá rõ, còn nghĩa “bóng” ta có thể hiểu là: Ngày xưa tôi là người trong trắng (như Tuyết) mới thi đỗ làm quan, muốn giúp vua nhưng bị chê là không biết gì (Dương Khuê dâng sớ lên Tự Đức phải quyết liệt với người Pháp, cụ bị chê là “Bất thức thời vụ” – Không hiểu thời cuộc). Bây giờ, tôi đã hiểu biết khôn ngoan, ông muốn dùng tôi thì tôi lại thấy ông già nua, nhu nhược (đầu hàng Pháp).

Tiếp đến phần hát, tác giả viết:

        Hồng Hồng Tuyết Tuyết
        Mới ngày nào chưa biết cái chi chi 
        Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì
        Ngoảnh mặt lại đã tới kì tơ liễu

Hồng Tuyết ngoài nghĩa “đen” là tên một cô đào hát hoặc hai cô đào hát, còn chứa đựng cái nghĩa “bóng” mà tác giả gửi gắm.

Phần này theo nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, nhà thơ Trần Huyền Trân, nhà báo Tô Dũng đã có chung nhận xét là: Mới ngày nào bước vào quan trường ta như cánh chim. Hồng bay tung hoành nào có biết cái chi chi, thấm thoắt cuộc đời làm quan đã 15 năm (1868 – 1883) mới đó bây giờ nhìn lại cũng đã khôn ngoan, trưởng thành rồi.

       Cười cười nói nói sượng sùng
       Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại

Khi Tự Đức lên ngôi vua (1847) ở tuổi 19, còn ít tuổi (lúc đó Dương Khuê chỉ là đứa trẻ 8 tuổi ham chơi). Nay vua hứa “gả bán” tôi cho người Pháp thì tôi đã già (trước khi Tự Đức mất 16/6/1883, Hòa ước mới được lập xong, nó công nhận cuộc bảo hộ của Pháp ở Nam Bộ và cho đặt công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kỳ mới chính thức “gả bán”). Trước thực trạng ấy cả vua tôi đều sượng sùng, thẹn đến đỏ mặt (hồng nhan) và lo buồn đến bạc tóc (bạch phát) thật là ái ngại…

Cuối bài tác giả đã viết:

        Riêng một thú thanh sơn đi lại
        Khéo ngây ngây dại dại với tình  
        Đàn ai? Một tiếng dương tranh

Chữ thanh sơn ở đây muốn chỉ triều đình lúc bấy giờ, còn dương tranh được hiểu là những cuộc tranh đấu đã nổi lên ở Bắc Kỳ (năm 1883 Hà Nội, Nam Định đã có các cuộc nổi dậy chống Pháp, viên đại tá Henri Riviere bị tử trận ở Cầu Giấy, Hà Nội). Chữ dương tranh, không phải là đàn tranh vì trong hát ca trù người ta đã sử dụng đáy cầm (đàn đáy). Vậy đoạn này hiểu là: Sau hòa ước bán nước 1883, vua quan nhà Nguyễn chỉ còn biết đi đi lại lại trong triều đình của mình như một thú vui ngây dại. Trong khi đó thì những cuộc nổi dậy chống Pháp ở Bắc Kỳ đã diễn ra như một tiếng cảnh tỉnh (ở đây tác giả mượn tiếng đàn).

Xem như vậy, bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” có hai nghĩa. Ngoài mối tình “trái khoáy” của một ông già với một cô đào trẻ, tác giả Dương Khuê còn gửi gắm tâm trạng của mình. Chính tâm trạng ấy cũng đủ làm nổi bật phẩm chất cao quý của một nhà nho, một viên quan đương thời trong sạch, có tấm lòng yêu nước, trăn trở với thế sự éo le lúc đó của đất nước.

Thông qua giai điệu âm nhạc, mà chủ yếu chỉ vẻn vẹn mấy nốt chính là Si, Sol, Sị, Si Sol, Si. Người nghệ nhân nhạc công đàn Đáy đã rất khéo biến hóa để tôn thêm cho lời thơ bay bổng và đi vào lòng người.

Đây cũng là một trong những bài ca trù mà trong những năm 60 của thế kỷ trước, Đài TNVN đã tổ chức nhiều buổi biểu diễn hát ca trù phục vụ các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại phòng thu M ở 58 phố Quán Sứ, Hà Nội. Hình ảnh các nghệ sĩ: Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Thanh Lâm, Kim Đức, Đinh Khắc Ban, Phó Đình Kỳ, Ngô Linh Ngọc… vẫn như còn trong tâm khảm chúng tôi, những người tổ chức thực hiện chương trình ấy./.

Nhạc sĩ Dân Huyền

CBN SƯU TẦM & GIỚI THIỆU

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp