• Pic Mgmt

    TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ...

    ...Năm 2005, Chi Hội Gia Phả-Hồi Ký được nâng lên thành Trung Tâm Nghiên Cứu và Thực Hành Gia Phả theo quyết định số 24/QĐ ngày 20/11/2005 của Hội Khoa Học Lịch Sử Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ngọc An được bổ nhiệm làm giám đốc...

  • Pic Mgmt

    HÁT DẬM QUYỂN SƠN (HÀ NAM)

    Hát Dậm (hay còn gọi là hát Dặm) – loại hình ca múa nhạc độc đáo chỉ có ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam). Trải qua hàng trăm năm, hát Dậm có những nét độc đáo riêng. Đến nay những điệu hát Dậm được các nghệ nhân đem đi giới thiệu tại 16 quốc gia trên thế giới...

  • Pic Mgmt

    LẦN ĐẦU TIÊN VIỆT NAM XÂY DỰNG THÀNH CÔNG HỆ GIEN NGƯỜI VIỆT

    TS. Lê Sỹ Vinh, giảng viên Trường ĐH Công nghệ, Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu trọng điểm về Tin – Sinh – Dược của ĐHQG Hà Nội cho biết, nhóm đã có kết quả đầu tiên về việc nghiên cứu xây dựng và phân tích hệ gene người Việt, bắt đầu từ tiếp cận của kỹ thuật tính toán tin - sinh. Nhóm đã nhận được dữ liệu hệ gene của một cá thể người Việt vào cuối năm 2013. Dữ liệu này bao gồm hơn 108 tỉ nucleotide...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO

    Cuốn sách TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM đã chính thức ra mắt bà con cô bác, từ ngày 15 tháng 01 năm 2017. Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên 200 trang, kèm theo gần 100 hình minh họa. Sách in giấy tốt, khổ A4. Giá bán nội bộ là 150.000đ00/cuốn (hình ảnh đen trắng) và 350.000đ00/cuốn (hình ảnh mầu)...

  • Pic Mgmt

    CHÙA CẦU ĐÔNG Ở HÀ NỘI

    Chùa tọa lạc trên một thân đất phẳng phiu, nay là phố nhà 38B, phố Hàng Đường, Hà Nội. Đây là ngôi chùa của thôn Đông Hoa Môn xưa, trước thế kỷ XV. Kể từ khi mới dựng, chùa đã qua nhiều bước thăng trầm cùng lịch sử và cũng đã được trùng tu không ít lần. Hiện chùa Cầu Đông còn lưu giữ được 4 bia đá cổ có các niên đại: Vĩnh Tộ thứ sáu 1624, Dương Hòa thứ năm 1639, Vĩnh Thịnh thứ tám 1712 và Gia Long thứ mười sáu 1817...

  • Pic Mgmt

    KỲ TÀI NGƯỜI CHỮA KHỎI BỆNH VÔ SINH...

    Cô Quách Thị Huệ ở thôn Xuân Phong xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa) nổi tiếng khắp vùng quê với những bài thuốc gia truyền hay trị hiếm muộn, bệnh gút, xương khớp. Đến xã Hải Vân hỏi thăm cô Huệ thuốc nam, từ đứa trẻ đến người già đều nhiệt tình chỉ dẫn. Cô Huệ trước là Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Hải Vân. Từ lúc mới vài tuổi, cô đã theo bà, theo mẹ lên rừng tìm cây thuốc. Năm 1991, khi mẹ đẻ của cô bị tai nạn ốm yếu, cô bắt đầu thay mẹ đảm nhận việc bốc thuốc gia truyền...

  • Pic Mgmt

    VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

    Sự kỳ vĩ của các hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng (Cinet) – Không chỉ là 1 trong số 7 di sản văn hóa và thiên nhiên được thế giới công nhận tại Việt nam. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống hang động tuyệt đẹp với con sông ngầm dài nhất thế giới. Cách thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình khoảng 50 km, Vườn quốc gia Phong Nhà – Kẻ Bàng là một quần thể rừng và núi đá vôi rộng lớn có diện tích khoảng 200.000 ha...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN CON ĐƯỜNG CỔ NHẤT THẾ GIỚI TẠI HÒA BÌNH

    Những vết mòn trên đá được lặp đi lặp lại một cách có hệ thống. Những vết mòn đó xuất hiện ở những nơi mà con người hiện đại chưa đặt chân tới. Những vết mòn nằm trong địa tầng văn hóa nguyên vẹn chưa bị xáo trộn của văn hóa Hoà Bình...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi ra mắt cuốn sách “CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ" và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    SỰ SỈ NHỤC QUỐC GIA QUA BẢN ĐỒ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH THÙ ĐỊA LÝ TRUNG QUỐC

    Bản đồ là một phần quan trọng trong việc tạo dựng và sử dụng hình ảnh quốc gia. Bài viết này nghiên cứu những bản đồ hiện đại của Trung Quốc để chỉ ra cách mà những biên giới rất cụ thể giữa không gian trong và ngoài nước là kết quả tự nhiên của các công trình biểu tượng của địa lý học lịch sử và những quy ước của bản đồ học Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    NGHI ÁN THÁI SƯ HÓA HỔ & 30 ĐẠO SẮC MINH OAN

    Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử. Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay)...

  • Pic Mgmt

    Trí thức và thói háo danh

    ​Trí thức là một thành phần quan trọng, đóng vai trò định hình tư tưởng, dẫn dắt xã hội. Tuy vậy, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, không phải toàn bộ nhưng ít nhất một bộ phận trong số họ có những nhược điểm cố hữu. Xin giới thiệu một số bài viết của ông về chủ đề này với mục đích tự nhìn lại mình, phản tư để thấu hiểu và thay đổi chính mình...

  • Pic Mgmt

    CÔNG TRÌNH SƯ NGUYỄN AN, NGƯỜI VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CỐ CUNG Ở TRUNG QUỐC (Bài viết của Tân An)

    Cố Cung, vốn có tên nữa là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là một quần thể kiến trúc cổ, quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất của Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc 15 của triều Minh (1417) vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1421), vua Minh tiến hành kế hoạch di chuyển Thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng, lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó, được tiếp tục triển khai với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ cực kỳ nguy nga, đồ sộ...

  • Pic Mgmt

    LỄ GẮN BIỂN ĐƯỜNG NGUYỄN HUY NHUẬN, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Sáng ngày 19/01/2014, UBND Huyện Gia Lâm phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội và các đơn vị liên quan tổ chức Lễ gắn biển đường Nguyễn Huy Nhuận...

  • Pic Mgmt

    LÀNG SỦI

    Theo các nhà nghiên cứu thì “Sủi” có gốc từ âm Việt cổ “S lủi”, qua phiên âm tiếng Hán là Thổ Lỗi, sau đó đổi thành Siêu Loại. Thế kỷ XVI- XVII, văn bia trong chùa ghi tên làng là Phú Thị, từ đó tên gọi này được dùng cho đến nay. Làng Sủi là một làng cổ trong địa bàn cư trú của người Việt cổ xưa thời Hùng Vương...

Chi tiết

ĐI TÌM DIỆN MẠO LINH VẬT VIỆT

Đăng lúc: 2014-09-20 08:51:40 - Đã xem: 1961

TT - Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến của những nhà nghiên cứu, bước đầu đi tìm diện mạo của những linh vật “phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”.
                    
Sư tử đá được chế tác tại làng nghề đá Non Nước, Đà Nẵng - Ảnh: Hữu Khá
Sư tử đá được chế tác tại làng nghề đá Non Nước, Đà Nẵng - Ảnh: Hữu Khá
L
TS: Làm sao phân biệt sư tử đá VN và sư tử “ngoại lai”? Linh vật gì được cho là thuần Việt? Các câu hỏi đó ngày càng cần có lời giải đáp, nhất là khi các làng nghề chuyên chế tác sư tử đá lâm vào cảnh “sống dở chết dở” (Tuổi Trẻ ngày 16 và 17-9).

Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến của những nhà nghiên cứu, bước đầu đi tìm diện mạo của những linh vật “phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”.

* Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế:

Con nghê đi suốt chiều dài lịch sử người Việt

Ở Việt Nam có linh vật kiểu Việt như nghê, sấu, sư tử, voi, hổ... và cách tạo hình những linh vật này hoàn toàn khác với sư tử đá Trung Quốc.

Mỗi dân tộc đều có cách thức và nhu cầu sử dụng những con linh vật trong các không gian tín ngưỡng. Hiện nay ngoài hệ thống tứ linh (long, ly, quy, phượng), một trong những linh vật của người Việt là con nghê. Con nghê đã đi suốt chiều dài lịch sử người Việt từ dân gian đến cung đình.

Một trong những văn bia quan trọng về sự xuất hiện của con nghê là văn bia thời Lý năm 1090 có tên “Minh Tịnh tự văn bi” ở Thanh Hóa.

Qua sự dịch chuyển văn hóa giữa các tộc người, người Việt đã tiếp thu, học tập và sáng tạo nên một con vật sống động như con nghê. Đó là con vật uy nghiêm, biểu cảm, gần gũi, không hướng đến sự trấn áp hay dọa nạt như sư tử đá Trung Quốc.

Trong tiềm thức văn hóa, mục đích sử dụng sư tử đá Trung Quốc và con nghê truyền thống của người Việt có sự khác nhau.

Sư tử ở Trung Quốc có nhiều loại, nhưng loại chủ yếu đang được chế tác tại các cơ sở ở Việt Nam hiện nay như Ninh Vân, Ninh Bình, Ngũ Hành Sơn... đều được lấy mẫu sư tử Bắc Kinh thuộc về hệ môn thú - tức những thú canh cổng.

Công năng của chúng là để gác vương phủ, lăng mộ, đền đài với mục đích trấn áp, nên kích thước của nó rất cao, to và thường đặt ở phía trước cổng, trước lăng mộ.

Còn con nghê của người Việt có kích thước nhỏ hơn. Nó có hai chức năng, hoặc là hoan hỉ chào đón ở lối vào, hoặc là tạo ra sự thương cảm ở các đền miếu.

Vào thời Nguyễn sau này nó còn có ý nghĩa là con vật soi xét, phân biệt người ngay kẻ gian. Như ở điện Thái Hòa (kinh thành Huế), con nghê dữ dội hơn bình thường. Vì thế, dân gian Việt có câu “làm phượng thì múa, làm nghê thì chầu”.

Hay người ta thường nói là nói cười như nghê là bởi con nghê mang lại niềm vui, sự hoan hỉ cho con người. Vì mục đích tâm linh khác nhau như vậy nên cách tạo hình sư tử Trung Quốc rất dữ tợn: thân hình cơ bắp cuồn cuộn, mắt trợn, răng nanh sắc nhọn.

Để phù hợp với chiều kích văn hóa người Việt, con nghê thường nhỏ hơn sư tử đá Trung Quốc. Người ta không cố tình làm to, vì đặt dưới bệ thấp sẽ tạo sự hài hòa với con người.

Cái đầu của con nghê thường nhìn lên, tạo sự giao cảm với con người chứ không tạo ra sự ngăn cách, thị uy như sư tử Trung Quốc.

Người Việt cũng dùng linh vật sư tử, nhưng có những điểm khác biệt với sư tử Trung Quốc.

Sư tử Việt thường có chữ “vương” trên trán, mình mập, tròn, đầu ngẩng lên, bờm xoắn lên hoặc dựng ra phía sau, động tác mô tả thì đang vươn lên để gầm, miệng ngậm ngọc, thân mình sư tử phủ kín loại vân xoáy, hay còn gọi là hình thức lôi văn.

Vì thế nhiều nơi gọi sư tử đá của người Việt là ông sấm: chùa Thông, chùa Bà Tấm (Hà Nội).

Ở Trung Quốc, tất cả những hình mẫu cổ đều được vẽ ra thành sách vở, làm sách công cụ cho tất cả hoạt động văn hóa và thợ thủ công.  

Còn nước ta không làm việc này, không hề chú trọng đến việc này, nên khi người thợ làm hình mẫu gì đó hoàn toàn dựa vào sách của Trung Quốc

Nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Phan Cẩm Thượng
* Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức:

Thời nào cũng có sư tử...

Theo tôi biết thì Việt Nam ta thời nào cũng có sư tử. Thời Lý có sư tử Lý, thời Trần có sư tử Trần, và thời Lê, Nguyễn thì có sư tử Lê, Nguyễn. Nhưng sư tử thời Lê, Nguyễn trong dân gian mình quen gọi là con nghê, và thực chất con nghê ấy cũng là một loại sư tử.

Có nhiều người cứ bảo nghê là thuần Việt. Và trở lại con sư tử của các thời thì tính chất cũng giống như sư tử ở Trung Quốc, tức là dùng để trấn ở mộ, trấn ở cửa... nhưng giữa sư tử ta và sư tử Trung Quốc khác nhau ở cách tạo hình.

Trong con mắt nhìn của tôi, cách tạo hình sư tử của ta từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn không thời nào giống nhau và cũng không có thời nào giống hệt như bên Trung Quốc.

Kể cả những con tiêu biểu, có mẫu số chung giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng vẫn có bản sắc riêng của Việt Nam chứ không bị giống Trung Quốc, tất nhiên là có thể Việt Nam có mượn cái nọ cái kia, nhưng đặt trong bàn tay của người thợ Việt Nam, được làm ra từ bàn tay thợ Việt Nam thì mang đậm màu sắc Việt Nam, không sợ lẫn sang cái khác.

Trong văn hóa không thể tìm cái gì thuần Việt theo nghĩa “chỉ có ở Việt Nam”. Có những thứ đúng là chỉ có ở Việt Nam, nhưng nguồn gốc sâu xa thì một linh kiện ở vùng này, một linh kiện khác lại xuất xứ từ vùng khác, và lắp ghép lại thì nó ở Việt Nam.

Tôi thấy hiện đang có một nỗi sợ chung là nỗi sợ giống Trung Quốc, nhưng giống mà ta vẫn có nét riêng của mình thì có gì đáng ngại.

* Họa sĩ - nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Phan Cẩm Thượng:

Cần có sách hướng dẫn cách tạo linh vật Việt

Sư tử đá có ở Việt Nam chủ yếu vào thời Lý (1010 - 1225), hiện còn thấy ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chùa Bà Tấm, chùa Thông...

Có nơi dùng làm bệ tượng Phật, có nơi đặt ở cửa chùa cùng nhiều con vật khác. Những con sư tử thời Lý mang tính trang trí cách điệu, không mang tính tả thực, thường có lưng ngắn, cổ ngắn, đôi khi trông giống như con cóc, có nhiều hoa văn ở đầu và phần đuôi.

Ở Việt Nam, ngoài con chó đá, người Việt rất ít khi bày linh vật gác cổng. Nếu có chỉ là con sấu, con nghê, con rồng nhưng luôn gắn với lan can thềm trước tòa tiền điện của kiến trúc.

Ở Trung Quốc, tất cả những hình mẫu cổ đều được vẽ ra thành sách vở, làm sách công cụ cho tất cả hoạt động văn hóa và thợ thủ công.

Những sách này làm rất chuẩn về mọi mặt, được đồ họa hóa hoàn toàn, tiện sử dụng sao chép bằng tay hay bằng máy.

Còn nước ta không làm việc này, không hề chú trọng đến việc này, nên khi người thợ làm hình mẫu gì đó hoàn toàn dựa vào sách của Trung Quốc. Nên không chỉ có linh vật gác cửa mà còn rất nhiều hình mẫu khác cũng bắt chước của Trung Quốc, như các tượng Phật bà Quan âm bằng đá hay thạch cao trưng bày khắp cả nước bây giờ.

Theo tôi biết, nhiều làng nghề hiện nay sử dụng các hình mẫu trong sách của Trung Quốc để chuyển sang sản xuất. Có thể nói đây là cái lỗi của ngành nghiên cứu văn hóa Việt Nam và sự chú ý quảng bá văn hóa dân tộc trong nước, chỉ nói suông mà không có biện pháp gì cụ thể.

V.V.T. ghi

VŨ VIẾT TUÂN - LAM ĐIỀN ghi

CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp