• Pic Mgmt

    MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN GỐC BÁCH VIỆT

    TS. Nguyễn Văn Vịnh (tổng hợp) Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ truyền thuyết đến các Thần tích, Tộc phả được phối kiểm bởi ngành Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Nhân chủng học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được phối hợp kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong khu vực đủ rộng tại châu Ấ cho phép các nghiên cứu xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt (Người Việt hiện nay là sự kết hợp của tộc Âu Việt và Lạc Việt)...

  • Pic Mgmt

    QUY ƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO VIỆT NAM

    Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với Họ CAO mong muốn liên kết với nhau để thực hiện tâm nguyện chung của bà con trong Dòng tộc về việc Họ, là đầu mối liên lạc kết nối các Gia tộc, Dòng Họ, Chi họ và cá nhân tâm huyêt với Họ CAO hướng về cội nguồn, đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giữ gìn và phát huy phẩm chất, truyền thống Họ CAO ...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ DÒNG HỌ TRẦN

    ...Họ Trần làng Kim Thiều, xã Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh vốn nổi danh là dòng họ khoa bảng. Trải qua đến nay đã 21 đời, từ thời tiên tổ thứ nhất đến nay con cháu dòng họ này nổi tiếng là hay chữ, có nhiều người đỗ đạt thành danh được sử sách ghi lại. Trong đó, có những vị từng là thầy dạy học của vua...

  • Pic Mgmt

    OBAMA, GIÁ TRỊ MỸ & CHUYỆN “GIÁ TRỊ GIẢ”

    Nước Việt sẽ hội nhập thế nào, ngay cả khi cơ hội lớn, thông qua sự kiện vị TT Mỹ Obama sang thăm VN với nhiều thông điệp lớn, được mở ra? Một sự kiện lớn nhất tuần qua, cũng có thể coi là sự kiện đối ngoại lớn nhất năm 2016 vừa diễn ra đã khiến cho trái tim của hàng triệu người dân Việt như… tan chảy, như lời bình của ai đó trên trang mạng XH...

  • Pic Mgmt

    LÀNG QUỲNH ĐÔI, NGHỆ AN

    Từ Thủ đô Hà Nội quốc lộ 1A xuôi về Nam khoảng 240 km đến gần một nơi gọi là Cầu Bèo (thuộc làng Bào Hậu, nay là xã Quỳnh Hậu) cách thị trấn Cầu Giát gần 3 km, khách sẽ thấy bên đường có một tấm biển có mũi tên chỉ ghi: ”Nhà bia tưởng niệm nữ sĩ Hồ Xuân Hương 3 km”...

  • Pic Mgmt

    HÁT DẬM QUYỂN SƠN (HÀ NAM)

    Hát Dậm (hay còn gọi là hát Dặm) – loại hình ca múa nhạc độc đáo chỉ có ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam). Trải qua hàng trăm năm, hát Dậm có những nét độc đáo riêng. Đến nay những điệu hát Dậm được các nghệ nhân đem đi giới thiệu tại 16 quốc gia trên thế giới...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ LƯU VIỆT NAM

    Giới thiệu sơ bộ các dòng họ Lưu Việt Nam hiện đang sinh sống trên mọi miền Đất Nước. Ban Liên lạc Lưu Tộc VN chúng tôi rất ước mong các Trưởng Tộc, Trưởng Chi, Phái, Ngành, Nhánh và thành viên của những dòng họ Lưu ở các địa phương gửi thêm thông tin giới thiệu về lịch sử dòng họ của mình để chúng tôi thống kê cập nhập bổ sung đầy đủ hơn, ngõ hầu tạo thêm nhiều thông tin dữ liệu cho bà con Họ Lưu chúng ta tìm hiểu về Cội nguồn và kết nối thêm mối thâm tình huyết thống dòng họ Tổ tiên Lưu Tộc Việt Nam của chúng ta...

  • Pic Mgmt

    CHÙA SỦI TRƯỚC NGUY CƠ ĐỔ NÁT

    Theo như trụ trì – Đại đức Thích Thanh Phương cho biết, chùa Sủi là một quần thể hết sức linh thiêng, gắn liền với lịch sử của dân tộc: “Chùa Sủi có tên là Đại Dương Sùng Phúc tự, là một ngôi chùa cổ tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Thời Lý – Trần, các vua thường qua đây ngủ đêm để ngóng mộng, chờ thông điệp của thánh thần...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HỘP ĐỰNG XÁ LỊ ĐỨC PHẬT BẰNG VÀNG RÒNG Ở NGHỆ AN

    Từ khi phát hiện ra báu vật bằng vàng ròng có một không hai này, rất nhiều cao tăng trong và ngoài nước đã tìm đến dể chiêm bái với tấm lòng thành kính. Trong khi đó các phật tử đều rất muốn được 1 lần được nhìn thấy chiếc hộp quý này....

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN

    Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi các sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn...

  • Pic Mgmt

    VÀI NÉT VỀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM TRONG SỬ SÁCH CỔ TRUNG QUỐC

    Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia láng giềng gần gũi, do vậy giữa hai nước đã tồn tại quan hệ lịch sử lâu dài. Trải qua quá trình tiếp xúc lịch sử, rất nhiều tư liệu lịch sử về hai quốc gia đã ra đời và tồn tại cho đến ngày nay. Bài viết này giới thiệu vắn tắt về các tư liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến các dữ liệu lịch sử của Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY HÀ ĐỒ - KINH DỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN

    Trước hết xin bàn qua chuyện RỒNG. Theo truyền thuyết con Rồng cháu Tiên thì Lạc Long Quân nói với Âu Cơ “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên… không ở với nhau được”. Vậy giống Rồng là giống gì? Từ đâu mà có giống này? Tất nhiên là không phải con Rồng trong thần thoại rồi. Căn cứ vào câu chuyện thì ta biết rằng Lạc Long Quân là người Đồng bằng, còn Âu cơ là người miền Núi. Chữ Rồng được hình thành theo cách sau: Lạc Long Quân là dân lúa nước...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO

    Cuốn sách TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM đã chính thức ra mắt bà con cô bác, từ ngày 15 tháng 01 năm 2017. Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên 200 trang, kèm theo gần 100 hình minh họa. Sách in giấy tốt, khổ A4. Giá bán nội bộ là 150.000đ00/cuốn (hình ảnh đen trắng) và 350.000đ00/cuốn (hình ảnh mầu)...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LÀNG NÀNH VỚI NGHỀ THUỐC GIA TRUYỀN

    Làng Nành nổi tiếng nhờ làm thuốc nam, thuốc bắc. Hiện trong làng có tới trên dưới 500 gia đình làm thuốc gia truyền, tập trung chủ yếu ở xóm 8 và xóm 9. Theo thầy giáo Thạch Văn Thân thì nghề chế biến thuốc này đang phát triển rất mạnh...

Chi tiết

PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG - DI TÍCH VÀ HUYỀN THOẠI

Đăng lúc: 2014-12-21 11:37:10 - Đã xem: 3026

Bạn có thể thăm viếng tượng đài “Thánh Gióng” ở đâu đó, nhưng xin chớ quên nơi chôn rau cắt rốn của Người. Gióng - Phù Đổng tên của người anh hùng cũng chính là tên của một địa danh có thật.


Phù Đổng, đó là một vùng đất nằm kề bên bờ tả ngạn sông Đuống, trước đây thuộc phủ Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội, cách trung tâm Hồ Gươm hơn 10 km theo đường chim bay.

Theo truyền thuyết, Phù Đổng là nơi sinh ra Thánh Gióng. Mẹ Gióng ướm bước chân thần ở vườn cà mà sinh ra. Thời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân xâm lược nước ta, Gióng lên ba, thoắt nói, thoắt cười, thưa mẹ đòi sứ giả vào, xin nhà Vua sắm cho ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt. Vua Hùng cho người mang đến.

Sau “Bảy nong cơm, ba nong cà. Uống một hơi nước cạn đà khúc sông”. Gióng vươn vai cao lớn khác thường, mặc giáp sắt, cầm roi sắt, lên ngựa sắt. Ngựa sắt phun lửa xông vào quân giặc. Trận chiến đấu ác liệt, roi sắt gẫy, Gióng nhổ cả bụi tre đằng ngà đánh giặc. Giặc tan, Gióng cưỡi ngựa lên núi Sóc Sơn bái vọng Mẹ rồi bay về trời.

Theo tục truyền, cứ đến ngày 9/4 âm lịch hàng năm, dân làng lại tổ chức lễ hội Gióng, một sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc. Qua các diễn xuất trong hội lễ, người ta có thể liên tưởng những bài học về chiến tranh nhân dân, suy ngẫm cách nhìn kẻ thù, hiểu thêm về thẩm mỹ truyền thống, cũng như đạo lý ứng xử con người trong tiến trình lịch sử...

Có rất nhiều người viết về Phù Đổng Thiên Vương, về cả thần tích, di tích và lễ hội. Song, rõ ràng rằng từ xưa đến nay chưa có một ai để tâm mà giải mã những hiện tượng văn hoá liên quan đến Đức Thánh Phù Đổng. Chúng ta hiểu rằng Đức Thánh Phù Đổng Thiên Vương là một trong “Tứ bất tử”. Trong “Tứ bất tử” này của người Việt thì rõ ràng chỉ chấp nhận Đức Thánh Phù Đổng và Tản Viên sơn thánh là tư cách của anh hùng văn hoá đích thực; Còn Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh chỉ là những vị thần về sau mang yếu tố của các thần linh không phải dạng anh hùng văn hoá - vì Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh là những vị thần đã được quan tâm tới và đề cao ở thời kỳ sử đã thành văn. Đức thánh Phù Đổng Thiên Vương và Tản viên sơn thánh là những người được nảy sinh từ thời cổ đại, thời tiền sử. 

Ở đây chúng ta hiểu rằng trong quá trình phát triển của cư dân Việt, các vị anh hùng văn hoá thường được gắn với các sự kiện rất lớn của người Việt. Nếu như chúng ta biết rằng Đức thánh Tản Viên ở tận vùng núi cao xa, Ngài là bạn thân của Thủy Tinh nhưng ở đấy “Sơn thuỷ hữu tình”. Đến khi người Việt lùi xuống phía dưới, biết đắp đê ngăn lụt thì lúc đó Tản Viên mới trở thành có tính chất là kẻ thù đối với Thuỷ Tinh mà biểu hiện bằng sự kiện lấy con gái vua Hùng. Đó là một hiện tượng sử hoá các anh hùng văn hoá. Nhưng khi người Việt đã xuống đến vùng châu thổ cao, giáp với châu thổ thấp thì người Việt lúc đó chủ yếu sử dụng công cụ bằng đồ đồng, đồ đá. Nhưng vì công cụ này không có cách nào mà khai phá được như những châu thổ thấp và đến lúc này người ta phát hiện ra đồ sắt và chỉ có đồ sắt mới có khả năng chặt được những cây lớn và khai phá những rừng rậm ở châu thổ thấp, đầm lầy mà thôi. Chính do phát hiện ra đồ sắt và thấy cái sức mạnh của sắt vô cùng to lớn như thế thì sức mạnh này được hội tụ và nhân cách hoá để trở thành một vị thần vĩ đại. Vị thần vĩ đại ấy đã góp phần tạo nên một sức mạnh của dân tộc, đại diện cho sức mạnh của dân tộc khai phá châu thổ thấp. Và, người Việt chỉ có thể trở thành một quốc gia, một dân tộc đầy đủ khi đã khai phá châu thổ Bắc Bộ. Cũng chính từ vùng thấp này, người Việt mới tạo đà để phát triển, để ra đi tiến tới một đất nước to lớn, thống nhất của cộng đồng như ngày nay. Như vậy chúng ta hiểu rằng Đức thánh Phù Đổng Thiên Vương đã đánh dấu một bước phát triển đặc biệt của dân tộc chúng ta ở thời kỳ sơ sử, tiền sử. Và, chỉ có từ Ngài mà chúng ta mới phát triển lên được, đặc biệt là phát triển nông nghiệp. ở đây với công cụ đồ sắt được quy tụ vào cái gậy của Ngài, khi Ngài cầm gậy đi đánh giặc và giặc ở đây là giặc phương Bắc tới. Song, cái nạn xâm lược của giặc, nó đã ám ảnh tới huyền thoại, khiến cho dần dần Phù Đổng Thiên Vương cũng tham gia vào chống giặc phương Bắc. Tuy nhiên chúng ta nên hiểu, chống giặc phương Bắc đó là một cuộc trường chinh về sản xuất, một cuộc trường chinh với sức mạnh của đồ sắt buổi đầu khai phá châu thổ Bắc Bộ. Chúng ta biết rằng lúc đầu, đồ sắt chưa được tốt nên khi Ngài đi đánh giặc mà thực chất là người Việt tiến xuống châu thổ thấp thì công cụ đồ sắt còn nhiều tạp chất nên đã hội tụ ở chỗ “Gậy sắt của Đức Thánh bị gãy”. Đó là một điều nên hiểu Đức Thánh Phù Đổng Thiên Vương là một sự thần thoại hoá hay huyền thoại hoá sức mạnh của dân tộc ta trên bước đường khai phá đất nước. Đây là một dấu ấn vị trí tiếp giáp giữa châu thổ cao với châu thổ thấp để nói lên bước phát triển của dân tộc... 

Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng huyền thoại được xây dựng trên cả một chuỗi liên tục như thế thì Đức Thánh Phù Đổng Thiên Vương cũng đã được hội tụ ở trong Ngài những yếu tố cả trước lẫn sau. Cái yếu tố trước là gì? Ngài là con của một bà mẹ đồng trinh. Bà mẹ này có thể coi như một bà mẹ đất nhưng dựng cái quá khứ dậy để tiến vào tương lai được thể hiện rất rõ ở đây. Bà mẹ đồng trinh ấy dẫm vào vết chân của Người Khổng Lồ sinh ra ngài. Đó là hiện tượng “Thiên nhân hợp khí”. Bởi vì trong quan niệm của người xưa thì Người Khổng Lồ tức là một thần linh ở tầng trên hoặc là cái vết chân của Người Khổng Lồ như chúng ta đã biết, loài người đã đi qua hai thế hệ. Thế hệ trước là Người Khổng Lồ rất ngờ nghệch đã bị trận đại hồng thuỷ quét sạch đi và để lại những vết chân rất nhiều trên trái đất này. Như chúng ta biết, di duệ của Ngài ví như Đức thánh Chèm (Lý Ông Trọng) cũng là một thần chống lụt và rất nhiều hồ nước để chống hạn cũng được hoá thân của những vết chân Người Khổng Lồ. Vấn đề dựng Người Khổng Lồ dậy để xây dựng tương lai thì đó là nhu cầu của mọi thời và đó là bài học cho cả chúng ta hiện nay. Bởi không một kẻ nào muốn bước vào tương lai mà không nhìn quá khứ. Trong thời kỳ này chúng ta dựng dậy để tiếp bước xuống phía dưới. Bằng hình tượng bà mẹ dẫm chân vào vết chân của Người Khổng Lồ là dựng lịch sử dậy. Ở đây chúng ta còn thấy một đặc điểm khác nữa trong lễ hội. Lễ hội có rất nhiều tục lệ đi theo nhưng đáng quan tâm trong lễ hội này là ở chỗ con ngựa trắng và ông hiệu cờ là quan trọng nhất. Khi chúng ta thấy có 28 thiếu nữ tượng trưng cho tướng giặc, thực chất tượng trưng cho tinh tú. Mà sử dụng những cô bé còn ngây thơ là biểu hiện hồn nhiên như bầu trời. Người Việt lấy thờ Mẫu làm trọng thì sự ngây thơ ấy cũng xuất phát từ nữ giới. Đó là một ý kiến. Song, ý kiến này đáng được tin theo, ý kiến khác là người ta đi rước vào giữa trưa và rước ngựa trắng đi và chỉ ngựa trắng thôi. Ngựa trắng là “Bạch Mã” tượng trưng cho sức mạnh linh khí của trời và tượng trưng cho phương Đông, cho mặt trời cho nên khi rước, người ta cầu cho có được sinh khí tràn về cho trần gian, cho muôn loài sinh sôi. Và, trong tục lệ của người dân ở đây, nhiều người tin rằng khi rước ngựa trắng ra thì trời bao giờ cũng nổi gió. Có nghĩa là trời ứng vận vào người “Thiên nhân hợp khí” mà tạo cho khí thiêng của trời tràn về trần gian. Và, khi rước về thì sinh khí đó nó hội tụ vào lá cờ đỏ. Lá cờ đỏ là của ông hiệu cờ. Mầu đỏ là mầu của sinh khí, mầu của bầu trời – mầu của sức sống trường miên. Mầu đó gắn với thần linh. Cái mầu ấy có tràn về thì muôn loài mới phát sinh phát triển được. Cho nên vai trò của ông hiệu cờ là rất quan trọng. Múa cờ đỏ là nói là nói nên cái vận động sinh khí của bầu trời. Trong vận động sinh khí ấy, ông hiệu cờ đạp lên ba cái bát – tượng trưng cho “Tam sơn”. Thông qua “Tam sơn” mà sinh khí tràn xuống đất và nước. Chỉ có thế thì sức sống mới được phát triển và cái ước vọng qua ngày hội mới trở thành ước vọng được mùa, ước vọng của phồn thực, ước vọng của sự no đủ. Và, chính qua nhận thức của người xưa đối với Phù Đổng Thiên Vương – một uy lực siêu phàm như vậy thì người xưa đã quan tâm đến nơi thờ của Ngài. Nơi thờ là đền Phù Đổng Thiên Vương, ngôi đền này còn để lại rất nhiều dấu ấn mà chúng ta cần phải trân trọng. Khi nghệ thuật của người Việt trở lại với dân gian vào thế kỷ XVI. Chính ngay vào thế kỷ XVI này, những viên gạch rồng và hoa thể hiện rất rõ ở đền Phù Đổng. Sau đó đền được tu bổ khang trang với sự đóng góp của nhân dân và các ông quận nên đẹp đẽ hơn.

Chúng ta hãy điểm qua những di tích ở Phù Đổng có liên quan đến truyền thuyết Thánh Gióng.

Đền Thượng: Đền thờ Thánh Gióng. Theo truyền thuyết, đền đã có từ thời Hùng Vương và được dựng trên nền nhà cũ của mẹ Gióng. Đến cuối thế kỷ XI, Lý Thái Tổ cho tu bổ thêm và ra lệnh tổ chức hội Gióng. Đền sát đê, được bố cục theo hình chữ “công”, quy mô rộng rãi.

Trước sân, ngay sát chân đê có ao rộng, có tên ao rối, nơi hàng năm có tổ chức múa rối nước vào ngày hội. Trong ao, dưới bóng cây đa cổ thụ cành lá sum suê, là ngôi thuỷ đình xinh xắn. Thuỷ đình được dựng theo kiểu “mái chồng” từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) với nhiều bức chạm tinh vi trên gỗ, mà đề tài là những cảnh sinh hoạt dân gian: người chăn dê, người thổi ống xì đồng... Thuỷ đình mang nhiều yếu tố dịch học, trên đó những mảng chạm nói lên những ước vọng của dân chúng. Cụ thể là người xưa quan niệm: “Phi trí bất hưng, phi thương bất phú, phi công bất hoạt, phi nông bất ổn” thì các cụ đã lấy trí làm đầu. Mà trên đó có hai mảng chạm, một mảng chạm đề rất rõ là:

“Quân tử trúc tố tâm phùng mỹ lộc
Trượng phu tùng ngưỡng diện xạ phượng hoàng”

Đó là hai hình ảnh có đề rõ rệt để nói nên người quân tử lấy cái trí thức làm đầu, nếu không có trí thì con người đi vào ngu tối mà sự vô minh, ngu tối thì đồng nghĩa với mầm mống của tội ác. Thông qua đó thấy rằng, người xưa dậy phải lấy cái trí tuệ làm đầu, nhờ có trí tuệ mà đi vào thiện tâm.

Qua sân gạch đến Nghi môn khá cao mới được xây vào cuối thế kỷ XIX. Phía trước có đôi rồng đá nét chạm hơi thô nhưng rất khoẻ, bên dưới có dòng chữ khắc cho biết niên đại tạo tác của rồng vào năm ất dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh, tức năm 1705 dưới triều vua Lê Dụ Tông. Phía sau có đôi sư tử đá cũng làm vào năm đó.

Tiếp đến là nhà Thiêu hương (đốt hương), cấu tạo giống Thuỷ đình nhưng nhỏ hơn, lợp bằng ngói kích tấc khá lớn (20 cm x 30 cm). Liền nhà Thiêu hương là hai nhà tiền tế khá rộng. Nhà ngoài do Điền Quận công Nguyễn Huy (1610 - 1675), người làng Phù Dực, cạnh xã Phù Đổng đứng ra xây dựng. Nhà bên trong do Đặng Công Chất, người chính làng Phù Đổng, đỗ trạng nguyên năm 1661, đứng ra hưng công. Đáng chú ý ở đây là 39 viên gạch với kích tấc 30 x 20 x 10 (cm), mỗi viên đều chạm khắc hình rồng. Những viên gạch này được lát ở bậc thềm vào cung. Hai ngôi nhà ba gian phía đông do Đặng Thị Huệ chính công của chúa Trịnh Sâm (thế kỷ XVIII) cung tiến.

Trong Hậu cung 12 gian có tượng Thánh Gióng cao 3m, hai bên có sáu tượng quan văn, quan võ, hai phỗng quỳ và bốn viên hầu cận “ tứ trấn”.

Kiến trúc đền không có gì đặc biệt, nhưng đáng chú ý là những đầu bẩy còn lưu lại được những mảng chạm vào thời Hậu Lê.

Đền còn lưu được cả thảy 21 đạo sắc phong, gồm: đời Lê 12 đạo, đời Tây Sơn 3 đạo, đời Nguyễn 6 đạo. Cũ nhất là sắc phong Đức Long năm thứ 5 (1634).

Trong Đền, còn nhiều hiện vật có giá trị: chiếc ngai thờ từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) chạm trổ tinh vi; đôi chim mang nghệ thuật Trung Hoa do Đặng Thị Huệ cung tiến; Bình hương, nghê đồng, hai thanh kiếm, câu đối do anh em thi hào Nguyễn Du cung tiến năm 1818. Bên cạnh đền có một bia đá rất đẹp, cũng là một hiện vật hiếm thấy tại các ngôi đền khác ở nước ta.

Đền Hạ: đền nằm ngoài đê, ở phía đông đền Thượng. đền là nơi thờ mẹ Thánh Gióng, cũng gọi là Thánh Mẫu. Trước kia, Thánh Mẫu được thờ chung với Thánh Gióng ở đền Thượng. Đến năm Chính Hoà thứ 4 (1683), Thánh Mẫu mới thờ ở đền riêng tại thôn Ngô Xá. Mười năm sau đền lại được thiên về gần chùa Giếng (chùa Tập Phúc), tại chỗ hiện nay. Đền hiện còn lưu giữ được một số hiện vật có giá trị: đôi phỗng đá, một bộ dài bạc, hai bình hương đá...

Miếu Ban: ở phía tây đền Thượng, trong xóm Ban, tên chữ là Dục Linh Từ. Miếu thờ Thánh Mẫu. Tương truyền đây là nơi Gióng ra đời, do đó còn có tên là “Trài Nòn”. Miếu lợp ngói cổ hình mũi hài. Sau Miếu là giếng Bát Nhũ trì (ao tám vú), giữa giếng nổi lên một gò đất con xinh xắn. Tương truyền rằng, Thánh Gióng ra đời trên sập hiện đặt ở đảo này, sau đó được tắm trong chậu đá cũng đặt ở đây. Ngoài ra, còn có một liềm đá mà người ta đã xem là dao cắt rốn cho Thánh Gióng, nhưng liềm hiện nay không còn nữa.

Cố viên: Theo truyền thuyết, cố viên (vườn xưa), cũng gọi là “vườn rau”, là nơi mẹ Gióng đến hái rau rồi ướm chân mình vào chân người Khổng Lồ, do đó mà mang thai sinh ra Gióng. ở đây có một nhà nhỏ gọi là “cây hương”, bên cạnh là hòn đá lớn hình thù đặc biệt với nhiều nét lồi lõm được xem là dấu chân của Người Khổng Lồ. Còn một tấm bia mang dòng chữ “Đổng viên Thánh Mẫu cố trạch” (Nhà xưa của Thánh Mẫu trong vườn Đổng).

Giá Ngự: ở đây có hai cột trụ và một bệ xây vào đầu thế kỷ XX. Vào ngày hội Đền, dân làng kéo ngựa thờ, gọi là ông giá, từ đền Thượng đến đây trông ra khu soi bia cạnh Đền Hạ nơi điệu múa cờ được biểu diễn.

Mộ Trần Đô Thống: Mộ ở xóm Vận Hang, trước đền Thượng. Tục truyền Đô Thống là một tướng của Thánh Gióng, người Phù Dực cầm đạo tiên phong trong đoàn quân chống giặc Ân. Mộ được xây bằng gạch giữa một khu rộng ngoài bãi sông.

Hàng năm, từ mồng 6 đến mồng 2 tháng 4 âm lịch, dân địa phương lại tổ chức hội Gióng, ngày lễ chính là ngày mồng 9. Trước ngày này, dân làng đã tổ chức nhiều trò chơi: Vật, chọi gà, đánh cờ, hát, đặc biệt là hát ải lao – một tục rất cổ. Trong ngày lễ lớn vui nhất là trò diễn trận, rước kiệu, múa cờ, chia phe diễn lại sự tích Thánh Gióng đánh giặc Ân.

Nhân vật anh hùng Gióng đã trở thành biểu tượng của sức mạnh và lòng yêu nước Việt Nam. Hội Gióng là một đỉnh cao của sinh hoạt văn hoá cổ truyền Việt nam. Vì thế, người Việt nam xưa và nay vẫn nhắc nhau lời răn:

“Ai ơi mồng chín tháng tư,
Không đi hội Gióng cũng hư mất đời’’

Không chỉ là Làng Phù Đổng. Trong khu vực Đền Hùng ở Vĩnh Phúc, có Đền Thượng, tức “Cửu trùng tiền điện” được dành để thờ Thánh Gióng. Làng Vệ Linh ở huyện Sóc Sơn phía bắc thủ đô Hà Nội, nơi tương truyền Gióng đã trút giáp để cưỡi ngựa về trời, cũng có đền thờ, Gióng được nhà nước quân chủ tặng danh hiệu lớn: “Xung thiên Thần vương ”


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp