• Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP...

    Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 …

  • Pic Mgmt

    VĂN MINH CỔ & NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Có lẽ, phát biểu rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của văn hóa chắc không quá đáng: bởi vì một khuynh hướng chung hiện nay là các quốc gia trên thế giới đang (hay sắp) qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa, mà không dựa trên ý thức hệ (như Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản trong thời gian qua). Trong thế kỷ 21, người ta sẽ hỏi "Anh là ai", thay vì "Anh thuộc phe nào" trong thế kỷ vừa qua. Tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ ý thức hệ sang văn hóa...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

  • Pic Mgmt

    ...TUYỆT CHIÊU NGẢI CỨU

    Những năm về trước, vùng đất Ba Chẽ (Quảng Ninh) có nhiều người Hoa sinh sống. Họ có những bài thuốc chữa bệnh cứu người rất kỳ lạ. Trong quá trình chung sống trong cộng đồng, người Kinh đã học hỏi và làm chủ được những bài thuốc đó. Bởi thế, cứ đời này truyền qua đời khác những lương y truyền nghề cho con cháu để chữa bệnh, cứu người...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG THAY ĐỔI MỚI VỀ CÁCH NHÌN NHẬN LỊCH SỬ VN !

    Ngày 22/2/2017 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” do GS.NGND Phan Huy Lê - chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trình bày...

  • Pic Mgmt

    KHẢO SÁT DÒNG HỌ LÝ TỪ KHỞI NGUỒN ĐẾN LÝ CÔNG UẨN

    Họ Lý được coi như một trong số ít dòng họ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Bằng chứng khảo cổ đã phát hiện được từ thế kỷ 2 sau CN, họ Lý đúc gương đồng (Lý thị tác kính).

  • Pic Mgmt

    ĐẮP VOI

    CBN: Bài thơ này là một trong những giai thoại còn truyền tụng mãi đến nay - để ca ngợi tính cách "ngang tàng" của Cao Bá Quát. Đó chính là khí phách của người "quân tử", hiểu theo nghĩa của xã hội đương thới và đó cũng chính là cái "chất" của sĩ phu bắc hà.

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI TRẤN YỂM SÔNG TÔ LỊCH

    Có thể nói nhân loại đang sống trong thời kỳ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, giúp nâng tầm tri thức và thay đổi chất lượng cuộc sống từng ngày. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều những hiện tượng kỳ bí tồn tại xung quanh chúng ta mà khoa học chưa thể nào giải thích được, khiến con người phải bối rối khi tìm câu trả lời...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ "TINH HOA VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI"

    Ở giải Văn hóa Phan Châu Trinh, ban tổ chức đã vinh danh những cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực thuộc bốn hạng mục: “Dịch thuật” (trao cho dịch giả Đào Hữu Dũng), “Vì sự nghiệp Văn hoá và Giáo dục” (trao cho giáo sư Pierre Darriulat và giáo sư Trịnh Xuân Thuận), “Nghiên cứu” (trao cho giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh), “Việt Nam học” (trao cho giáo sư Peter Zinoman)...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ THÀNH CÔNG BỘ GENE NGƯỜI ĐÀN ÔNG 45.000 NĂM TUỔI

    ...Các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu xương từ một chiếc xương đùi được tìm thấy vào năm 2008 trên bờ sông Irtysh, gần khu định cư Ust'-Ishim, Siberia. Họ đã dùng collagen lấy từ xương để xác định tuổi và các mẫu DNA để xác định trình tự bộ gene của người đàn ông này. Khi có được chuỗi trình tự đầy đủ, họ đã có thể so sánh nó với bộ gene của con người hiện đại và tìm các thiếu sót đột biến trong bộ gene của người đàn ông Ust'-Ishim...

  • Pic Mgmt

    KỲ TÀI NGƯỜI CHỮA KHỎI BỆNH VÔ SINH...

    Cô Quách Thị Huệ ở thôn Xuân Phong xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa) nổi tiếng khắp vùng quê với những bài thuốc gia truyền hay trị hiếm muộn, bệnh gút, xương khớp. Đến xã Hải Vân hỏi thăm cô Huệ thuốc nam, từ đứa trẻ đến người già đều nhiệt tình chỉ dẫn. Cô Huệ trước là Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Hải Vân. Từ lúc mới vài tuổi, cô đã theo bà, theo mẹ lên rừng tìm cây thuốc. Năm 1991, khi mẹ đẻ của cô bị tai nạn ốm yếu, cô bắt đầu thay mẹ đảm nhận việc bốc thuốc gia truyền...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ THẬT VIỆT TỘC

    Trong vòng 5000 năm lịch sử con cháu Việt tộc đã và đang được đọc những dòng cổ sử do các sử gia ngoại bang viết lại, và tiếc thay vài sử gia Việt vô tình truyền lại một số sai lạc vì thiếu nghiên cứu, phân tách khách quan và phán xét một cách có phương pháp khoa học...

  • Pic Mgmt

    CHÙA VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

    Tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là một mặt của văn hóa. Văn hóa còn bao gồm nhiều mặt khác. Nhưng ngôi chùa cũng không phải chỉ biểu hiện cho tín ngưỡng. Ngôi chùa phản ánh nhiều mặt khác của văn hóa...

  • Pic Mgmt

    Ả ĐÀO - NSND QUÁCH THỊ HỒ

    NSND Quách Thị Hồ (1913-2001) quê ở làng Ngọc Bộ, tỉnh Bắc Ninh.Sống và mất tại Hà Nội. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, bà đã được nuôi dưỡng bằng nghệ thuật Ả đào. Lên 6 tuổi, bà đã bắt đầu học đàn, học hát, học gõ phách, 9 tuổi học múa, 11 tuổi theo mẹ đi hát. Năm 1976, tiếng hát của bà được GS.TS. Trần Văn Khê ghi âm và giới thiệu ra thế giới. Năm 1978, bà chính thức được Hội đồng Âm nhạc quốc tế của Unesco và Viện nghiên cứu quốc tế về Âm nhạc trao bằng danh dự vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị văn hóa, nghệ thuật cao. Năm 1988, băng ghi âm tiếng hát của NSND Quách Thị Hồ đã được xếp hạng cao nhất tại Liên hoan Âm nhạc quốc tế tại Bình Nhưỡng (Triều Tiên) với sự tham gia của 29 quốc gia...

  • Pic Mgmt

    NGHI ÁN THÁI SƯ HÓA HỔ & 30 ĐẠO SẮC MINH OAN

    Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử. Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay)...

Chi tiết

NẠN ĐÓI LỊCH SỬ NĂM ẤT DẬU

Đăng lúc: 2015-01-13 07:05:47 - Đã xem: 4688

Trong ký ức người Việt Nam, "nạn đói năm Ất Dậu" vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945.

Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.

12-9406-1420769930.jpg
Sống ngắc ngoải trong nạn đói 1945. Ảnh tư liệu.

Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng loạt chính sách đánh vào nền kinh tế: buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc, hạn chế chuyên chở tự do, chỉ cho chở dưới 50 cân gạo trong một tỉnh; bắt người dân nhổ lúa trồng đay, dành ruộng trồng lạc.

Trong khi Nhật vơ vét cho chiến tranh thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới,phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Thuế đinh, thuế điền, tô tức trở thành những chiếc thòng lọng buộc vào cổ nông dân.

Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và chính quyền phong kiến vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh phát xít và làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, dùng đốt lò thay cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha.

Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt.Năm 1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40 đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng còn giá chợ đen từ 700-800 đồng. Giá gạo "phi nước đại" khiến người dân không đủ sức mua, phải chịu cảnh chết đói.

Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn.Theo những người dân trải qua nạn đói khủng khiếp ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị "rù" (rầy phá hoại), chết trắng, chết vàng. Cả mẫu ruộng không thu nổi vài chục cân thóc mẩy.

3-2745-1420769931.jpg
Trại Giáp Bát, Hà Nội, nơi tập trung những nạn nhân đói năm 1945. Ảnh tư liệu.

Nạn đói đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông, có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Cái đói không buông tha ai, trọng tâm là những người dân nghèo, người lao động, đặc biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất.

Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật, thậm chí ăn cả xác người mới chết. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.

Tháng 3/1945, nạn đói lên đến đỉnh điểm. Lũ lượt người ngược, kẻ xuôi chạy đói đến các thành phố lớn, họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường. Người dân Hà Nội khi ấy đã phát động Ngày cứu đói, lập trại tế bần phát cháo. Người sắp chết thì được đưa về trại Giáp Bát, còn người chết đói thì xác chất đầy xe bò đem đi "hất xuống hố như hất rác" tại nghĩa trang Hợp Thiện (Hai Bà Trưng).

Mục sư Lê Văn Thái, nguyên Hội trưởng Hội thánh Tin lành Việt Nam thời kỳ 1942-1960 viết lại: "Tôi thường nghe tiếng rên xiết của những người sắp chết, thấy những đống thịt quằn quại gần những xác chết, nơi này 5-3 xác chết, chỗ khác từng đống người sống nằm lẫn với người chết. Trên những đoàn xe bò đầy những xác chết, mỗi xe chỉ phủ một chiếc chiếu, trong những cái hầm mấy trăm xác chết mới lấp một lần. Một vài lá cải thối trong đống rác, một vài hột cơm đổ bên cạnh vò nước gạo thì họ kéo nhau từng lũ đến tranh cướp".

"Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người nấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc, giơ xương ra và run rẩy. Ngay cả đến những thiếu nữ tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó", tác giả Vespy viết trong một bức thư vào tháng 4/1945.

Giữa lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm thì ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Mặt trận Việt Minh phát động nhân dân phá hàng trăm kho thóc của Nhật để cứu đói. Phong trào diễn ra sôi nổi khắp nơi khiến nạn đói phần nào được đẩy lui. Nông dân bắt đầu trở về quê tiếp tục sản xuất. Đến vụ chiêm (tháng 6) có gạo mới, mức sống thay đổi đột ngột lại khiến nhiều người chết vì ăn quá no. Môi trường bị ô nhiễm nặng bởi xác chết không được xử lý và trải qua cơn đói lâu dài kéo theo dịch tả và dịch sốt vàng da lại giết thêm nhiều người ở Bắc Giang, Cao Bằng.

Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai.. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: "Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân".

16-5855-1420769931.jpg
Một điểm chôn tập thể người bị chết đói, đổ xác đến đâu lấp đất đến đấy. Ảnh tư liệu.

Tháng 5/1945, bảy tháng sau khi nạn đói bùng nổ tại miền Bắc, tòa khâm sai tại Hà Nội lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói và chết bệnh là 400.000, chỉ tính miền Bắc. Số liệu nghiên cứu trong cuốn Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử của GS Văn Tạo thống kê: "Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực".

So sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của các cuộc chiến tranh Pháp - Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nạn đói nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chết một triệu người, nước Đức chết chừng 3 triệu. Thế mà nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ, ta đã chết hơn 2 triệu người".

70 năm trôi qua, những chứng tích lịch sử về nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài những nấm mồ tập thể sâu dưới lòng đất lạnh. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm, mỗi lần nhắc đến chỉ biết rưng rưng nước mắt.

Hoàng Phương


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp