• Pic Mgmt

    VĂN CHỈ HOẰNG HÓA: CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ TÔN TẠO

    Nằm trong cụm Di tích lịch sử Bảng Môn Đình, Văn chỉ Hoằng Hóa gắn liền với truyền thống trọng đạo học của miền quê xứ Thanh hiện đang bị xâm phạm...

  • Pic Mgmt

    CÁC VĨ NHÂN TUỔI THÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

    Năm 2016 là năm Bính Thân. Vậy những người tuổi Thân như thế nào? Lịch sử Việt Nam ghi nhận rất nhiều bậc vĩ nhân tuổi thân trong đó có cả Nguyễn Trãi (sinh năm Canh Thân – 1380). Nào chúng ta cùng tìm hiểu họ là những ai?...

  • Pic Mgmt

    PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG - DI TÍCH VÀ HUYỀN THOẠI

    ...Theo truyền thuyết, Phù Đổng là nơi sinh ra Thánh Gióng. Mẹ Gióng ướm bước chân thần ở vườn cà mà sinh ra. Thời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân xâm lược nước ta, Gióng lên ba, thoắt nói, thoắt cười, thưa mẹ đòi sứ giả vào, xin nhà Vua sắm cho ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt. Vua Hùng cho người mang đến...

  • Pic Mgmt

    CHÙA SỦI TỔ CHỨC KHÓA TU "TRÁI TIM TỪ BI" DÀNH CHO GIỚI TRẺ

    Ngày mùng 07 tháng 12 năm 2013 tức ngày 05/11 Quý Tỵ. Quý Thầy chùa Sủi – Đại Dương Sùng Phúc Tự, thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội tổ chức khóa tu “Trái tim từ bi” dành cho các bạn trẻ. Hòa Thượng Thích Thanh Từ từng dạy: "Tuổi trẻ các bạn thanh niên phần nhiều tâm hồn sôi nổi bồng bột, thiếu đức bình tĩnh, thiếu chí kiên nhẫn, các bạn cần phải siêng đi chùa hơn hết mới phải. Vì khung cảnh tịch tịnh của nhà chùa sẽ giúp các bạn mát dịu phần nào nhiệt khí, thấy gương nhẫn nại hy sinh của Phật, các bạn sẽ tăng thêm phần kiên chí...

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN, THÀNH HOÀNG

    Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng là tín ngưỡng dân gian của người Việt rất phổ biến ở Nam Định. Trừ những làng, những giáp theo đạo Thiên Chúa, theo thống kê đầu tiên vào năm 1937, tại 807 làng xã trên địa bàn Nam Định thờ 2140 vị thần với đủ các loại danh hiệu, tên gọi (tính bình quân mỗi làng xã thờ 2,65 vị thần, cao hơn một chút so với con số bình quân của cả vùng châu thổ: 2,57)...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ CAO HỮU Ở ĐIỀN HẢI, PHONG ĐIỀN, THỪA THIÊN-HUẾ

    CAO BÁ NGHIỆP: Anh Cao Hữu Điền đang nghỉ dưỡng bệnh ở Huế có gửi thư trao đổi với tôi về thông tin của chi họ Cao Hữu (xã Diện hải, huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế). Tôi được biết, ở Phong Điền có một số chi họ Cao như Cao Chánh, Cao Hữu, Cao Văn, Cao Huy... nhưng đều có nguồn gốc từ Thanh Hóa....Tôi xin giới thiệu nội dung bài viết của ông Cao Hữu Nhu để bà con cô bác cùng tham khảo và kết nối thông tin VỀ NGUỒN GỐC HỌ CAO, nếu có thể...

  • Pic Mgmt

    NNC VŨ HIỆP BÁO CÁO CHUYẾN DU KHẢO VỀ HỌ VŨ

    Đầu tháng năm vừa qua, ông Vũ Huy Thuận và tôi đề xướng được tổ chức đi một chuyến xuyên Việt từ Nam ra Bắc để du khảo (bằng xe hơi bốn chỗ) đến một số làng xã có dòng họ Vũ – Võ nổi tiếng ở một số tỉnh phía Bắc như: Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Việt Trì, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Nghệ Tĩnh...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LƯƠNG CHỮ & VĂN HÓA LẠC VIỆT

    Địa điểm khảo cổ Lương Chữ (Liangzhu) gần Hàng Châu – Chiết Giang, được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới, 3000 – 2000 năm trước công nguyên, nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp, với những hình thao thiết (taotie) độc đáo, phạm vi phân bố nền văn hóa rất rộng, từ Trường Giang đổ xuống đến biển Đông, kể từ khi khai quật lần đầu vào năm 1936, dần về sau phạm vi mang dấu ấn văn hóa Lương Chữ ngày 1 rộng thêm...

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO

    ...Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH TRÀ CỔ - QUẢNG NINH

    Nằm ở địa đầu Tổ quốc, giáp ranh với Trung Quốc, từ ngàn đời nay Đình Trà Cổ vẫn uy nghiêm mang đậm bản sắc Việt. Đặc biệt trong đình có hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng như cột mốc chủ quyền văn hóa Việt từ ngàn năm qua...

  • Pic Mgmt

    GIA PHỔ TỰ

    Tháng 4 năm 2010, khi về thăm nhà thờ tổ họ Cao ở Diễn Châu, Nghệ An chúng tôi đã được một vị trong Ban đại diện Hội Đồng Gia Tộc Cao Đại Tôn cho mượn để photocopy lại. Bản chép tay GIA PHỔ TỰ này gồm 199 trang, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau nên không tránh khỏi một số mặt hạn chế và sai sót do thiếu thông tin chính xác... Tuy nhiên, đây là công sức rất đáng trân trọng của Ban điều hành gia tộc Cao Đại Tôn...

  • Pic Mgmt

    BẾ MẠC LIÊN HOAN CA TRÙ TOÀN QUỐC 2014

    Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2014 có sự góp mặt của 26 Câu lạc bộ thuộc 12 tỉnh, thành phố, tham gia biểu diễn hơn 100 tiết mục được đầu tư bài bản, thể hiện 3 xu hướng chính: sự trao truyền biểu diễn cho lớp trẻ; khôi phục vốn cổ; phóng tác nhằm mục đích làm phong phú hơn nghệ thuật hát Ca trù...

  • Pic Mgmt

    LỜI HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG CỦA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 10/12/2010, tôi có dịp cùng đi với bạn Ngô Thế Long đến thăm ông Phan Văn Dốp - Giám đốc Thư Viện Khoa Học Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, tôi đã tìm thấy toàn văn bản dịch HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG của Cao Bá Quát được đăng trong KỶ YẾU THÔNG TIN UNESCO VIETNAM, số 7 tháng 12 năm 1964 (Chủ nhiệm kiêm chủ bút: NGUYỄN ĐÌNH HÒA. Thư ký kiêm quản lý: NGUYỄN QUỲNH)...

  • Pic Mgmt

    CÂU KIỀU TẶNG TỔNG THỐNG OBAMA

    Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Obama và bài phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong dư luận truyền thông quốc tế cũng như trong lòng người dân Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI VẼ TRANH NGỰA NHIỀU NHẤT VIỆT NAM

    Giới họa sĩ nước ta vẫn gọi Lê Trí Dũng là một ông chủ trang trại ngựa giấy. Nửa thế kỷ lại nay, nhìn đi ngoảnh lại hầu như chẳng có ai hơn ông về tài vẽ ngựa. Họa sĩ Thành Chương từng mang tranh ngựa của Lê Trí Dũng để so sánh với “vua vẽ ngựa” người Trung Quốc Từ Bi Hồng...

Chi tiết

CHỮ VIỆT CỔ (KHOA ĐẨU TỰ)

Đăng lúc: 2016-03-23 22:31:42 - Đã xem: 6679

Một sổ khu vực phát hiện dấu tích chữ Khoa đẩu

Vào năm 1903, Tổng đốc Thanh Hóa lúc ấy là Vương Duy Trinh công bố việc tìm ra một văn bản viết bằng thứ chữ lạ, trông như những ngọn lửa vờn cháy mà ông gọi là chữ Hỏa tự. Dựa vào những chữ Hán ghi chú bên cạnh ông dịch được nội dung, thì ra đây là một bài thơ có tựa đề “Mời trầu” có nội dung ca ngợi tình yêu.

Vương Duy Trinh cho rằng, đây chắc chắn là chữ của tổ tiên ta từ thời các vua Hùng nay vẫn còn truyền lại và lưu hành trong một bộ phận nhỏ xã hội. Theo nghiên cứu của Ông thì:  ”Thập châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ này”.

Cách đây hơn một thế kỷ, Phạm Thận Duật, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, trong thời gian làm Tri châu ở Tây bắc (khoảng năm 1855) đã phát hiện nhiều bộ chữ mà Ông cho là chữ Thái thổ tự, trong đó có một bộ chữ cái có kèm ghi chú chữ Hán. Theo mô tả của Ông, thứ chữ này được viết theo chiều ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần trắc. Còn ở Châu Mai Sơn, Châu Minh Biên có bộ chữ gồm 17 thể chữ cái theo vần bằng, 15 thể chữ cái theo vần trắc. Ngoài ra còn 11 chữ và nét phụ ở 04 bên mà Ông gọi là “tứ bàng phụ họa, sử dụng 03 thể chữ cái đảo lên, lộn xuống, ghép lại với nhau thành từ, thì đều có thể thông với văn tự Trung châu” (tức là có thể chuyển ngữ cho chữ Hán).

Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở nhiều miền trong cả nước, ông sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là:

– Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không ?

– Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của ký tự đó không ?

– Có giải quyết được các “nghi án” về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm)

Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ La Tinh của phương Tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí. Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông mới tìm ra quy luật – Quy luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được quy luật ghép vần , người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. Nhóm nghiên cứu đang đang tập trung nghiên cứu để một ngày gần đây chứng minh giả thiết cho rằng, những nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La Tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ. Chính trong cuốn “Từ điển Việt Bồ La”, Alexandre de Rodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, anh ta đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo thầy Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ !

Nguồn: Lý Học Đông Phương

*********

Đọc thêm >>>>>

CHỮ VIẾT KHOA ĐẨU DUY NHẤT TRÊN ĐÁ CỔ SA PA

Trần Vân Hạc

Sau nhiều năm khảo sát, nghiên cứu những hình vẽ, chữ viết trên đã cổ Sa Pa, giáo sư Lê Trọng Khánh, chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về chữ Việt cổ đã công bố những kết luận được dư luận trong và ngoài nước rất quan tâm. Người viết bài này đã có buổi làm việc với giáo sư tại Trung tâm Văn hóa người cao tuổi Việt Nam:

– Thưa giáo sư, xin giáo sư cho biết những căn cứ để hiểu ý nghĩa chữ viết trên tảng đá cổ ở Sa Pa.

(Xin bấm vào trang giấy lớn để nhìn rõ mặt chữ)

– Trên 200 bản khắc trên đá cổ Sa Pa (190 tảng còn lại, gần 20 tảng bị phá), tôi thấy chủ yếu là chữ viết đồ họa thuộc tiền văn tự, duy nhất chỉ một tảng ở Tả Van là có chữ. Đây là loại hình chữ “khoa đẩu”, các ký tự này đồng nhất với các ký tự trên đồ đồng Đông Sơn và đặc biệt giống chữ khắc trên rìu đồng Bắc Ninh, đồng nhất với chữ viết của người Thái đen Tây Bắc. Điều đó cho phép ta giải mã và hiểu được những ký tự trên đá cổ Sa Pa.

– Thưa giáo sư, như trong một bài viết giáo sư từng công bố, thì trên một số các hình đồ họa trên đá cố Sa Pa, mô tả cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của tổ tiên ta?

– Đúng như thế, những chữ viết hình vẽ trên đá cổ Sa Pa đã phản ánh cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông ta. Tôi khẳng định như vậy, vì những chữ viết hình vẽ này, đã vượt qua giai đoạn vẽ hiện thực nguyên thủy và đã tiến tới chữ biểu ý đầu tiên. Vì vậy, có thể coi đây là loại hình chữ viết biểu ý, có thể đọc được. Nhất là khi ta đặt trong một hệ thống phát triển, từ thấp đến cao, qua những hiện vật khảo cổ, thuộc văn hóa Đông Sơn, như lưỡi cày hình cánh bướm, rìu cân xòe, rìu Bắc Ninh, trống dồng Lũng Cú, trên những viên gạch nung ở Cổ Loa… Theo quan điểm của văn tự học hiện đại qui định, thì chữ viết hình vẽ – văn tự đồ họa Sa Pa, truyền đạt cả ý cả câu – chữ viết ghi câu. Như vậy, ta có thể giải mã được ý nghĩa chữ viết, trên đá cổ Sa Pa một cách khoa học, và có sức thuyết phục cao.

– Xin giáo sư cho biết, ý nghĩa cụ thể, của chữ viết trên tảng đá cổ, có chữ viết duy nhất ở Tả Van.

– Toàn bộ có trên 30 chữ, một số chữ bị mất hoàn toàn, đặc biệt là mất gần hết các dấu ở vị trí trên và dưới chữ, điều đó làm cho việc giải mã gặp rất nhiều khó khăn, trong khi ta chưa có điều kiện kỹ thuật, để phục hồi những chữ đã mất. Song bằng những gì còn lại, tôi thấy nội dung cơ bản của bản khắc đó nói về: “Công lao của tổ tiên đã xây dựng đất nước. Muôn đời sau, con cháu phải bảo vệ lấy non sông của mình”.

Trầm ngâm giây lát, nhìn ra phía trời xa, trong ánh mắt của vị giáo sư đã bước vào tuổi 85, như ngời lên ánh lửa:

– Dân tộc ta, ngay từ buổi đầu dựng nước, đã luôn phải đấu tranh với quân xâm lược phương bắc, bởi vậy, khi ta hiểu di huấn của tổ tiên, ta càng thấm thía hơn những gì ông cha ta khắc trên đá, gửi lại cho hậu thế. Những tảng đá, những hình vẽ, chữ viết ấy, thấm cả máu của bao thế hệ, chuyên chở khát vọng sống của bao đời.

– Trân trọng cảm ơn giáo sư, kính chúc giáo sư mạnh khỏe !

Ngày 11.6.2009

Trần Vân Hạc

*****

VÀI NÉT VỀ CÔNG TRÌNH CHỮ VIỆT CỔ CỦA GIÁO SƯ LÊ TRỌNG KHÁNH

Trần Vân Hạc

Đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, mỗi người đều tìm cho mình một con đường để đi đến cái đích chung. Với giáo sư Lê Trọng Khánh, là một nhà khoa học, nên giáo sư tìm cho mình con đường rất riêng, đó là: Ngoài thông qua các thư tịch cổ trong và ngoài nước, thì chủ yếu là thông qua những căn cứ khoa học đã được kiểm chứng, trong một hệ thống phát triển từ thấp lên cao, mang tính bản địa đặc thù và nhất quán.

Cụ thể: Từ những đồ gốm, đồ đồng Đông Sơn, đến những văn tự “thắt gút” của người Chăm Hrê ở Nghĩa Bình, những hình đồ họa, chữ khắc trên đá ở Sapa… dần dần phát triển thành ngôn ngữ viết hoàn chỉnh ở bậc cao. Cũng chính vì có phương pháp nghiên cứu có hệ thống và khoa học như vậy, nên cho đến lúc này, giáo sư là người duy nhất chứng minh được sự liên hệ của chữ viết trên đá cổ ở Sa Pa và Đông Sơn, giải mã thành công văn tự trên đá cổ ở Sa Pa, từng gây ra bao cuộc tranh luận làm đau đầu bao giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Thành công này của giáo sư Lê Trọng Khánh, với phương pháp luận không thể phủ nhận, được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá rất cao.

Sự nghiệp nghiên cứu chữ Việt cổ của giáo sư Lê Trọng Khánh có thể chia làm hai giai đoạn: Từ năm 1958 đến năm 1986 và từ 1986 đến nay. Nếu như ở giai đoạn đầu là giai đoạn tìm những chứng cứ và con đường đi, thì ở giai đoạn sau là sự khẳng định phương pháp nghiên cứu một cách khoa học biện chứng. Chính vì vậy ở giai đoạn này, giáo sư có những bước tiến quan trọng, chính xác trong sự nghiệp nghiên cứu của mình.

Giáo sư đã có nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về văn học, đặc biệt về lịch sử: Lực lượng vũ trang thời Hùng Vương, Địa danh ngôn ngữ cổ Việt Nam (được dịch và in trong táp chí Đông nam Á của Pháp)… Ông đặc biệt chú ý đến chữ Việt cổ, vì theo ông: “Chữ viết thể hiện trình độ văn minh của một dân tộc”.

Qua các hiện vật khảo cổ được phát hiện ở nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam, giáo sư có được phát hiện vô cùng quan trọng: “Hệ thống chữ viết ấy, xác định quá trình ra đời có nguồn gốc sâu xa, từ những yếu tố tiền văn tự. Với thời gian dài, tiến triển thành hệ thống chữ viết hình vẽ phát triển cao, được khắc trên đá ở Sa Pa, vào giai đoạn văn hóa đồng thau phát triển – Gò Mun. Trên cơ sở đó, chuyển lên loại hình chữ viết cao hơn. Và cũng chính ngay bản thân hệ thống chữ viết cao đó, cũng có cứ liệu vững chắc, để thấy sự đi lên của nó, từ thấp đến giai đoạn hoàn chỉnh của chữ viết ghi âm Đông Sơn – chữ viết có nguồn gốc riêng, sớm nhất ở Đông Nam Á”. Theo giáo sư: “Sự phát hiện chữ viết, góp phần hiểu sâu hơn văn hóa Đông Sơn. Nền văn minh đó, tất nhiên không giống các nền văn minh cổ khác, đã ra đời ở các dòng sông lớn trên thế giới, như sông Nil, Lưỡng Hà và Ấn Hà” và: “Văn minh Đông Sơn đã tỏa ảnh hưởng ra ngoài và chữ viết của người Việt cổ, làm cơ sở cho các hệ chữ viết còn lại sau này”.

 “Chữ viết của người Việt cổ đã được định hình và phát triển trên địa bàn rất rộng, vào các thế kỷ trước công nguyên. Nó phân bố rộng hơn phạm vi thống trị của Tần – Hán ở các nước phía nam và Đông Nam Á… Thời khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chữ Hán còn rất hạn chế; chữ Việt cổ vẫn là công cụ thông tin và truyền lệnh sắc sảo, góp phần tích cực cho thắng lợi trên phạm vi 65 thành (huyện) – bao gồm Lưỡng – Việt, Hải Nam đến Nhật Nam?”.

Để giải mã được chữ khắc trên đá cổ Sa Pa, giáo sư tìm thấy sợi dây liên hệ “Từ một rìu lưỡi xéo, có khắc hai hình người trên thuyền, hình chó chặn hai con nai. Hình người có tính chất sơ đồ hóa cao, tương tự với chữ viết hình vẽ trên đã Sa Pa. Đây là bằng cứ mối liên hệ nguồn gốc, từ chữ khắc đá, tới chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn. Hình khắc này không nhằm trang trí mà chứa đựng một ý tưởng sâu sắc. Người và thuyền chỉ sự hoạt động sông, biển. Chó và nai là hiện tượng của núi rừng. Những hình khắc này mang tính lưỡng phân:

Sông, biển (nước) – núi, rừng (đất)

Chó – Người

Lưỡng phân có xu thế tất yếu tiến lên lưỡng hợp:

Đất + Nước = Tổ Quốc.

Chó + người phối hợp bao vây nai.

Hình khắc này là một bản chữ viết có nội dung: Vũ khí trong tay chiến binh chống kẻ thù, như hình tượng người và chó bao vây nai”. Theo giáo sư: “Bản viết trên rìu chiến trở thành “điều lệnh chiến đấu”. Điều này từ Đông Sơn, trở thành truyền thống xuyên suốt cuộc hành trình của dân tộc, chống giặc ngoại xâm, biểu hiện thành hai chữ “Sát Thát”, khắc trên tay người chiến binh nhà Trần, chống giặc Nguyên”. Khi giải mã những hình khắc trên đá cổ Sa Pa, giáo sư có một kết luận quan trọng: “Các hình khắc trên đá ở Sa Pa, không thuộc một thời kỳ, mà có lịch sử lâu dài nhiều thế hệ, của một cộng đồng người cư trú tại đây, từ thời đại đá mới, đến thời đại đồng thau phát triển. Những hình khắc là những ký hiệu tiền văn tự và hệ thống văn tự đồ họa, ghi chép những hoạt động lớn của xã hội lúc bấy giờ. Đây là những hình ghi lại cuộc kháng chiến chống quân xâm lược”.

Cụ thể bản thứ nhất: Trước nạn ngoại xâm (hình khắc dài 3,36m, cao 2,73m), trong đó diễn tả khu vực của thủ lĩnh chiếm khu trung tâm, bên trái và phải là cánh đồng ruộng, cư dân đông đúc, nhà kho được xây dựng xa nhà để phòng cháy… Ngòai biên cương dân cư thưa, đất đai nhỏ hẹp, kẻ thù từ phương bắc tới. Quân ta đã tổ chức sẵn sàng chiến đấu, thế trận đã sẵn sàng…

Bản thứ hai: Quân thù bị đánh bại (bản khắc dài 4,35m, cao 3,54m): Tổng chỉ huy thiết lập ở phía nam dãy đồi, (đầu phát những tia hào quang), bình tĩnh suy nghĩ, thái độ cương quyết (tay chân dang rộng). Giặc từ phương bắc xuống, dọc theo phía đông dãy núi. Quân ta bất ngờ tiến công vào sườn địch, địch rối loạn. Quân ta lợi dụng đêm tối, trăng khuyết tập kích địch. Trận quyết định diễn ra tại cánh đồng đông nam. Kẻ địch thiệt hại nặng, rút chạy về hướng bắc. Quân ta đại thắng, hòa bình trở lại. Mặt trời trên cao chiếu rọi khắp nơi.

Giáo sư dự đoán: “Những bản này có niên đại thuộc văn hóa Gò Mun, khoảng đầu thiên niên kỷ 1 trước CN, thời kỳ hình thành nước Văn Lang. Gò Mun là tiền Đông Sơn, giai đoạn cực thịnh, khi đó người Việt đã từng đánh bại quân xâm lược từ phương Bắc rất mạnh. Phải chăng những bản chữ viết hình vẽ Sa Pa đã phản ánh cuộc chống ngọai xâm của Dóng (giặc Ân là tên gọi chung những kẻ xâm lược phía Bắc, trước Tần – Hán?). Chữ viết hình vẽ Sa Pa đã vượt qua giai đoạn vẽ hiện thực nguyên thủy và đã tiến tới chữ biểu ý đầu tiên. Vì vậy có thể coi là là thuộc loại hình chữ viết hình vẽ biểu ý (pictogramme)… Trên các bản khắc Sa Pa, có hình mái nhà cong như trên trống đồng Đông Sơn loại 1. Từ bản khắc Sa Pa đến trống đồng Đông Sơn là một tuyến phát triển từ thấp đến cao. Sơ đồ hình người Sa Pa tương đồng với người trên lưỡi rìu, lưỡi xéo Đông Sơn. Như vậy cũng rõ ràng có một xu hướng phát triển chữ viết hình vẽ tiến lên giai đoạn cao hơn – giai đoạn chữ viết ghi âm Đông Sơn ”.n”.n”.n”.n”.

Theo giáo sư, chỉ có một tảng đá ở Sa Pa có chữ viết. Theo yêu cầu của giáo sư, người viết bài này sẽ viết thành một bài riêng. Còn trong bài này chỉ xin được nói khái lược rằng, đó là lời dặn của Tổ tiên: Ông cha đã có công dựng nước, các thế hệ sau phải có trách nhiệm giữ gìn và xây dựng đất nước !

Công trình nghiên cứu bao năm trời của giáo sư Lê Trọng Khánh vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc khẳng định nền văn minh từng phát triển rất sớm của dân tộc ta, mà bao năm bị kẻ thù tìm mọi cách tàn sát, hủy diệt, vẫn có một sức sống mãnh liệt và trường tồn, làm nên bản sắc văn hóa đặc thù của một dân tộc mang trong mình dòng máu Lạc Hồng. Năm nay giáo sư đã 85 tuổi, nhưng khi nói về chữ Việt cổ, về nền văn minh Đông Sơn, về lịch sử hào hùng dân tộc, giáo sư như trẻ lại, ánh mắt ngời lên ngọn lửa tình yêu và trách nhiệm với cội nguồn văn hóa dân tộc.

Trần Vân Hạc

Chữ Việt Cổ - Chữ Khoa Đẩu - Chữ Hỏa Tự - YouTube

https
://www.youtube.com/watch?v=Dgt3dw8yKoU

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp