Các dòng họ

Hình ảnh

Hình 3 Hình 2 Hình 1

Họ Cao Việt Nam

​TÓM TẮT NGUỒN GỐC HỌ CAO Ở DIỄN CHÂU, NGHỆ AN

Cao Lỗ (? - 179 trước Công nguyên) (còn gọi là Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại Than). Ông là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, nguyên quán tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay (xưa gọi là trấn Kinh Bắc). Tương truyền, ông là người chế ra nỏ liên châu còn được gọi là nỏ thần (bắn được nhiều mũi tên cùng một lúc). Ông là người khuyên Thục An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô và là người được An Dương Vương giao nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy công trình xây dựng thành Cổ Loa...
Ngày cập nhật : 10/08/2015 , lượt xem : 1214

1.    Cao Lỗ (? - 179 trước Công nguyên) (còn gọi là Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại Than). Ông là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, nguyên quán tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay (xưa gọi là trấn Kinh Bắc). Sau ông định cư tại vùng Nho Lâm, tìm ra quặng mỏ, luyện sắt và trở thành tổ nghề rèn.

a.    Tương truyền, ông là người chế ra nỏ liên châu còn được gọi là nỏ thần (bắn được nhiều mũi tên cùng một lúc). Ông là người khuyên Thục An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô và là người được An Dương Vương giao nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy công trình xây dựng thành Cổ Loa. Ông là người đã can gián vua Thục đừng gả Mỵ Nương cho Trọng Thủy. Vua Thục không nghe, đuổi ông đi. Ông buồn nên đã tìm về Nho Lâm sống ẩn dật và tìm ra mỏ quặng, luyện sắt trở thành tổ nghề rèn. Khi quân của Triệu Đà đến đánh, vua Thục thua bỏ chạy. Cao Lỗ đem quân ra tiếp ứng vua Thục, nhưng đánh không lại, bị quân giặc truy lùng khắp nơi. Có giả thuyết ông đã bị tử trận khi đến cứu vua Thục. Hiện vẫn còn đền thờ tướng quân Cao Lỗ ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. 

b.    Ngày 04/9/1995, Bộ trưởng Bộ VHTT Trần Hoàn đã ký QĐ số....cấp bằng di tích LSVH cấp quốc gia cho nhà thờ họ Cao, thờ vị thủy tổ Cao Lỗ tại Diễn Thọ, Nghệ An.

Ghi chú: 

•    Xã Tùng Thanh (Nho Lâm) xưa thuộc tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, bao gồm cả xã Diễn Lộc và một số thôn xã của xã Diễn An và Diễn Tân bây giờ gồm: 11 thôn Nội Lũy và 12 giáp ngoại lũy là Thanh Kiều, Hòa Hội, Hòe Thị, Đông Bích, Nhân Thọ, Phương Đình, Tây Viên, Văn Phái, Ngô Cao, Sơn Đầu, Nội Mỹ. Ngoài lũy gồm: Xuân Trang, Nho Hội, Xuân Khánh, Nho Quan, Thương Chế, Mỹ Lý, Yên Hội, Yên Tập, Vĩnh Yên, Hội Xuân, Hội Tố và Cư Kiến (tỉnh Nghệ An). Sau nhiều lần đổi tên từ Tùng Thanh, Tùng Lâm, Hoa Lâm, Nho Lâm - nay gọi là Diễn Thọ thuộc thành phố Nghệ An.

•    Tại nhà thờ tổ Cao Đại Tôn ở Nghệ An hiện còn gần 20 Đạo sắc do các triều đại phong tặng các danh nhân, các câu đối, đồ tế khí cổ kính...Khu lăng mộ tổ họ Cao hiện ở chân núi Mã Yên đã được tu bổ, tôn tạo và xây dựng khang trang từ năm 1995.

•    Tính từ thủy tổ Cao Lỗ (?-179 TCN đến năm 2000 đã trải qua khoảng 2200 năm với 90 đời con cháu, chắt, chút. Các chi họ Cao phát triển thêm nhiều nhánh với hàng vạn nhân khẩu định cư trải dài trên nhiều địa phương khác nhau, kể cả ở Quảng Đông và Quảng Tây (TQ) v.v…Nếu xác định Cao Thiện Trí là người từ quận Bột Hải (Sơn Đông, TQ) phân lưu sang định cư ở đất Tùng Thanh xưa (Nghệ An, VN). Cao Thiện Trí có vợ tên là Khổng Thị Tám (người Lỗ Quận, thuộc Sơn Đông, TQ). Thời gian ông bà này sang VN là vào khoảng những năm 1380-1400, lúc đó ở TQ, Nhà Minh đang thôn tình nhà Nguyên, sau đó nhà Minh đưa quân sang VN tiêu diệt nhà Hồ (1419). Có thể Cao Thiện Trí (người ở quận Bột Hải) và Khổng Thị Tám (người ở Lỗ quận - thuộc Sơn Đông, TQ. [Sơn Đông bao gồm 2 nước Tề & Lỗ, là nơi có bờ biển dài trên 3.000km2], Ông bà Non có thể vì lý do nào đó đã phân lưu theo đường biển từ vùng biển xứ Bột Hải đến vùng đất Tùng Thanh, “chiêu cơ” dựng nghiệp và trở thành tổ thứ nhất của dòng họ Cao ở Nghệ An. Tuy nhiên sau 1600 năm, không có căn cứ nào để chúng minh rằng Cao Thiện Trí là hậu duệ thuộc dòng trưởng của tướng quân Cao Lỗ (?-179TCN)?

 

Image result for tượng Cao Lỗ
Tượng đài tướng quân Cao Lỗ
Trong Khu nhà thờ tổ họ Cao ở Nghệ An

Image result for tượng Cao Lỗ
Đền thờ tướng quân Cao Lỗ tại Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội


2.    Đôi câu đối tại đền thờ THÁNH SƯ NGHỀ RÈN ở xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, Nam Định:

•    “Cao Sơn xuất thế tự Nho Lâm – Hộ quốc giáo dân thiên cổ tại. 
•    Lô hóa công ân cư Thiên Bản – Văn chương ngọc phố vạn niên tồn”

3.    Cao Thiện Trí giai sỹ từ quận Bột Hải phân lưu đến dựng nghiệp “chiêu cơ” ở vùng đất Tùng Thanh (sau đổi là Tùng Lâm, Hoa Lâm, Nho Lâm. Nay là Diễn Thọ, Nghệ An) vào cuối đời nhà Trần, khoảng từ năm 1380-1400 [nhà Hồ 1400-1407 sau đó nhà Minh sang xâm lược VN…Trương Phụ, Mộc Thạnh biết là Quí Ly chạy vào Nghệ-An, bèn đem binh đi đường bộ đuổi theo, lại sai Liễu Thăng 柳 升 đem thủy-sư đi đuổi mặt thủy. Quí Ly vào đến cửa Kỳ-la (thuộc huyện Kỳ-anh, Hà-tĩnh) bị quân nhà Minh bắt được. Hán Thương và những con cháu họ Hồ đều bị giặc bắt được cả ở núi Cao-vọng. Những quan nhà Hồ, người thì ra hàng, người thì bị bắt, người thì không chịu nhục nhảy xuống sông tự-tử.]. Ông Cao Thiện Trí vốn là dòng trưởng, cháu xa đời của tướng quân Cao Lỗ. 

•    Cao Thiện Trí (vợ là Khổng Thị Tám) tục gọi là ông bà Non. 2 ông bà sinh được 04 trai và 04 gái, gồm:

a/- 04 trai là: 

+ Ông Cao Thị (con trưởng)
+ Ông Cao Ma Lâm (con thứ)
+ Ông Cao Đức (con thứ ba), lập nghiệp ở Ước Lễ, Hưng Thái, Hưng Nguyên, tương truyền ông Đức có 02 con trai là Cao Thông và Cao Tôn. 
+ Cao Đạo (con thứ tư). Ông Cao Đạo sinh ra Cao Nhân Đôn và một người con cả nữa đang thất truyền, rất có thể đó là Cao Hoành Hải (1), tổ phụ thứ nhất của dòng họ Cao Bá Quát ở Phú Thị, Gia lâm, Hà Nội.

b/- 04 gái là:

+ Cao Thị Tứ
+ Cao Thị Khánh
+ Cao Thị Hiền
+ Cao Thị Đình


4.    Cao Như Nhật đỗ Phó Bảng khoa Đinh Mão (1627), là ông nội của Cao Bá Tuyên và Cao Bá Khối, hai anh em đỗ Xuân thí Tam trường, khoa Ất Hợi (1695). Cao Bá Tuyên không ra làm quan, từ 1721-1730, ông ở nhà viết gia phả đầu tiên cho dòng họ Cao ở Nghệ An. Bá Khối làm quan: nội điện văn chức.

5.    Cao Như Song, Cao Như Tĩnh trong gia phả ghi là khoảng năm 1750, 2 ông đi lập nghiệp ở Hải Dương, Hưng Yên

6.    Khi Nguyễn Công Trứ đi làm tổng đốc ở Thái Bình, con cháu họ Cao theo ông đi khá nhiều và lập nghiệp ở Kiến Xương, Vũ Thư, Hưng Hà…

7.    Ở Tiên Du, Bắc Ninh, ông tổ họ Cao vốn từ Vũ Thư Thái Bình đến, vì nghèo đói và là dân ngụ cư nên hào lý không cho ở trong làng, phải ở ngoài bãi, ông trồng chuối rất nhiều nên đặt tên là xóm Chuối, làng Chuối, nay con cháu rất thành đạt. Tên thôn là Văn Trung, xã Tân Chi, huyện Tiên du, Bắc Ninh. Xã Tự Tân-Vũ Thư là quê hương của cựu thống đốc ngân hàng Cao Sĩ Kiêm.

8.    Mới tìm thấy bia đá ghi công của Cao Tiến Đức đã có công phò tá Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên (1288) ở xã Lâm Động, Thủy Nguyên.

9.    Ở làng Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc có một chi họ Cao rất đông thờ ông Cao Đạo, nhưng chưa có dịp đến thăm.

10.    Cao Đình Độ (Giáp Dần 1744 – Canh Ngọ 1810) cùng con là cao Đình Hương (Quý Tỵ 1733 – Tân Tỵ 1821) lập nên nghề kim hoàn, được mời vào làm việc trong hoàng cung, được ban mũ áo và phong tiến sĩ, lịch sử ghi ông là tổ nghề kim hoàn (làng Kế Môn). [xem bài nói về tổ nghề kim hoàn]

11.    Cao Cử từng làm giám sát ngự sử quan dười triều vua Lê Thần Tông (1646).

12.    Cao Phúc Trọng là con trai thứ hai Cao Thủy, em của Cao Phúc Tâm và anh Cao Đạo An, lập nghiệp ở Quỳnh Lưu.

13.    Cao Đăng Cồn Cả (Nghĩa Thuận, Nghĩa Đàn là từ trung tôn Cao Đăng lên đó lập nghiệp).

14.    Thủy tổ Cao Văn ở Châu Bình vốn di cư từ Diễn Châu lên lập nghiệp, khi tìm vế nơi cũ thì người anh giàu có không muốn nhận, nên vế sau cũng không trở lại.

15.    Gia phả  kể lại: 3 anh em họ Cao từ tổng Phúc Hoàn lên lập nghiệp ở 3 nơi là Lam Sơn, Lĩnh Sơn và Minh Thành, song gia phả những nơi này không nói tới. Theo ông Cao Tiến Cương thì trong 3 người này có 1 người lập nghiệp ở Quảng Xương, Thanh Hóa và là  em ông Cao Tiến Bút.

16.    Các sắc phong do đã góp công đại phá quân Thanh; thời Quang Trung Nguyễn Huệ, thời Minh Mệnh…và đại tự vẫn còn ở nhà thờ họ Cao Bạch Ngọc (chi họ này có 50 % đỗ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, phó GS).

17.    Làng Phú Trung nay thuộc Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An là nơi có nguồn gốc xuất xứ của một số chi họ Cao ở Thanh Chương, Nghệ An.

18.    Cao Như Cương thuộc trung tôn Cao Trọng, về sau con cháu có người lập nghiệp ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

19.    Vùng đất lập nghiệp của họ Cao ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh gần kề với gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền, như Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ.

20.    Huyện Minh Hóa và Hưng Hóa (Quảng Bình) là 2 nơi có nhiều họ Cao, nhưng chưa có dịp tìm hiểu.

21.    Ở Mỹ có rất nhiều con cháu họ Cao (Con cháu dòng họ Cao Xuân Dục). Hội đồng gia tộc bầu bổ xung TS Cao Hoàng Hậu để liên lạc vời kiều bào ở Mỹ và Châu Âu.

22.    Hai cha con ông Cao Trọng Dương và Cao Hoàng Quán đều đậu Hương Cống và làm quan ở các tỉnh Phú Yên, Quảng Ngãi (năm Vĩnh Khánh 1729 được phong chức Tri Phú Quảng Ngãi), Khánh Hòa vào thời vua Lê Hiển Tông (1721 và 1737). 

23.    Cao Quýnh đậu thám hoa triều Lê, năm Hồng Đức thứ 6 (1475) là một trong số ít người biên soạn bộ luật Hồng Đức.

24.    Ở xã Diễn Hoa có nhiều chi họ Cao, nhưng chưa chắp nối được, còn gia phả Đại Tôn thì ghi rõ: Cao Đạo là con trai thứ tư của Cao Thiện Trí, ông  Cao Đạo sinh ra Cao Nhân Đôn và một người con cả nữa đang thất truyền, rất có thể đó là Cao Hoành Hải ở Phú Thị, Gia lâm, Hà Nội.

25.    Cao Cự Hòa là con trai cụ Cao Cự Hán, có công dẹp giặc cướp, được vua ban sắc TRUNG ÚY KIM THỌ HẦU và PHẤN LỰC TƯỚNG CÔNG.

26.    Ngày giỗ Cao Đại Tôn là mồng 10 tháng 2 (đã có từ trăm năm nay).

27.    Năm 1995 đền thờ Cao Lỗ được cấp bằng DTLSVH. Chính quyền địa phương và HĐGT đã tổ chức lễ nhận bằng vào ngày 29/9, đã có hàng ngàn con cháu và quý đại biểu về tham dự.
 

Thống kê các giai đoạn viết gia phả, gia phổ, thế phổ của họ Cao ở Nghệ An:

•    Năm Canh Tuất 1730, niên hiệu Lê Vĩnh Khánh thứ 2, cháu xa đời Nho sinh trung thức Xuân thí Tam trường, Lý tẩu Cao Bá Tuyên viết tựa GIA PHỔ HỌ CAO. (Cao Bá Tuyên & Cao Bá Khối là 2 anh em cùng đỗ Sinh Đồ năm 1717. Cao Bá Tuyên đỗ Hương Cống năm Kỷ Mão 1723, trúng Tam trường Phó Bảng năm Đinh Mùi 1727. Ông Cao Bá Tuyên biên tập gia phổ họ Cao từ 1721-1730.

•    Năm Quý Tỵ 1833, niên hiệu Minh Mệnh thứ 14, cháu xa đời là Tú Tài Hoẳng Phố Cao Trọng Cự viết tựa TÂN SAN CAO TRỌNG CHI PHỔ.

•    Năm Thiệu Trị thứ 5, cháu xa đời, cử nhân Tri huyện Hoành Bồ là Tiềm thử Cao Đăng Ngoạn viết CAO ĐĂNG CHI TỰA PHỔ KÝ.

•    Năm Bảo Đại thứ 11, Bính Tý 1936, cháu xa đời là Cao Như Phụ phụng biên viết TỰA GIA PHỔ CHI HỌ CAO NHƯ.

TỰA PHỔ KÝ CHI HỌ CAO TIẾN.

•    Tự Đức năm thứ 22, các cháu xa đời họ Cao Văn là: Cao Văn Tháo, Cao văn trinh, Cao văn Huỳnh, Cao Văn Tĩnh, Cao Văn Mỹ, Cao Văn Tụ cùng nhau viết TỰA PHỔ KÝ CHI HỌ CAO VĂN.


Ghi chú:

Tổng hợp thông tin từ bản GIA PHỔ TỰ (gồm 199 Trang) do ông Cao Đức Thành cung cấp. Ông Thành hiện là Phó Chủ Tịch Hội Đồng Gia Tộc họ Cao. Địa chỉ liên lạc: xóm 6 Tây, Diễn Thọ, Diễn Châu, Nghệ An. Điện thoại: 0383 867 063 / 0973 879 158

 

Nguồn tin tổng hợp và ảnh: cbn@caobaquat.com.vn

Bài cùng chủ đề

ĐỀN THỜ CAO LỖ VƯƠNG & LỄ HỘI VÙNG ĐẠI THAN

ĐỀN THỜ CAO LỖ VƯƠNG & LỄ HỘI VÙNG ĐẠI THAN

Ngôi đền thờ Cao Lỗ Vương cổ kính linh thiêng nằm trên bãi bồi, bao quanh là sông nước mêng mang, cây cối xanh tốt, thuộc thôn Đại Trung (tên nôm làng Lớ), xã Cao Đức, huyện Gia Bình, là nơi ghi dấu, t ...

TÍNH TỪ THỦY TỔ CAO LỖ (?-179 TCN)

TÍNH TỪ THỦY TỔ CAO LỖ (?-179 TCN)

Tính từ thủy tổ Cao Lỗ (?-179 TCN) đến nay, họ Cao đã trải qua 2300 năm với trên 90 đời con cháu, chắt, chút. Hiện nay, các chi họ Cao đã phát triển thêm nhiều cành, nhánh với hàng vạn nhân khẩu định c ...

​VỀ CUỐN GIA PHẢ DÒNG HỌ CAO Ở PHÚ THỊ, GIA LÂM, HÀ NỘI

​VỀ CUỐN GIA PHẢ DÒNG HỌ CAO Ở PHÚ THỊ, GIA LÂM, HÀ NỘI

Cuốn gia phả này, được cụ Cao Đức Bảo viết lần đầu – Ông là tổ đầu tiên của họ CAO từ nơi khác đến lập nghiệp ở Phú Thị. Lần thứ hai, do Cao Huy Dật (đời thứ 12) chép lại phả cũ, ghi bổ sung và viết tự ...