Văn hóa & Nghệ thuật

Hình ảnh

Hình 3 Hình 2 Hình 1

Mỹ thuật

HỌA SĨ PHAN KẾ AN

Tư liệu về Hoạ Sĩ Phan Kế An do tôi sưu tầm từ năm 1997, khi làm đĩa Demo Mỹ Thuật VN, thế kỷ XX
Ngày cập nhật : 10/08/2015 , lượt xem : 743
Phan Kế An (Phan Kích: 1923)
Chỗ ở hiện nay: 72 Thợ Nhuộm, Hà Nội.
Điện thoại: (04) 9424 195
Nơi sinh: Hà Tây
Học tại trường:
  • Khoá dự bị 3 năm, Trường Mỹ thuật Đông Dương (1942-1944)
  • Chính khoá 2 năm, Trường Mỹ thuật Đông Dương (1945 – 1946)
Một số tác phẩm chính:
  • Nhớ một chiều Tây Bắc – Sơn mài (70cm x 112cm) – 1955 (BTMTVN)
  • Gặt ở Việt Bắc – Sơn mài (49,8cm x 64,8cm) – 1955 (BTMTVN)
  • Gác chuông chùa Trăm gian – Sơn mài (60cm x 100cm) – 1958. Hiện vẫn được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Érmitage (Saint Pétersbourg – Liên xô cũ)
  • Mục Nam Quan – Sơn mài (120cm x 160cm) – 1958. Hiện được lưu giữ ở Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh (Trung Quốc) và một phiên bản được lưu giữ tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
  • Bụi nứa miền xuôi – Sơn mài (76cm x100cm) – 1960. Được lưu giữ tại Bảo tàng Phương Đông (Liên xô cũ)
  • Những đồi cọ - Sơn mài (120cm x 240cm) – 1965. Giải thưởng Nhà nước, năm 2001
  • Chân dung Bác Hồ - Khắc gỗ (30cm x 40cm) – 1970. Giải thưởng Nhà nước, năm 2001
  • Hà Nội cuối tháng 12/1972 – Bột màu (100cm x 150cm) – 1973
  • Lưới trên sông Hàn – Lụa (60cm x 90cm) -1981
  • Cánh đồng Bản Bắc – Sơn dầu (90cm x 120cm) – 1998. Giải thưởng Nhà nước, năm 2001
  • Du kích trên ngọn Khao Luông – Sơn mài (70cm x 110cm) – 1955 Hiện
được lưu giữ ở Bảo tàng Cố Cung Bắc Kinh (Trung Quốc – số 8)
  • Ký họa ngoại thành Hà Nội – Thuốc nước (30cm x 40cm) – 12/1946
(BTMTVN – số 9)
Giải thưởng:
  • Giải Ba, Triển Lãm Mỹ Thuật toàn quốc, các năm 1946; 1958; 1985.
  • Giải Nhất, Triển Lãm Mỹ Thuật toàn quốc: Ở Chiêm Hoá-Việt Bắc (năm 1951); Ở Hà Nội (năm 1955 và 1960).
  • Huân chương lao động hạng Ba (1988).
  • Huân chương kháng chiến hạng Nhất (1985).
  • Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật (2001)
 
Tham khảo:
  • 1954-1957: Uỷ viên Ban mỹ thuật Trung ương, Phó ban chuẩn bị thành lập Hội Mỹ Thuật Việt Nam, tại Hà Nội.
  • 1957-1978: Uỷ viên Ban Chấp hành, Phó Tổng thư ký Hội Mỹ Thuật Việt Nam
  • 1978-1983: Uỷ viên Ban Chấp hành, Hội Nghệ Sĩ Tạo Hình Việt Nam
  • 1983-1989: Uỷ viên Ban Chấp hành, Hội Mỹ thuật Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật, ngành đồ hoạ.
  • 1994-1999: Uỷ viên Hội đồng nghệ thuật, ngành đồ hoạ.                        
  • 1999-2005: Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, khoá V và VI. Trưởng Ban mỹ thuật, thuộc Hội đồng biên tập Từ Điển Bách Khoa Việt Nam.
  • 1957-2005: có hơn 200 bài viết đăng trên các báo chuyên ngành và các báo ở thủ đô Hà Nội. Sáng tác trên một ngàn tác phẩm, đủ các thể loại (chưa kể rất nhiều tranh ký hoạ và biếm hoạ…)
  • Hoạ sĩ Phan Kế An được ghi tên trong Từ Điển Bách Khoa của Liên xô và Công Hoà Dân Chủ Đức (cũ).
 
Tư liệu khác do tác giả cung cấp:
Vidéo: Xem trích đoạn
  1. Chân dung hoạ sĩ Phan Kế An (Xưởng phim QĐND thực hiện)
  2. Chân dung hoạ sĩ Phan Kích (Đài truyền hình Hà Nội thực hiện)
  3. Ngang dọc thời gian – Phan Kế An (băng vidéo)
  4. Những sắc màu vĩnh cửu – hoạ sĩ Phan Kế An (băng vidéo)
Tác phẩm khác:
  1. Hoa Phượng – Sơn dầu (90cm x 120cm) – 1999 (số 1)
  2. Vườn mai –  Sơn dầu (60cm X 80cm) – 1970 (BTMTVN – số 2)
  3. Đồi cọ Trung du – Sơn dầu (60cm x 90cm) – 1997 (số 3)
  4. Cành bàng – Lụa (50cm x 90cm) – 1978 (số 4)
    1. Khoai sọ ven ao – Sơn dầu ( 90cm x 120cm) – 1999 (số 5)
    2. Bụt trong đêm ở Hà Nội – Màu tổng hợp (90cm x 120cm) – 2003 (số 6)
    3. Bảo vệ cầu Hàm Rồng – Sơn mài (70cm x 100cm) – 1966
    4. Những chiến sĩ biên phòng – Lụa (50cm x 60cm) -1981
    5. Hoa phượng – Sơn dầu (60cm x 120cm) – 1995
    6. Đồi cọ Bản Bắc – Sơn dầu (90cm x 120cm) – 1998
    7. Đồi cọ Điềm Mặc – Sơn dầu (60cm x 90cm) – 1998
    8. Một góc phố cổ Hội An – Màu nước (40cm x 60cm) – 1981 (số 7)
    9. Những cây Bạch Dương – Mực nho (45cm x 60cm) – 1961 (số 10)
    10. Một số tranh biếm hoạ chính trị, đăng trên báo SỰ THẬT (1949-1950)
          GC: Kết nốiXem ảnh
  1. Một số tranh ký hoạ. GC: Kết nối  - Xem ảnh
  2. Chân dung hoạ sĩ Phan Kế An (bài viết của: Trung Sơn, Báo Nghệ Sĩ, số tháng 6/1996)
  3. Phan Kế An, a Gifted Painter (bài viết của: Bằng Việt, Báo New Vietnam, số 51-1997)
  4. Lưu bút của nhà thơ Vũ Hoàng Chương, viết tặng ngày 12/10/1975
  5. Thoả mãn nhu cầu văn hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật
    (bài viết của Phan Kế An, NXBVH- HN 1987)
  6. Nhớ một chiều Tây Bắc (bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh, báo Nhân Dân số 15, ngày 12/4/1998)
  7. Người con vùng thơ-hoạ Đường Lâm (bài viết của Văn Long, báo Thế giới mới, số…?)
  8. Bài thơ MẾN TẶNG HOÃ SĨ PHAN KẾ AN của Thành Vĩnh, viết ngày 19/01/1983
  9. Hoạ sĩ Phan Kế An (bài viết của PGS.Nguyễn Trân, báo VĂN HOÁ số ra ngày 20/8/1995)
  10. Tôi vẽ NHỚ MỘT CHIỀU TÂY BẮC (bài viết của Phan Kế An, báo DĐVN số tháng 10/1999)
  11. Danh hoạ Nguyễn Gia Trí (bài viết của Phan Kế An, báo DĐVN số tháng 01/1999)
  12. Vấn đề lỗ lãi trong nghệ thuật tạo hình (bài viết của Phan Kế An, ngày 04/12/1985)
  13. Tôi đi vẽ chân dung Bác Hồ ở Việt Bắc (bài viết của Phan Kế An, tạp chí Xưa và Nay, số 64 tháng 6/1999)
  14. Hoạ sĩ Phan Kế An, người nổi tiếng vẽ chân dung mọi lớp người (bài viết của Lê Việt, báo Khuyến học và dân chí, số 18 ngày 01/5/2003)
  15. Tô Ngọc Vân, con đường hoá thân của một nghệ sĩ lớn (bài viết của Phan Kế An, báo Độc Lập ngày 06/8/1986)
  16. Nghĩ về Tô Ngọc Vân qua lời kể của bản thân hoạ sĩ (bài viết của Phan Kế An, Tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 11/1986)
  17. Sinh viên trường MTĐD trước và sau CMT8 (bài viết của Phan Kế An, tạp chí Xưa và Nay, số 241, tháng 8/2005)
 
Ba thầy dạy vẽ của tôi
 
Vào học nǎm thứ nhất trường Bưởi, chúng tôi được thầy Nguyễn Thụy Hùng, giáo sư hóa và vật lý kiêm nhiệm dậy môn vẽ vài tháng vì thiếu thầy. Một hôm, ông Tổng giám thị De Rozario đến lớp cùng với bà người Việt. Ông giới thiệu với học trò đây là nhà giáo mới, bà Lê Thị Lựu, một nữ hoạ sĩ nổi tiếng, từ nay giáo sư dậy vẽ chính thức của trường. Chúng tôi ai nấy đều ngẩn người ra vì bà còn trẻ và đẹp quá, lại dịu dàng, lịch sự. Chúng tôi tuy còn ít tuổi nhưng đã nghe danh bà từ khi bà tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đã được xem một số tranh của bà trong các triển lãm và trên báo chí.
 
Tôi vốn đã vẽ khá từ trường tiểu học Hàng Than, rất thích môn này, nay được học một học sĩ thực thụ thì còn gì sung sướng cho bằng. Trong chương trình học chỉ có một giờ học vẽ mỗi tuần, nên cả tuần lễ cứ nóng ruột mong cho sớm đến ngày này. Trong lớp, bà đi đến từng học sinh, chỉ dẫn cặn kẽ cho mỗi người. Chỉ một thời gian, bà đã nhận ra ưu điểm và nhược điểm của từng học sinh, ai chǎm, ai lười bà đều nhẹ nhàng động viên, khuyên nhủ. Tôi nhớ nhất khi tôi lúng túng vẽ một cái lọ sứ, bóng tối và ánh sáng cứ lan sang nhau, mờ mờ, nhoè nhoè, khó phân biệt danh giới. Bà nói với tôi: “Bóng cũng có từng miếng, anh phải có nhìn cho ra từng miếng bóng, so sánh độ đậm nhạt của mỗi miếng, có thế mới tả được đúng khối và chất liệu của vật vẽ”. Chỉ một câu ấy mà tôi gỡ ra bao nhiêu điều. Tôi cùng một vài bạn tiến bộ khá nhanh, vừa vì chǎm, vừa vì được bà chú ý khuyến khích, dạy bảo. Thầy trò đang mến nhau thì đã hết nǎm học. ít lâu sau đó, bà cùng gia đình sang Pháp. Mãi nhiều nǎm sau, khi đã ngoài sáu mươi tuổi, đã rất nổi tiếng ở Pháp, bà mới về thǎm quê hương. Tôi có dịp được đến gặp bà, kể chuyện thầy trò trường Bưởi nǎm xưa, bà vẫn không quên mấy trò vẽ khá mà bà chú ý.
 
Nǎm học sau, chúng tôi lại được một hạnh phúc lớn: Hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đến dạy vẽ thay cô Lê Thị Lựu. Thầy Vân người nhỏ bé, da ngǎm đen, đến lớp thì nghiêm khắc. Ai lười thì liệu hồn, thầy cảnh cáo ngay, ai chǎm, thầy tận tình chỉ bảo kỹ càng, ngồi vào ghế của trò trước giá vẽ, dạy cho từng cách cầm bút chì, cách bố cục hình vẽ trên giấy, cách lấy tỷ lệ, cách nhìn ánh sáng, có lúc lại vẽ thử lên cạnh giấy để chúng tôi hiểu rõ phương pháp, nhất là cách nhìn toàn thể, sau mới đi vào chi tiết. Tôi mải mê nuốt từng lời. Nhiều bạn tronglớp coi môn vẽ là môn học phụ không quan trọng lắm thường vẽ lấy lệ, nhưng riêng tôi và vài bạn lại quá quan tâm nên tiến độ rất nhanh. Thầy khuyến khích chúng tôi ngay cả việc nhìn cho ra màu sắc theo cách cảm nhận riêng của mình, dù là vẽ chì đen trắng cũng cố nhìn cho ra màu, điều đó thật khó với chúng tôi, nhưng qua nhiều buổi học, qua nhiều câu chuyện rộng ra về hội hoạ chúng tôi cũng bắt đầu lõm bõm hiểu dần ra. Thầy còn dạy chúng tôi vẽ trang trí bằng màu bột và đây là lĩnh vực mà tôi bắt đầu lĩnh hội được cách nhìn tinh tế của thầy về màu sắc. Thầy khuyên chúng tôi nên đem hết trí tưởng tượng ra để nghĩ, để chọn hình và màu, không nên câu nệ, gò bó. Mới học cao đẳng tiểu học mà được một học sĩ nổi tiếng như thầy Lê Ngọc Vân dậy vẽ thật là một hạnh ngộ. Sau này vào học trường Cao Đẳng mỹ thuật Đông Dương, tôi còn được gặp lại và học thầy nữa, chuyện này tôi sẽ kể sau. Lên nǎm thứ ba, một hoạ sĩ cũng rất nổi tiếng, hoạ sĩ Nguyễn Tường Lân đến dạy chúng tôi thay thầy Vân. Thầy Lân người cao, gầy, nhanh nhẹn, rất dễ dãi, thân mật với học trò. Chúng tôi cũng hay đùa nghịch và hỏi nhiều chuyện ngoài lề với thầy, bao giờ thầy cũng trả lời không nề hà, nhưng lại khéo lái về chuyện vẽ, chuyện nên biết nhìn thấy cái đẹp ở xung quanh ta, đừng nên bỏ phí. Khi vẽ, tôi vốn thích nhấn mạnh đen trắng bằng trì than, thầy khuyên tôi nên giữ cách vẽ ấy, và mạnh bạo hơn nữa, mãnh liệt hơn nữa, chớ có rụt rè, nhưng đồng thời thầy lại chỉ dẫn cho sự chuyển sắc độ sao cho hợp lý, sao cho tế nhị, có duyên. Cái duyên, khó quá, nhưng sự nhiệt tình chỉ dẫn của thầy cứ ngày một thấm dần vào bộ óc non trẻ của tôi. Có giờ học thầy dẫn cả lớp vào vườn Bách Thảo gần trường, chỉ cho những dáng cây đẹp, những khóm cây đẹp, những vùng nước đẹp, những mái nhà đẹp, những người ở giữa cảnh trí sao mà thích thú làm vậy. Có mấy lá cây rụng thầy cũng nói lên bao vẻ đẹp của chúng. Thầy thường ra bài trang trí cho cả lớp, trọn những bài thầy cho điểm cao đưa ra bình giữa lớp, có lúc được 19/20 điểm rồi để trưng bầy cho cả trường xem. Một số bạn, tôi và em tôi hay được chọn bài để trưng bầy. Có lần thầy đem một số tranh treo trong hành lang nhà “Đấu xảo” (nay là Cung vǎn hoá Hữu Nghị) cho công chúng xem. Một số bạn chǎm học và vẽ khá thường được thầy đưa về xưởng vẽ của thầy ở đê Hoàng Hoa Thám để xem tranh và thầy lại kể cho nghe các chuyện về hội hoạ. Thầy còn vẽ bìa mầu cho tập bài hát của trường bưởi. Thầy là một hoạ sĩ có tài, nhưng mất sớm nên số tác phẩm còn lại trong nước không nhiều.
 
Trong ba thầy dậy vẽ của tôi ở trường Bưởi, sau này khi tôi vào học dự bị, rồi chính khoá ở trường Cao Đẳng mỹ thuật Đông Dương, tôi gặp lại thầy Tô Ngọc Vân là giáo sư dậy tôi. Đến đây là đến với người thầy cũ, nhưng là người thầy đào tạo ra ba thế hệ hoạ sĩ, một người thầy tài nǎng xuất chúng, có phương pháp sư phạm độc đáo, biết tìm ra phong cách riêng, cái mạnh riêng của từng sinh viên mà hương dẫn, khuyến khích, không để cho mai một cá tính độc đáo của nhiều người. Tác phẩm sơn dầu của thầy Tô Ngọc Vân đã từng nổi lên là những kiệt tác, trong nước và Quốc tế đều hâm mộ. Ngoài sáng tác, suốt đời thầy vẫn là nhà sư phạm mỹ thuật tận tuỵ với sự nghiệp đào tào, tác giả của rất nhiều bài viết xuất sắc, của nhiều tranh minh hoạ và biếm hoạ trên báo trí. Riêng tôi có hạnh phúc được gần gũi, gắn bó với thầy cô nhiều thời gian. Sau đảo chính Nhật 9-3-1945, trường Cao Đẳng mỹ thuật Đông Dương chuyển thành trường Mỹ thuật Việt Nam, sinh viên chúng tôi hoạt động chống nhật, thầy biết cả, nhưng thầy vẫn đến trường dạy học, dù rằng khi đó phát xít Nhật khủng bố dữ dội nhiều thầy khác đã không đến trường, thầy còn tham gia vẽ tranh cổ động cổ vũ lòng yêu nước cùng với sinh viên. Cách mạng tháng Tám thành công, thầy đã được Bộ đại học cử làm hiệu trưởng trường Mỹ thuật Việt Nam và sinh viên lại tiếp tục đi học. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, thầy và gia đình tản cư về quê ngoại, tôi tìm ra địa chỉ, sau khi được tổ chức đồng ý, tôi đã vượt sông Hồng trong hoàn cảnh quân Pháp đang sắp tiến công đường số 1, đến gặp thầy và mời thầy đi tham gia kháng chiến. Thầy đã khảng khái nhận lời, đem cả gia đình đi, công tác ở tuyên truyền xung phong, sau được cử làm trưởng Đoàn vǎn hoá kháng chiến, rồi thầy đứng ra thành lập trường Mỹ thuật Kháng chiến do thầy làm hiệu trưởng. Thầy thường vừa dạy học vừa dẫn học sinh đi chiến dịch và tham gia các công tác cách mạng khác. Khi trường Mỹ thuật Kháng chiến và Ban mỹ thuật Trung ương đóng cùng một nơi ở Việt Bắc, hợp thành một tổ chức, tôi được cùng với thầy ở trong Ban lãnh đạo chung với một đồng chí khác như các hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung, Trần Vǎn Cẩn, các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp…Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thầy Tô Ngọc Hân đã hy sinh vì bom của quân Pháp nǎm 48 tuổi, đây là một mất mát không gì bù đắp được của tất cả chúng ta.
 
Thầy Tô Ngọc Hân, người thầy dậy vẽ trường Bưởi, người thầy của Trường mỹ thuật Đông Dương, người thầy của Trường mỹ thuật Việt Nam, nhà hoạ sĩ kiệt suất, nhà yêu nước tận tuỵ, trong sáng tính tình cương trực, là một tấm gương sáng để cho chúng ta cùng soi.
Hoạ sĩ Phan Kế An
 

 

Bài cùng chủ đề

TÁC GIẢ MỸ THUẬT VIỆT NAM THẾ KỶ XX

TÁC GIẢ MỸ THUẬT VIỆT NAM THẾ KỶ XX

Danh sách các tác giả mỹ thuật Việt Nam, thế kỷ XX. Đây là tư liệu do tôi cập nhật từ năm 1997 để làm Demo chương trình :"Mỹ thuật VN thế kỷ XX".